Pages

Powered By Blogger

Friday, July 23, 2021

HỒI KÝ VƯỢT BIÊN

BÀI 9: ĐÓI KHÁT TUYỆT VỌNG TRONG RỪNG U MINH

Bài và hình: TRINH HAO TAM

Niên trở lại cho biết sao lạ quá không thấy ai hết? Tôi hỏi lúc nãy nhìn có thấy rõ không? Niên xác nhận thấy một người đàn ông trong chòi cây, chắc sợ khi thấy đông người đó bỏ trốn? Chuyện này đến giờ thoát đi được tôi cũng không biết thực hư như thế nào? Cũng như chuyện Niên dẫn đi quanh co trong rừng suốt đêm với ý đồ để chúng tôi kiệt sức đi không nỗi mà bỏ vàng, đô la lại hay là vì Niên không biết hướng ra biển? Trên đời có những điều mình không sao biết được?

Đi thêm nửa giờ nữa chúng tôi đến một vùng ngập nước nhưng có cây to và vài cây khô mục ngã nằm trên mặt nước nên có thể mắc võng hoặc nằm trên thân cây ngã để nghỉ ngơi, ít ra được khô ráo, người không nằm dưới nước. Việc đầu tiên là nhờ Niên đi ngược lại xem bà Nội và Chu, Tổ thế nào? Vì đã bỏ 3 người quá xa từ lúc lội qua cánh đồng năng. Ở cánh đồng năng (một loại cỏ lát cao và rậm rạp) thì tương đối dễ lội không gặp sình lầy và có thể đạp lên cỏ năng mà đi. Chúng tôi mắc võng cho mấy đứa nhỏ nằm và móc bịt gạo xấy ra phân phát. Mấy đứa con tôi đưa tay ra run run xin cho con một miếng và mấy đứa con nít khác cũng vậy! Nước thì không ai có hết, di chuyển gấp rút đêm qua nên không ai kịp đem theo nước uống! Vợ ông Lê Xâu đưa cho tôi một miếng mứt chanh ngậm cho đỡ khát. Con nít mỗi đứa một miếng gạo xấy khô khan nhưng vì đói quá nên nước miếng tiết ra nuốt cũng dễ dàng và coi có vẽ ngon lắm! Thằng con 2 tuổi tôi khóc đòi trở về nhà đi học lại và muốn ba dẫn đi ăn cơm tấm bì chả! Tình cảnh lúc đó khiến tôi đau lòng, tâm trạng tan nát, vì đâu mà bọn tôi phải lâm vào hoàn cảnh này?

Niên quả là dẽo dai thật, độ nửa giờ sau thì anh ta cõng bà Nội tới, Chu và Tổ tuy thanh niên nhưng mệt nhọc lê lết phía sau. Niên nói nhóm chúng tôi cứ dừng lại nghỉ mệt và ẩn trốn nơi đám cây cao này, để anh ta đi ra biển một mình nghe ngóng tình hình. Đông người ra bờ biển trống trải sợ lộ vì các ghe tàu qua lại sẽ nhìn thấy.

Niên đi rồi tôi kêu hai thằng cháu ruột gọi tôi bằng cậu trèo lên một cây lớn quan sát tình hình và xem có thấy biển không? Nó nói thấy nhưng khá xa! Vết rắn cắn thì không thấy nhức nhối gì, tôi biết là không sao vì rắn dưới nước thường không độc. Tôi lên cháng ba cây ngủ một giấc say vì qúa mệt lã, đêm qua không ngủ, lội rừng sình lầy suốt đêm và không ăn , không uống!

Tôi thức giấc vừa lúc Niên trở lại cho hay bờ biển cách độ 500 thước, thấy ghe Cá Mập mình đậu mút ngoài xa. Kêu tụi trên ghe nhưng không sao nghe được vì qúa xa và nhìn cũng không thấy được người trên ghe. Chúng tôi mừng quá vì Cá Mập đã đem ra được nhưng còn ngỗn ngang nhiều điều như có dầu, lương thực và nước uống chưa? Làm sao lội ra ghe cho khỏi bị phát hiện? Tôi biết một điều là phải lội ra ghe vào ban đêm để các ghe tàu, dân lưới cá, người đi làm củi không thấy.

Hỏi anh ta là biết vị trí bờ biển đó hay chưa, Niên nói xác định được vì nhìn thấy Hòn Đá Bạc nằm ở phía trên hướng Bắc cách vài cây số. Điều này khá quan trọng để Niên trở về thông báo vị trí Cá Mập cho ông Hai biết để ra đúng nơi mà bốc người lên ghe. Niên nghỉ ngơi một chốc, ăn nắm cơm xấy còn lại mà tôi để dành cho anh ta rồi tất tả lội rừng trở về làng Ông Đốc. Tôi dặn anh ta chiều nay khi trở ra nhớ mang nước và thức ăn vì bọn tôi đã đói khát. Bọn tôi sẽ tự di chuyển ra hướng bờ biển sau khi nghỉ ngơi lấy lại sức.

Niên đi rồi vì nôn nóng thấy Cá Mập nên bọn tôi cũng chuẩn bị lên đường đi tiếp đoạn lội rừng còn lại. Lần đi này mới thấy đôi chân đau nhức rất nhiều, có lẽ các vết thương do cây sướt, tróc móng, rắn cắn bắt đầu làm độc khi ngâm trong bùn sình dơ bẩn! Cố đi trong hy vọng và nửa giờ sau ra được tới bờ biển sình lầy. Nhìn thấy Cá Mập neo đậu một chỗ cách bờ chừng 1,500 thước, nằm về phía Bắc một chút, nhấp nhô trên sóng nước màu đen đục trong khi bầu trời nhiều mây xám nhưng không mưa. Nhiều lúc sóng to Cá Mập hụp xuống tưởng chìm đâu mất. Tôi nghiệp thằng cháu tên Thanh và Hùng 2 thằng nhỏ ở ngoài đó! Nhưng tụi nó may mắn là khỏi lội rừng suốt đêm đói khát như bọn tôi.

Chúng tôi tập trung nghỉ ngơi bên trong rừng, ghe tàu có chạy ngang bên ngoài cũng không thấy được. Để có nơi khô ráo nằm ngồi, chúng tôi chặt một mớ nhánh cây mắm lá xanh tươi chất thành đống trên bùn sình và ngồi lên. Ngồi một lúc chà cây lún xuống  nên phải chặt thêm lót lên trên. Giờ đây mới có dịp nhìn lại thấy ai nấy như người rừng, bùn khô dính từ  ngực đến chân, con nít trông như những tượng đá trong nghĩa địa. Tôi chỉ còn trên người quần xà lỏn và cái áo mưa ngắn tới lưng bằng ny long có cái chụp trên đầu. Cái áo như áo mưa của các anh Honda ôm này là vật bất ly thân tôi không bỏ được, lý do tôi sẽ tiết lộ sau?

Không nước uống, không một vât gì ăn được, không một chỗ khô ráo để nghỉ ngơi.Cây mắm nhỏ leo lên ngồi thì không được, còn dưới thì sình non. Lá mắm cắn thử thì thấy đắng và chua, có lẽ ít có loại thảo mộc nào sống ở nước mặn mà ăn được. Nghĩ thế tôi chỉ nhấm vài lá mắm cho miện đỡ khô khát! Cả một ngày chúng tôi không tiêu tiểu vì có ăn uống gì đâu mà tiêu tiểu! Tôi mong cho trời mưa nhưng lại ít có mây đen chỉ bay ngang qua rồi thôi!

Bốn năm giờ chiều gì đó mấy đứa con nít sau khi ngủ được một giấc mệt nhọc đã tỉnh dậy, ngứa ngáy vì dính sình, cơn khát cháy cổ và cái đói hành hạ nên chúng kêu khóc vang cả một vùng bãi sình mênh mông vắng lặng. Tôi không biết làm sao hơn, lục trong túi xách còn hai cặp lạp xưởng dính nước sình mặn và kế đó tôi đập được một con cá thòi lòi lớn bằng ngón chân cái dài gần hai tấc. Rồi thằng cháu tôi cũng bắt được một con cua biển khá to. Thế là tụi tôi tìm cách nhóm lửa để nướng các “sơn hào hải vị”. Diêm quẹt mang theo thì ướt hết, các nhánh mắm tươi làm sao cháy. Mấy đứa nhỏ mới đi gở một số lá khô còn dính lưới nhện trên cây và lấy trong túi xách ra một số giấy bạc Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam còn khô. Lấy miệng hà hơi nóng vào diêm quẹt ướt cho khô và quẹt một hồi cũng cháy. Khó khăn lắm mới nhóm được lửa và nướng các thứ trên rồi chia cho mấy đứa nhỏ. Tụi nó nhai ngấu nghiến nhưng mỗi đứa chỉ được một miếng to bằng ngón tay cái! Ăn chưa đủ đòi nữa, không có lại khóc. Tôi có mang theo tượng Đức Mẹ Lộ Đức mà ba tôi tặng khi hành hương bên đó về, tượng bằng ny long bên trong có chứa độ 10cc nước thánh lấy từ con suối nhà thờ Lộ Đức (Lourdres) bên Pháp. Vì đức tin tôi mang theo tượng Đức Mẹ trong chuyến vượt biên mong được phù hộ tới bến an lành. Nay tôi phải lấy nước thánh ra cho các con tôi uống đỡ khát! Cầu mong sao Đức Mẹ phù hộ chúng tôi thoát khỏi cảnh địa ngục trần gian này!

Trời đã xế chiều, 6, 7 giờ mà thằng Niên cũng chưa thấy ra? Hay là ông Hai muốn gạt chúng tôi sau khi đã lấy được tiền? Hoặc có gì trắc trở trong làng hay ông Hai đã bị bắt vì câu chuyện đã đổ bể? Những câu hỏi đó cứ ám ảnh trong đầu! Tất cả đều thấy chuyến vượt biên hầu như bế tắt, thất bại! Chúng tôi bàn nhau nếu đến sáng mai mà vẫn không có tin tức gì, không ai ra liên lạc, tiếp tế thì 7 giờ sáng mai thì chúng tôi sẽ chia ra làm 4 toán do tôi và 3 người đàn ông khác làm trưởng toán để trở lại Sông Ông Đốc tìm cách trốn thoát. Đàn bà, con nít cứ đi về làng Ông Đốc là nơi gần nhất có dân cư, để VC bắt cũng không sao. Còn đàn ông, thanh niên đi ngược trở lại dòng sông Ông Đốc về hướng Cà Mau, Chương Thiện, cố trốn tránh để không bị bắt.

Lúc đó độ 8 giờ tối ngày 4-12-1978 đang tuyệt vọng thì bổng nghe tiếng hú rất xa vọng lại. Đúng là tiếng hú của Niên một con chồn rừng không biết mệt. Bọn tôi hú đáp lại vang cả khu rừng. Mười phút sau tiếng hú thứ nhì có vẻ gần hơn, chúng tôi hú đáp lại. Năm phút sau tiếng hú thứ ba càng gần hơn nữa… 

 

HỒI KÝ VƯỢT BIÊN

BÀI 8: GIAN NAN LỘI RỪNG U MINH

Bài và hình: TRINH HAO TAM

Ngày 4-12-1978 Khoảng 1 giờ đêm nghe tiếng mái chèo sột soạt, chúng tôi không biết ai đi trong giờ này giữa rừng. Tôi chợt nảy ý nghĩ nếu không phải là người bọn mình thì ai đi giờ này đúng vị trí này? Khi tiếng động đến gần, nghe tiếng quen thuộc của anh Tư Phúc có chở theo vợ chồng Lý Trụ và thằng con nhỏ 4 tuổi mà hồi chiều không kịp xuống ghe để vô rừng. Tư Phúc đi với thằng Lâm cho biết cũng chưa liên lạc với ông tài công gốc Tàu Nùng biệt khu Hải Yến vì ổng ở bên kia sông không dám qua vì sợ đi tới đi lui người ta để ý. Tôi liệu bề không có tài công mình có dám đi hay không? Có người lo sợ nhưng tôi thấy chắc đi được vì tôi cũng đi biển đôi ba lần, có một lần suýt chết trong chuyến từ Phú Quốc về Rạch Giá vì trời giông bão và đi ngược sóng mà ghe còn không lật huống chi thời tiết bình thường. Bây giờ đã leo lên lưng cọp rồi thì phải cỡi thôi. Người ta có thể lựa chọn khi còn lựa chọn được, huống gì bây giờ mình chỉ có một con đường!

Sau khi Tư Phúc đưa Lý Trụ ra nhập bọn, anh ta và Lâm chèo ghe trở về làng để xem ông Hai định như thế nào cho công cuộc vượt rừng ra bãi biển được êm xuôi. Còn lại khu rừng đêm mênh mông với bóng đêm dày đặc và muôn triệu con muỗi đói, bọn tôi đã đủ 44 người không sót ai chỉ thiếu ông tài công thôi!

Chờ đợi trong đêm giữa rừng U Minh trên hai chiếc ghe đầy nhóc người, rủi VC đi tuần ban đêm thì chắc bọn tôi sẽ bị bắn chết! Nhưng không bao lâu ông bà Hai và thằng rể bộ đội Niên chèo ghe ra tới. Tôi hỏi về tình hình đem ghe lớn ra cửa dưới thế nào? Ông Hai cho biết không có tin tức gì hết! Thằng cháu công an vẫn chưa thấy lội sình về báo tin nhưng ông nói bây giờ cứ cho di chuyển lần ra bãi đáp rồi tính tới nữa. Tôi hỏi đi bộ bao lâu thì tới? Ổng nói độ 2, 3 tiếng đồng hồ. Tôi đã nhìn trên bản đồ thấy ông nói cũng hợp lý vì từ đây ra bãi biển ở hướng Tây đô chùng 4, 5 cây số thôi, lội sình lầy trong thời gian như vậy là đúng.

Thế là chúng tôi bắt đầu đi, từ 2 ghe bước xuống nước sình lầy lội bì bõm, tiếng người kêu réo, tiếng la trẻ con om sòm gây vang động cả một khu rừng đêm âm u ma quái. Tất cả tiến về ánh đèn pin yếu ớt của thằng Niên dẫn đầu đi trước, lâu lâu nó dừng lại chờ, quơ quơ ánh đèn pin cho mọi người thấy tiền tới. Nó quen đi rừng sình lầy nên đi mau quá, khiến đàn bà con nít đi theo không kịp nên họ sợ bị bỏ lại, lâu lâu kêu réo cầu cứu!

Đi và đi mãi, độ một giờ đồng hồ sau thì cả đoàn thấm mệt, nhiều người ướt nhem vì đã ngã xuống nước sình. Nhiều người đã bị gốc cây sốc vào chận chảy máu và con nít bắt đầu khóc. Vì mang nặng tôi đã liệng đi 3 hộp sữa đặc Ông Thọ vốn đem theo cho đứa con gái nhỏ nhất 2 tuổi và quăng xuống sình một mớ quần áo mà lúc này thấy không cần thiết nữa.Tôi cũng cởi luôn chiếc quần dài vì dính sình nặng nề, ngứa ngáy nhưng đi một lúc thì hối tiếc vì gai góc cây ô rô quào vào hai chân trầy trụa không biết bao nhiêu đường rướm máu. Chân không giày dép nên đã trốc móng chân cái bên phải nhưng không có thời giờ để cảm thấy đau nữa vì tay chân lạnh cóng và răng đánh bù cạp run lập cập. Chúng tôi đã nghe tiếng máy tàu nổ từ xa vọng lại, tiếng máy Yanmar nổ dồn dập như thúc dục bọn tôi phải tiến nhanh lên để tìm đường vượt thoát, càng kéo dài thời gian càng gặp nhiều điều bất trắc!

Đi mãi tới khi rạng sáng thấy nơi chân trời phía Đông hừng lên ánh sáng mà bờ biển cũng chưa thấy và tiếng máy tàu đã không còn nghe nữa! Lúc đó Niên dẫn đầu suỵt suỵt lên vài tiếng, ra dấu bọn tôi giữ im lặng và chỉ về phía Nam cho rằng hình như có người ở đó và phải tránh đi hướng khác.

Đến khi trời sáng hẳn thì bọn tôi đã kiệt sức, nhìn lại người nào cũng mặt mày xanh nhợt, môi thâm tím ngắt vì lạnh và các con tôi tay chân run lập cập. Vợ tôi cõng đứa con gái nhỏ, còn hai đứa con trai 4 và 6 tuổi dắt nhau lết bết theo tôi vì tôi chẳng còn đủ sức để dắt chúng nữa! Trong cái túi xách tôi mang trên vai gồm một bọc cơm xấy, một bao ny long đựng thuốc trị bịnh, các giấy tờ quan trọng của đời người và phim hình kỷ niệm mang theo cũng như cái la bàn trực thăng, bản đồ và chiếc địa bàn nhỏ như đồng hồ. Tất cả bây giờ trở nên nặng trĩu ước lượng hơn 10 kí lô vì đã thấm nước mặn mà nước muối thì nặng hơn nước ngọt nhiều. Những món đồ đó rất quan trọng không bỏ được.

Bọn tôi hỏi Niên gần tới chưa? Nó bảo là gần rồi nhưng tụi tôi đi chậm quá và nó phải dẫn tránh đồn công an biên phòng đóng ở ngoài bờ biển nên phải đi ngược lên trên hướng Bắc. Mặc dù quá đuối sức bọn tôi cũng dìu dắt nhau với hy vọng ra tới bờ biển gặp ghe và lên ngay cho khỏe và nếu ghe chưa ra được cũng được nằm nghỉ ngơi chờ đợi. Tiếp tục đi có những lúc phải lội qua những đám ô rô lá gai nhọn nhưng lúc này ô rô cũng không nghĩa lý gì nữa và chúng tôi cũng càn vô đại mà người này theo đường vạch của người trước mà đi. Có những nơi nước sâu tới cổ, tôi phải cõng hai đứa con trai lên vai để chúng khỏi bị ngộp nước. Mỗi bước chân lút sâu xuống sình, rút lên được cũng mất nhiều sức lực. Bọn tôi rút kinh nghiệm là mỗi người đi một chỗ khác nhau, tránh vết lún của người trước khiến chân lún càng sâu với sình non nơi đây lá cây rừng tích tụ lâu năm rất nhão, lún hoài khó rút chân lên được. Trên bầu trời buổi rạng đông hàng đàn diều hâu, kên kên tập trung theo bọn tôi kêu nhau chí chóe, chờ bọn tôi bỏ xác trong rừng để làm tiệc, đánh chén no nê!

Khoảng 10 giờ trưa 4-12-1978 có nhiều người đàn bà đã đi hết nỗi, mặt mày tái xanh nhợt nhạt, anh Dương Sum vốn vợ là y tá có đem theo lọ thuốc trợ tim Cortonyl nên chuyền tay cho mỗi người ngậm vài giọt. Tội nghiệp bà cụ người Tàu 71 tuổi, bà nội của Diệp Quang Chu và Diệp Chiêu Tổ đã qúa đuối sức, hai thằng phải dìu hai bên đi sau chót.

Bọn tôi bắt đầu nghi ngờ bộ đội Niên là người dẫn đường đã đưa chúng tôi đi lòng vòng, khi lên Bắc khi xuống Nam mà không đi thẳng ra hướng Tây là phía biển, với dụng ý là chúng tôi kiệt sức bỏ tư trang vàng bạc lại. Tôi kêu nó dừng lại và đặt vấn đề, tôi cho biết theo bản đồ bờ biển không xa mấy, tại sao đi hơn 10 tiếng đồng hồ mà vẫn chưa tới? Anh ta cho rằng để tránh các đồn công an đóng trong rừng mà những ngày trước anh ta thám sát đã thấy. Tôi móc địa bàn ra chỉ cho Niên thấy là bờ  biển ở hướng Tây và chỉ về hướng đó.

Không biết vì tại tôi chỉ hướng hay âm mưu đen tối bại lộ mà Niên sau đó đi một lèo đúng về hướng Tây? Bọn tôi cũng bỏ mặc nó đi trước, không còn kêu nó chờ nữa. Đi một lúc thì thấy Niên ngồi trên cây ngay trước mặt chờ đợi tự bao giờ? Đến gần 12 giờ trưa nghe tiếng sóng đánh rì rào phía trước và gió mang mùi nước biển thoang thoảng trong không khí. Biết là sắp tới bờ biển nhưng leo lên cây vẫn không thấy biển đâu mà rừng U Minh xanh ngát vẫn chạy ngút tận chân trời!

Chắc còn cũng phải hơn một cây số nữa mới tới biển, thế là cả nhóm định tìm chỗ nghỉ chân nhưng xung quanh nước hơi sâu, ngồi xuống nước tới cổ, làm sao ngồi được! Bổng cả bọn dừng lại vì phía trước chen lẫn trong cây cối hiện ra một chòi lá dựng lên bằng các thân cây nhỏ. Bộ đội Niên suỵt suỵt ra hiệu cho cả bọn dạt ra một hướng khác mà đi. Đi một chốc nó bảo tôi: “Để tôi chạy đến điều đình xem vì dường như có người trong đó!”. Tôi đồng ý thì vừa lúc đó cảm thấy đau ở cổ chân như bị một con gì cắn phải? Nhìn xuống thì một con như con rắn nhỏ phóng trên mặt nước vọt chạy! Tôi cúi xuống thấy vết cắn chảy máu và in 4 dấu răng. Chắc bị rắn cắn nên liền nặn máu ra và có ý nghĩ rằng số tôi đã cùng rồi. Tôi tiếc là chưa đem được vợ con, em cháu, bạn bè tới bến vinh quang! Tôi chết đã đành nhưng số phận các người còn lại sẽ ra sao? Tôi cầu xin Thượng Đế  cho họ bình an thoát đi được!

HỒI KÝ VƯỢT BIÊN                   

BÀI 7: CHÈO GHE TRỐN VÀO RỪNG U MINH

Bài và hình: TRINH HAO TAM

Ngày 3-12-1978 Năm giờ sáng ông bà Hai chèo xuồng trở lại, bà Hai nấu nước pha cà phê để tôi và ông Hai uống. Tháng này trời còn tối đen, mấy ghe xuồng đi chợ sớm, mái chèo quậy dòng nước sông nháng lên những ánh sáng trông như ánh lửa. Nước sông ở đây từ trong rừng đổ ra, tích tụ lâu năm cây lá rừng nên có nhiều chất lân tinh (phosphore) phát ra ánh sáng trắng xanh như tia lửa xẹt. Đối với người ở vùng khác đến đây như chúng tôi thì lấy làm lạ hiện tượng này.

Ông Hai ngồi uống cà phê nét mặt trầm ngâm lo lắng nói với tôi: “Tao sợ chuyến này làm ăn khó êm xuôi lắm vì thiên hạ vượt biên qúa nhiều nên tụi công an ở đây nó cảnh giác lắm. Tao có một thằng cháu nó làm công an ở gần đây, tao định nhờ nó đi trên ghe với thằng Vui khi đem ghe mầy ra cửa ở ngả dưới. Có thằng đó thì công an ở đồn biên phòng bớt nghi ngờ vì thằng đó quen biết với tụi nó. Tao dặn thằng đó nói là có giang đi Rạch Giá thăm bên vợ. Cũng đề phòng việc công an trên bót rủ rê thằng này ở lại nhậu nhẹt. Tao đã nhắn với nó rồi nhưng sáng nay phải chèo ghe lên gặp nó, nếu thuận tiện thì chiều nay đem ghe ra cửa và tụi mầy vào rừng đón, rồi sáng sớm ngày mai là tụi mầy đi được.

Tôi hỏi về người tài công ở biệt khu Hải Yến đã nhờ ông Hai móc nối thì ông Hai nói đã chuẩn bị xong, nó sẽ ra ghe bằng xuồng của nó trước khi trời hừng sáng. Rồi ông Hai xuống ghe tam bản bươn bả chèo đi miệt phía trên.

Xế trưa thằng Lâm con ông Hai và thằng Vui rể ông Hai lái chiếc ghe biển số MH3637 của nó đi ngang. Tụi nó đi lên ghe lớn của tôi đậu khuất trong rạch vô ruộng để cho thằng công an cháu ông Hai, thằng Hùng con út ông Hai, thằng Thanh 14 tuổi cháu của tôi, và Vui là người điều khiển ghe này ra cửa. Có nghĩa là Cá Mập ra cửa biên phòng chiều nay với 2 người lớn và 2 đứa nhỏ.

Khoảng 3 giờ chiều nhìn lên miệt sông trên, tôi thấy ghe Cá Mập của tôi từ rạch ruộng tiến ra sông Ông Đốc và đi ngược dòng sông để ra cửa dưới cách đó 6, 7 cây số. Nó đi được một khoảng thì chạy trở lại, tôi không biết có chuyện gì? Sau này mới biết là lúc đó tụi nó quên mang theo giấy tờ ghe MH3637 dùng cho Cá Mập khi ra cửa nên trở lại lấy.

Môt lúc sau thì Lâm lái chiếc MH3637 ngang qua ghe tôi, thấy chỉ có một mình nó đứng lái. Tôi hỏi nó ra sao thì nó chỉ gật đầu rồi lái đi thẳng về làng. Ông Hai một chốc cũng chèo xuồng trở lại và ổng nói chiều nay khi cơm nước ở đây xong thì sẽ đem 2 ghe này với chúng tôi trên đó tiến vào gần làng hơn. Chờ cho thằng cháu công an từ biển lội lên cho hay đã đem Cá Mập ra được rồi thì 3 ghe bọn tôi sẽ chui vào rừng U Minh ngay. Còn ghe anh Tư Phúc đã chở cánh Lê Xâu lên nhà Vui ở trong làng thì ổng chưởi thề nói là tụi nó lên nấu cơm, làm gà vịt ăn rần rần, sợ lối xóm nghi quá! “Điệu này chắc tao bỏ Lê Xâu lại quá, khi không lên xóm làm chi!”

Thế là 2 ghe bọn tôi nấu cơm ăn nhanh lên. Dọn dẹp xong nồi niêu, chén bát và thu xếp hành trang để chuẩn bị lội rừng. Ông Hai cho máy ghe tôi nổ còn người thì ngồi xuống dưới khoang hết. Chạy được một khoảng thì thấy xóm nhà đầu làng Ông Đốc và nhìn ra cửa sông thấy biển chạy tận chân trời thì bổng nhiên máy Yanmar ghe tôi hụt hặc rồi tắt lịm. Kéo mấy hơi nó cũng không nổ được. Bất ngờ lúc đó có một xuồng đuôi tôm nhỏ ở hướng trên về đi ngang qua. Thấy ông Hai họ kêu lên um xùm và hỏi về hồi nào, bao lâu sẽ trở lên Cần Thơ? Hỏi ghe hư thế nào mà máy không chạy? Họ đòi kéo dùm về làng. Ông Hai từ chối khéo nói không sao đâu bị quên châm dầu để rồi sẽ về sau và may mắn xuồng đó rời đi. Khi qua rồi thì ông Hai nói đó là mấy đứa em thằng Vui rể ông. Ông sợ là tụi nó về làng nói gặp ông dọc đường, muốn lánh mặt mà điệu này chắc chiều nay phải xuất đầu lộ diện cho dân lối xóm thấy!

Máy nổ không được thì phải chèo tay, chèo đến gần làng thì ổng nói tụi bây đậu rải rác ra ở đây để tao về nói là ghe hư phải chèo xuồng nhỏ về. Ổng chưa kịp đi thì thằng bộ đội Niên chèo ghe ra cho biết là em của Vui về làng nói um xùm. Nói là thấy ông Hai chở một đám đông người Sài Gòn chắc là định vượt biên đi ngoại quốc? Ông Hai hết hồn, ổng kêu Niên ở lại đây đem tụi tôi vào rừng còn bà Hai ổng kêu đi kiếm Tư Phúc và cánh Lê Xâu ngay để tập trung tại đây. Bọn tôi một tốp dồn lên ghe Tư Phúc, một tốp qua ghe đuôi tôm của Thời, Son còn ổng chèo ghe tôi hư máy về cho xóm làng thấy. Ổng tính toán và ứng phó tình huống rất nhanh chắc vì có kinh nghiệm trước đây sơ tán du kích khi quốc gia hành quân.

Nửa giờ sau ghe anh Tư Phúc đến, ảnh không có mặt trên ghe mà do bà Hai lái đến chở gia đình ông Lê Xâu. Rồi một tốp người trên ghe tôi chuyển qua ghe đó, một tốp dồn qua xuồng đuôi tôm của Thời, Son. Còn gia đình tôi và vợ chồng em gái cùng đứa cháu hơn 1 tuổi lên xuồng do bộ đội Niên chèo. Xuồng nhỏ mà chở nhiều người nên nó chịu không nỗi và vô nước. Bọn tôi ngồi yên không dám nhúc nhích vì sợ xuồng lật mặc dù chèo cặp sát bờ sông nhưng cũng khá sâu vì ngày hôm qua tôi nhảy xuống tắm sát mé mà vẫn ngập đầu như thường!

Thấy nguy hiểm cho mấy đứa nhỏ nên tôi kêu thằng Niên chèo lại gần ghe Tư Phúc do bà Hai lái với máy F10 còn nổ tốt. Gia đình tôi qua đó thì ghe đã chật ních người, tôi phải đứng phía sau gần bánh lái kế bên bà Hai. Trời đã sẫm tối, nhà hai bên bờ sông đã lên đèn dầu leo lét và lúc đó đi gần đến xóm nhà của dân miền Bắc mà chính quyền VC mới đem vào để khai phá rừng làm ruộng, nghe tiếng họ giọng miền Bắc kêu nhau ơi ới.

Thằng Niên chèo xuồng một mình dẫn đầu, tôi lại sang ghe của Thời, Son với máy đuôi tôm Kohler 7 mui lợp lá cũng chật ních người. Ghe này đi kế tiếp và ghe bà Hai với gia đình Lê Xâu đi ở đàng sau chót. Đến xóm người Bắc thì rẽ vào con rạch nhỏ để đi vào rừng tràm đước nhưng khi đi ngang dưới cầu gỗ thì ghe tôi lại vướng vào một đáy cá giăng dưới cầu, chân vịt máy đuôi tôm quay không được, Thời phải lặn xuống gỡ ra, trong lúc đó bọn tôi lấy một cái mùng trùm lên trước mui ghe nơi cửa ra vào để dân trong xóm ra không thấy bên trong ghe nghẹt người! May mắn trời tối họ không để ý tưởng ghe trong xóm đi chợ về muộn hoặc ghe đi đốn củi trong rừng.

Gỡ được lưới đáy mà không gặp rắc rối nào, bọn tôi toát mồ hôi lạnh và tiến dần vô con rạch hẹp. Đi một lúc không thấy ghe bà Hai đến nên chúng tôi chậm lại để chờ. Phía trước mặt giữa rừng lại có một mái nhà đốt ngọn đèn dầu nơi đặt vó cá trước nhà. Chúng tôi sợ nhà có người sẽ phát hiện, may là lúc đó bọn con nít vì thấy mọi người sợ hãi nên cũng nín re không dám khóc. Ghe bà Hai tiến đến, bà hỏi thằng Niên tới con rạch vào rừng chưa? Con rạch này sẽ dẫn chúng tôi băng rừng để đi về hướng Tây mà ra bãi biển. Bộ đội Niên theo lệnh ông Hai phân công trước đây đã vô khu rừng này điều nghiên thám sát, xem nhà cửa dân chúng thế nào, có trạm gát công an, dân phòng gì hay không?

Kế hoạch ban đầu là các ghe chúng tôi vẫn đậu ngoài sông Ông Đốc, chờ khi đem được Cá Mập ra biển mới lội vô rừng mà ra ghe. Neo ngoài sông vẫn là chuyện bình thường của dân nghèo như đi lấy cũi bán, đi làm ruộng mướn, ít bị nghi ngờ. Nhưng tình hình lúc này lại khác, là trong xóm có thể đã nghi ngờ nên chúng tôi phải vào rừng ẩn náu, ông Hai trở về nhà như không có chuyện gì. Ẩn náu trong rừng khá nguy hiểm vì dân chúng có thể bắt gặp, công an đi tuần bất ngờ cũng phát hiện và khó khăn cho ông Hai để liên lạc. Khổ một cái là nằm trong vùng nguy hiểm mà không biết Cá Mập ra biển được hay chưa? Đang chờ ông Hai liên lạc với bọn thằng Lâm, thằng cháu làm công an đi theo Cá Mập. Mong cho Cá Mập đã ra khơi là chúng tôi lội rừng ngay ra ngoài đó.

Đàn muỗi rừng U Minh vẫn tấn công tới tấp, tôi mặc áo lính vải kaki mà chúng vẫn chích được. Hôm nay ở thành phố gần tới mùa Giáng Sinh, nơi rừng sâu này nhìn lên những cây tràm, mắm, hàng ngàn con đom đóm đồng loạt chớp tắt ngọn đèn dưới đuôi chúng cùng một lúc, không khác gì những cây Giáng Sinh trang hoàng nơi thành phố. Tìm một hy vọng yên bình trong đêm trốn tránh cực kỳ căng thẳng lo âu. 

 

HỒI KÝ VƯỢT BIÊN

BÀI 6: KẾ HOẠCH ĐEM GHE LỚN RA BIỂN

Bài và hình: TRINH HAO TAM

Ngày 2-12-1978. Sau một đêm bị muỗi U Minh tấn công biển người nhưng vì quá mệt nên tôi cũng ngủ được một giấc ngon lành trên ghe chật chội. Sáng nay trời mù sương hứa hẹn một ngày khô ráo nắng tốt, nghe radio Sài Gòn nói một trận bão sắp sửa thổi vào VN, bọn tôi cũng hơi lo nhưng ông Hai nói vùng Cà Mau này hiếm khi nào bão thổi tới. Đang ăn xôi gà, cà phê sáng có một chiếc ghe chài đi sông gắn động cơ công suất mạnh chạy ngang qua, có tiếng người nói : “Chà ghe biển này ngon lành quá! Cỡ này bảo đảm là đi tới Úc Đại Lợi dễ như cơm sườn. Bao nhiêu một người vậy?” Tôi chột dạ nhưng thấy vui vui.

Đoàn ghe tiếp tục lên đường hướng về phía biển ở hướng Tây Nam không bao lâu thì đến quận lỵ Thới Bình thuộc tỉnh Cà Mau bây giờ gọi là Minh Hải. Bắt đầu từ đây chúng tôi càng thận trọng hơn vì càng gần biển họ càng để ý các ghe tàu nhiều hơn nên ghe biển Cá Mập phải lui ra sau thật xa, ghe Tư Phúc với cánh Lê Xâu đi đầu, tới ghe tôi và 2 xuồng Thời, Son và Sáu Mập chạy máy Kohler 7. Qua khỏi chợ Thới Bình thì gặp trạm kiểm soát bên bờ sông thổi tu huýt ngoắc cả 3 ghe chúng tôi vào! Chúng tôi lại một phen lên ruột, bàn với nhau là làm như cả bọn không quen biết nhau, gia đình thì đi thăm bà con, người thì đi tìm nơi làm ăn sinh sống vì quá nghèo, riêng tôi thì sẽ nói đi công tác tu bổ hải đăng Hòn Khoai vì 6 tháng trước tôi có ra đó công tác và tôi giữ lại bộ hồ sơ với các bản vẽ cho đến bây giờ. Công an đứng trên trạm hỏi muốn quá giang tới Cà Mau, Tư Phúc nói tụi tôi đi Ông Đốc không có vô Cà Mau nên công an không nói gì.

Từ đây chúng tôi cảm nhận được không khí mát mẻ của gió biển, trời nắng tốt nhưng gió Đông Bắc bắt đầu thổi mạnh, cảm thấy mùa Tết đã gần kề. Hai bên bờ sông Ông Đốc toàn là rừng sát ngập mặn với các cây chà là, đước, tràm, mắm, vẹt. Cây chà là thuộc dòng họ dừa (palm), ở vùng này trái không ăn được nhưng người ta thường chặt ngang trên ngọn lấy củ hủ vì bên trong có con đuôn lớn sống trong đó. Con đuôn mập trắng này chiên lên hay hấp trong nồi cơm ăn rất ngon. Nước sông ở đây bắt đầu mặn và trên Cá Mập hôm qua chúng tôi đã lấy nước ngọt ở Vĩnh Thuận một phuy đầy 220 lít.

Khoảng độ 3 giờ chiều chúng tôi đã đến cách làng Sông Ông Đốc khoảng 4 cây số. Cá Mập chun vào một con rạch nhỏ và neo ở đó, ông Hai dặn thằng Hùng 12 tuổi ở trên ghe canh giữ nếu ai có đến hỏi nói người nhà vô trong ruộng canh tác. Ở đây việc đó cũng bình thường, đến chiều xong việc ruộng vườn họ sẽ đem ghe về làng. Ghe Tư Phúc đi luôn vô làng Ông Đốc mà ông Hai không biết vì ông mắc bận với Cá Mập. Khi ông hay được ông lo lắng sợ vô làng thấy đông người lạ người ta nghi ngờ thì hỏng việc! Ghe Long Xuyên tôi và ghe xuồng của Thời, Son đậu ở đây chờ ông Hai sắp xếp làm sao đưa Cá Mập cho nó ra biển vẫy vùng.

Ghe tôi cập bờ xong thì tắt máy, bộ đội Niên đi bộ về làng. Ông Hai và thằng con tên Lâm 20 tuổi giao ghe cho thằng Hùng 12 tuổi giữ cũng đi bộ về làng, chỉ còn bà Hai ở lại với chúng tôi. Thấy ghe đậu gần một cái nhà sợ họ thấy trên ghe đông người nên bà muốn dời ghe đi xa một chút. Bà nhổ neo lên, lấy xào tre ra chống. Nhưng bà chống một hồi thì gặp gió và nước ròng chảy ra biển, khiến ghe chúng tôi trôi ra giữa sông có khuynh hướng trôi luôn về làng Ông Đốc ở cửa ra biển thì chắc tiêu tùng! Máy Yanmar 2 block khá lớn, tôi và bà Hai giựt ná thở mà nó trơ ra không chịu nổ! Nó trôi phăng phăng đi ở giữa sông. Có một ghe đuôi tôm gắn máy Kohler nhỏ đi ngang qua, tôi kêu họ kéo dùm ghe chúng tôi vào bờ cho đừng trôi. Họ nói máy ghe họ hư mới sửa được nhưng còn yếu lắm kéo không nỗi. Họ nói cứ để nó trôi về làng nơi đó có một tiệm sửa máy, mướn họ sửa cho. Trong lúc ghe trôi may quá trôi ngang qua ghe Thời, Son đậu gần đó, Thời nổ máy đuôi tôm chạy ghe ra tiếp cứu, tôi quăng dây cho nó để kéo vô bờ.

Cột ghe vào một cây mắm trên bờ xong xuôi thì bổng có tiếng máy ghe lớn chạy tới, nhìn kỹ là một chiếc ghe đi biển lạ nhưng tôi giựt mình vì nó mang bảng số MH3637 cùng số với ghe Cá Mập. Thì ra đó là ghe của ông Hai, ghe cập vào hông ghe tôi. Một thanh niên lạ xưng tên Vui là một người rể khác của ông Hai. Trước đây khi bàn kế hoạch ông Hai cũng có nhắc đến anh chàng này, anh ta là lính Địa Phương Quân VNCH nay rã ngũ về Ông Đốc đánh cá làm ruộng. Khi gặp Lê Xâu, Tư Phúc trong làng, anh ta chạy ra đây tìm tôi cho biết mặt và trao đổi tình hình.

Tôi hỏi dầu Diesel chạy máy Cá Mập hiện đã có bao nhiêu phuy. Anh ta nói được có 1 phuy 200 lít (50 gallons Mỹ). Tôi kêu mua thêm một số can nhựa chứa dầu nữa và một số can đựng nước ngọt và đưa tiền cho anh ta. Anh ta cho biết không có đồng hồ tay để xem giờ, tôi liền tháo chiếc đồng hồ Seiko mua khi đi Nhật trao cho anh ta. Tôi hỏi về cách đem Cá Mập mới đóng ra biển làm sao cho trót lọt qua mắt được công an biên phòng đóng ở cửa Sông Ông Đốc vì ghe lạ? Vui cho biết kế hoạch như sau:

Ghe vượt biên Cá Mập sẽ không ra cửa Ông Đốc này mà ra ở cửa dưới cách vài cây số. Công An biên phòng dưới đó không rõ các ghe trên này nên ra dễ hơn sau khi trình giấy tờ hợp lệ tức là giấy của MH3637. Sau đó anh ta lái ghe Cá Mập đến gần Làng Ông Đốc và để thằng Hùng ở giữ ghe và mang giấy ghe MH3637 lội bộ về làng trao cho ông Hai và thằng Lâm. Sau đó cả 3 người lấy ghe đánh cá cũ MH3637 này đi ra cửa Làng Ông Đốc với lý do đi đánh cá. Rồi cả 3 lái chạy đến ghe vượt biên Cá Mập đang đậu và lấy cả hai ghe đi đón chúng tôi từ trong rừng lội bãi lầy đi ra, xong chúng tôi lên Cá Mập và khởi hành ra khơi.

Tôi nói tôi sẽ tránh Hòn Chuối và Hòn Buôn vì sợ có hải quân đóng trên đó và đưa cho Vui xem tấm bản đồ in màu tỷ lệ 1/100.000 do Nha Địa Dư Quốc Gia ấn hành. Vui chỉ cho tôi vị trí bờ biển về hướng Bắc cách làng khoảng 3, 4 cây số nơi chúng tôi sẽ lội sình ra, hai ghe biển sẽ đến đón chúng tôi tại đó.

Bàn xong Vui lên ghe đánh cá lái về làng, ghe cũ MH3637 nhỏ hơn ghe Cá Mập, gắn máy Yanmar 2 block mà chạy rẽ sóng, mũi ghe ngất cao lên trông rất dũng mãnh. Tối ông Hai chèo xuồng ba lá ra, pha cà phê rồi lên mui ghe ngồi uống, các bà và con nít dưới ghe sợ muỗi nên đã vô mùng ngủ. Bà Hai trong lúc xách ấm nước sôi không biết vấp cái gì trên mui ghe mà té ngã và đổ nước sôi vô mình ông Hai. Ông bị phỏng la oái oái “Tới giờ này mà phỏng nước sôi thì còn làm ăn gì được nữa! Tôi lấy kem đánh răng Hynos đưa cho ông xức vào các vết đỏ phỏng.

Ông Hai định lánh mặt xóm giềng, chừng nào tụi tôi đi xong rồi mới xuất hiện, nói là đi Cần Thơ sửa ghe lâu nay mới về. Ông định khuya làng xóm ngủ hết, ông và bà Hai mới lén về nhà ngủ, nhưng đi giữa đường khuya khoắt quá, lại sợ hàng xóm thấy nên hai người dừng xuồng lại, lên bờ quấn tấm ny long mà ngủ qua đêm.

 

HỒI KÝ VƯỢT BIÊN

BÀI 5: TRÊN SÔNG TỪ CẦN THƠ XUỐNG CÀ MAU

Bài và hình: TRINH HAO TAM

Ở bến xe Cần Thơ 24 người chúng tôi chia ra nhiều nhóm nhỏ, chờ đợi ông Hai ra đưa xuống ghe nhỏ thì vợ Thời bạn tôi ra thăm, cho biết tình hình là tới giờ này dầu chạy ghe lớn ông Hai mua vẫn chưa đủ, các đồ cần thiết đi biển, nước, lương thực vẫn chưa đem xuống ghe lớn được. Cánh Trà Vinh gồm gia đình em gái tôi 3 người, hai thằng con chị tôi khoảng 12, 14 tuổi, 2 thằng cháu con của người chị cô cậu tên Hải và Thanh, gia đình ông Lý Trụ 3 người và thằng Sáu Mập khoảng 20 tuổi đã qua Cần Thơ chiều hôm trước, đêm rồi ngủ dưới ghe ở bến Ninh Kiều. Coi như đầy đủ hết chỉ còn gia đình Thời và Son ở Cần Thơ sẽ đi xuồng đuôi tôm theo khi gần tới sông Ông Đốc mới nhập vào.

Nửa giờ sau khi vợ Thời đi thì ông Hai lơn tơn đi ra với thằng con út tên Hùng khoảng 12 tuổi trong một bộ đồ Pyrama màu cháo lòng dính đầy dầu sơn. Ông Hai gặp bọn tôi giả vờ tay bắt mặt mừng nói lớn “Bộ đón xe đi Sài Gòn hả?”. Sau đó ông Hai và thằng con đón xe lôi từng 2, 3 người bọn tôi lên một chiếc đi xuống bến Ninh Kiều. Những người này sẽ phân phối xuống 2 ghe sông của chúng tôi là ghe Long Xuyên và một chiếc của ông Hai do thằng em trai tôi đi chuyến trước để lại. Hai ghe này mỗi ghe dài khoảng 11 mét có mui che kín từ mũi ra đến lái, ghe Long Xuyên gắn máy Yanmar 2 block còn ghe kia gắn máy F10. Loại ghe này dùng để chở trái cây, nông sản rất thông dụng ở Miền Tây.

Tôi không muốn xuống ghe sớm vì 3 đứa nhỏ 2, 4 và 6 tuổi nằm dưới ghe tù túng, tôi ghé thăm một người chú thứ Năm ở hàng cây bả đậu đường Nguyễn An Ninh. Trong các cô chú tôi ông này nghèo nhất, tôi gởi tiền cho ông và dẫn 2 đứa lớn đi ăn chiều trong khi vợ tôi và con gái 2 tuổi nằm ngủ ở nhà chú tôi. Chúng tôi ra trước rạp hát Minh Châu gần đó ăn hủ tiếu bò viên, hai đứa con tôi rất thích vì được đi chơi xa nhà và ăn uống món ngon vật lạ, chúng nó tưởng là đi du lịch. Nhìn chúng vô tư ăn uống đâu biết những ngày sắp đến nguy nan bất trắc, trong lòng tôi tan nát không cùng! Ba vì thương con mong tìm tương lai cho con nên mới ra đi, nếu có bề gì xin đừng trách ba tội nghiệp!

Tối chúng tôi tự động xuống bến Ninh Kiều có thằng Hùng chờ sẵn trên bến và nó dẫn xuống xuồng đuôi tôm để đưa ra ghe đậu giữa sông vì gần bờ thì ghe xuồng đã đậu chật hết. Những xuồng đuôi tôm hay chèo tay này là đưa mướn trả tiền mỗi người chỉ 50 hay 100 đồng cũ VNCH. Gia đình tôi xuống ghe Long Xuyên thì gặp em gái tôi cùng chồng và con gái nhỏ tên Kim Chi 2 tuổi. Hai cháu kêu tôi bằng cậu ruột đưa tôi lá thư của ba tôi viết gởi gấm tụi nó đi với tôi. Hai đứa này cùng gia đình chị tôi vượt biên bị bắt ở Cà Mau, tôi tưởng tụi nó còn ở tù chưa được thả nên không có trong danh sách đi chuyến này. Sau này tôi phải đưa cho ông Lê Xâu 5 lượng vàng vì thêm người.

Xuống ghe nói chuyện một chút thì nghe tiếng xào xạt dường như có một xuồng chèo cập vào ghe tôi. Môt bộ đội mặc đồ lính xanh đi vào ghe, tôi xanh mặt tưởng là số con rệp đã tới! Không biết ai báo ra sao mà chuyến vượt biên bị phát hiện! Điệu này là tan tành theo mây khói hết, vào tù là kể chắc! Anh chàng bộ đội giọng miền Bắc hỏi “Anh nào là anh Tâm?” tôi càng tê tái và anh ta tự giới thiệu là rể ông Hai tên là Niên. Tôi nhớ lại có nghe ông Hai nói là có thằng rể bộ đội phục viên (giải ngũ) vì con gái ông tập kết ra Bắc nay đã về lại Cà Mau, anh này sẽ phụ trách môt số công việc cho ông Hai. Tôi mừng quá, chuyến đi của mình chưa đến nỗi nào!

Niên nói anh Tâm đã xuống như vậy là đủ người rồi, chúng ta không ở đây được nữa mà phải lui ghe vào miệt trong Cái Răng vắng vẻ hơn và gần “con cá mập” tức là ghe lớn. Anh ta cũng cho hay là ghe thứ hai đậu gần đây chở gia đình Lê Xâu, gia đình Chu, Tổ tức là cánh Sài Gòn xuống sáng nay cũng đã đi về Cái Răng do anh Tư Phúc lái. Còn ghe này anh lái có thằng Hùng  theo phụ. Niên có thuật lại là khi ghe Tư Phúc đậu gần đây, do lên xuống người lạ có dáng dấp Sài Gòn nên ghe đậu bên cạnh có người ra dòm ngó nên anh Tư Phúc kêu đi sớm.

Gần một giờ sau thì ghe chúng tôi tới Cái Răng cũng nằm trên sông Cần Thơ, một vùng ngoại ô phía Tây của thành phố lớn Cần Thơ. Ghe tôi đi lui vào một rạch trong vườn dừa thì gặp ghe lớn Cá Mập pha đèn sáng và ghe Tư Phúc với nhóm Lê Xâu cũng đậu gần đó. Đêm đó bà Hai nấu cháo gà và anh em nhậu đến khuya. Khi ngà ngà say chúng tôi có rủ ông Hai theo, ông Hai có vẻ sợ không dám nhưng bà Hai thì muốn đi.

Ngày 1-12-1978

Ba giờ sáng tôi bị đánh thức vì những tiếng la oai oái trên sông của các bà nhà quê đi chợ buôn bán sớm ngồi trên những chiếc xuồng được kéo bởi một ghe gắn máy đuôi tôm. Đoàn xuồng này bị nước chảy xiết cuốn trôi và vướng vào một đáy cá khiến ghe mắc kẹt không đi được. Ghe lớn và ghe Tư Phúc cũng bị tuột neo trôi đi và vướng vào một đáy cá khác. Chúng tôi chỉ hay được khi anh chủ đáy cá ra bắt bồi thường vì rách lưới, Đang hì hục để tháo gỡ lưới mắc dưới chân vịt thì hai ghe đuôi tôm của Thời và Son từ Cần Thơ đi ngang qua và cho hay tụi nó đi trước và sẽ chờ ở chợ tỉnh Vị Thanh. Sợ trời sáng thấy trên ghe đông người các nhà xung quanh có thể nghi ngờ nên ghe Long Xuyên tụi tôi đi trước. Đi chưa tới cầu Cái Răng thì máy Yanmar 2 block hục hặc một lúc rồi ngừng nổ, xem lại thì nó hết dầu! Sau khi lấy dầu ra đổ, nó cũng không chịu nổ, bộ đội Niên rể ông Hai quay muốn chết mà máy vẫn ì ra không chịu nổ, có lẽ vì không khí lọt vào đường dẫn dầu. Thằng Lâm con ông Hai lái Cá Mập sau khi gỡ lưới xong đi tới thấy vậy nhảy qua, nó biết ý máy này nên “xả gió” sửa một lát thì máy nổ. Sau đó chúng tôi tiếp tục đi, Cá Mập chạy trước nhưng cách xa vài trăm thước để cho người ta khỏi nghi ngờ nhưng giữ khoảng cách làm sao cho chiếc này thấy chiếc kia. Ngang qua chợ Vị Thanh lúc 10 giờ cũng không thấy ghe anh Tư Phúc đã đi trước khi ghe tôi châm dầu và sửa máy. Cũng không thấy 2 ghe đuôi tôm của Thời và Son.

Đêm qua xem lại cái đèn pin không cháy sáng nên vài người chúng tôi lên chợ Vị Thanh mua pin đèn và mua đồ ăn sáng. Đây là lần đầu tiên tôi biết chợ Vị Thanh, dù là tỉnh  nhưng chợ nhỏ như chợ quận, ngày trước tôi có người bạn làm Trưởng Ty Công Chánh ở đây. Khi xuống nhận nhiệm sở anh ta không biết tình hình an ninh ở đây xôi đậu nên lái xe Honda xuống, may mắn là không bị VC bắt dọc đường!

Khi đến chợ Bảy Ngàn thì gặp ghe của Thời và Son, gắn máy Kohler 7 mã lực kéo theo một xuồng nhỏ không máy. Thằng Sáu Mập đội nón lá ngồi một mình trên chiếc xuồng nhỏ đó trông rất tức cười, dân quê đâu có người nào mập và dáng dấp thành thị như nó, ngồi cứng đơ vì sợ xuồng chìm!

Để tiết kiệm xăng vì lúc đó “xăng dầu là mặt hàng chiến lược” nhà nước quản lý, mua rất khó, ghe Long Xuyên tôi phải kéo thêm hai ghe nhỏ của Thời và Son, Sáu Mập. Trong lúc kéo 2 xuồng thì có rất nhiều ghe chèo thấy vậy tưởng là kéo mướn nên la lên “Kéo tôi với, kéo tôi với”. Phải chi không vượt biên có lẽ tôi cũng kéo dùm, đằng này mình lo việc lớn không muốn dính dáng lôi thôi nên tôi nói “máy cũ kéo nhiều chạy không nỗi” để mà từ chối.

Chạy một lúc ngang một xóm nhà cạnh bờ sông, trên cây cầu nhỏ bắc xuống sông có hai công an áo vàng mang súng đứng ngoắc đoàn ghe chúng tôi vô. Tôi nghĩ rồi rồi, chắc tại thằng Sáu Mập lộ liễu quá nên mới bị phát hiện. Họ mang súng chạy luôn sợ không xong, nên chúng tôi phải ngừng lại tấp vào. Bộ đội Niên lên nói chuyện thì hai công an cho biết muốn có giang đến Vĩnh Thuận. Niên kéo chiếc xuồng Sáu Mập ngồi cho hai công an lên ngồi chung vì không muốn họ vô hai ghe chúng tôi thì lộ hết. Niên là bộ đội miền Bắc nên hai công an không nghi ngờ gì! Sáu Mập ngồi đối diện với hai công an, nhìn thật căng thẳng buồn cười.

Khoảng hơn 6 giờ chiều đoàn ghe tới Vĩnh Thuận, hai công an đã lên bờ  trước đó, chúng tôi tìm một khúc sông vắng vẻ đậu lại. Ghe biển Cá Mập và ghe Tư Phúc cũng đậu bên cạnh, có nghĩa là cả đoàn hội ngộ trên khúc sông vắng vẻ không xóm nhà này, hai bên bờ là ruộng hoang lau sậy, lục bình trôi ngập đầy sông.

Tôi nhảy xuống sông tắm, dòng nước trong lành mát rượi, tôi nghĩ đây có lẽ là lần tắm sông cuối cùng trên dòng sông quê hương thân yêu. Cơm nước xong, con trăng thượng tuần chữ C treo trên cao cũng là lúc các đàn muỗi nhào ra tấn công tới tấp. Đám con nít đã vô mùng ngủ, trời nóng quá, ghe chật chội nên chúng tôi tụ họp trên ghe biển lớn pha cà phê uống. Cà phê thơm thật ngon khiến tôi nhớ lại những ly cà phê Sài Gòn, giờ đã xa rồi, chỉ cách 300 cây số thôi nhưng tôi thấy xa vời vợi. Ôi Sài Gòn vĩnh biệt, bao giờ mới trở lại!

 

HỒI KÝ VƯỢT BIÊN

BÀI 4: NGÀY GIÃ TỪ SÀI GÒN

Bài và hình: TRINH HAO TAM

Cách nay đúng 40 năm trước hôm nay là ngày tôi giã từ Sài Gòn, ngày 30-11-1978 thành phố thân yêu mà tôi đã sống trên 11 năm với biết bao nhiêu kỷ niệm. Tôi sẽ ra đi đến một nơi nào chưa biết trước được, mà không biết có còn sống sót hay không? May mắn nếu sống sót thì chắc sẽ ra đi vĩnh viễn không ngày trở lại!

Hôm nay là ngày N khởi sự cuộc hành trình, chúng tôi quyết định là cánh đi từ Sài Gòn với tất cả 24 người phải có mặt trước rạp Quốc Thái đường Trần Quốc Toản lúc 6 giờ sáng. Xe sẽ đến đón tại đây để đi Cần Thơ. Đêm hôm trước thì vợ và 3 đứa con tôi 2, 4 và 6 tuổi đã mang hết hành lý sang qua nhà má vợ tôi ngủ để giã từ. Cảnh chia lìa mẹ con, bà cháu đau đớn như thế nào thì chắc các bạn cũng biết! Tôi ngủ tại căn nhà 195 Phạm Ngũ Lảo với Chu và Tổ, hai thanh niên khoảng 20 tuổi ở Đa Kao ngang rạp Casino mà cả gia đình tất cả 7 người sẽ ra đi cùng chúng tôi hôm nay. Ngoài Chu và Tổ là anh em, 5 người kia còn lại toàn là phụ nữ người Hoa gồm bà nội già khoảng 65, bà mẹ và 3 người cô độc thân. Mẹ Chu và Tổ là em của ông Thành Xương ở Trà Vinh đã ra đi chuyến trước trong ghe em trai tôi là Trịnh Quan Trung hiện ở Toronto. Ông Thành Xương đi được và định cư ở Anh, gởi gấm gia đình em gái lại đi với tôi.

Năm giờ sáng 3 chúng tôi thức dậy không xếp mùng mền như thông lệ mà bỏ mặc tất cả. Đồ đạc trong nhà những món có giá trị như TV, tủ lạnh nhỏ, radio cassette, máy hát băng Akai, amply, loa đã mang đi nơi khác từ những ngày trước. Ông già bán cà phê trước nhà hỏi sao bán, tôi nói hết tiền bán lần mua gạo. Chúng tôi lên hai xe Honda đến nhà má vợ tôi ở đường Phan Thanh Giản Quận 3. Sài Gòn vắng vẻ như nghĩa trang, đèn đường cúp điện mờ tối nên chút nữa là xe tôi vướng vô dây kẽm gai rào lại nơi Hội Nghệ Sĩ trong đám tang cô đào Thanh Nga mới bị ám sát chết vài ngày trước đó cùng với chồng là ông Lân Đổng Lý Văn Phòng Bộ Thông Tin thời VNCH.

Khi chúng tôi đến nhà bên vợ thì chiếc taxi tôi dặn hôm trước đã chờ ở đó. Vợ con từ giã bà già ra đi trong nước mắt. Hai chiếc xe Honda bỏ lại cho má vợ tôi, chắc bả sẽ bán rẻ để lấy phụ tùng, tất cả 4 người lớn, 3 đứa nhỏ lên xe. Tôi nói với bác tài xế chở chúng tôi ra xa cảng Miền Tây đề về quê sớm kẻo hết xe. Nhưng khi vừa qua khỏi rạp Quốc Thái tôi kêu bác tài cho chúng tôi xuống đây, tôi nói rằng vừa thấy chiếc xe đò quen còn đậu ở đây. Tôi xuống đó nhìn quanh các bàn cà phê thì thấy cánh ông Lê Xâu 7 người (2 vợ chồng với 5 con) và người em vợ là Dương Sum 5 người (2 vợ chồng 3 con) đã tề tựu đầy đủ đang ngồi nhấm nháp cà phê. Một lát sau thì 5 phụ nữ gia đình Chu Tổ cũng tới bằng taxi.

Sáu giờ thì xe đò tới, đây là một chiếc Microbus, chủ xe bà con với ông Lê Xâu hôm qua đã báo với Ban Giám Đốc Xa Cảng Miền Tây là xe trục trặc nghỉ một ngày để sửa chữa. Muốn di chuyển 24 người mà không có xe riêng thì kẹt lắm. Ở thành phố muốn về tỉnh phải có giấy đi đường do công an cấp, rồi ra xa cảng sắp hàng để chầu chực mua vé, chỉ bán vé cho người có giấy phép đi đường. Còn không thì mua vé chợ đen.

Chủ xe là bà con thì không sao nhưng tài xế và lơ xe thì hơi ngại nên chúng tôi trả 500 đồng mới (lúc đó 2,000 đồng một lượng vàng) cho 2 người. Xe chạy ngang qua Xa Cảng Phú Lâm thì cũng không ai ra chận, đến trạm kiểm soát xa lộ Đại Hàn thì anh lơ nhảy xuống đi trình giấy tờ gì đó. Vài công an áo vàng ra ngó dáo dác trên mui thấy không có hàng hóa gì ráo nên khoác tay cho đi. Hàng lậu thì không có nhưng người vượt biên thì ngồi đầy trong xe mà họ không biết!

Xe tới Bắc Mỹ Thuận thì chưa tới 8 giờ sáng, mọi người phải xuống xe đi bộ qua phà. Anh lơ trao cho mỗi người một vé đò nho nhỏ cầm xuống phà. Tôi sợ mấy người đàn bà và con nít đi bộ qua phà không kịp nên tôi đi sau chót mà nhìn tới trước để kiểm điểm mọi người. Thấy nhiều người trong nhóm xuống nhưng không thấy xe đò mình xuống, tôi tưởng xe mình còn kẹt lại nên tôi ở lại đi chuyến phà sau. Hóa ra vì không nhận dạng kỹ chiếc xe mình đi nên tôi không thấy nó đã xuống phà, khiến ông Lê Xâu và nhiều người lo lắng không biết tôi có chuyện gì mà không có mặt trên đò. Tôi bị bắt thì ai sẽ điều khiển tàu ngoài biển? Qua phà họ lên bờ chờ tôi, xe cũng đậu lại chờ mà công an cũng không để ý gì vì xe đò bình thường cũng chờ một vài người trễ vì đi vệ sinh hay mua quà cáp bánh trái gì đó xuống phà trễ.

Xe chạy nửa giờ thì tới Bắc Cần Thơ, mọi người cũng lại xuống xe đi bộ qua. Đến đây thì chiếc xe chúng tôi đi sẽ quay đầu chạy về Sài Gòn. Để khỏi bị nghi ngờ và kiếm thêm tiền bạc, xe rước  một số hành khách, đây là hành khách thật. Chúng tôi chia tay với người chủ xe, tài xế và anh lơ nhanh nhẹn nhiệt tình. Có lẽ họ chia sẻ với chúng tôi nỗi phập phồng lo sợ không biết tụi tôi có đi đến nơi bình an hay không?

Qua bắc Cần Thơ rồi chúng tôi lên xe lôi đến nơi hẹn là bến xe Cần Thơ chỗ xe đi Sài Gòn đậu nằm cách đó chừng hai cây số. Nơi đây bọn tôi vào các quán kêu cơm ăn và chờ gia đình ông Hai ra đón để xuống các ghe nhỏ đậu ở Bến Ninh Kiều cạnh chợ Cần Thơ nơi có tượng của Bác mỉn cười. Tụ tập đông người và đi cùng một lúc sẽ khiến công an nhận ra và theo dõi, nên chúng tôi làm như các gia đình xa lạ nhau, ăn uống chờ đợi để đón xe di Sài Gòn. Một giờ sau thì vợ của Thời ra gặp để cho biết tình hình bến bãi Cần Thơ như thế nào.

Tới đây tôi xin nói về một nhân vật nữa sẽ tham gia đi với chúng tôi là người bạn thân nhất, tôi quen với hắn từ 1963 lúc đó tôi mới qua trường Công Lập Vĩnh Bình học lớp Đệ Tam. Thời bị động viên đi lính VNCH trở thành trung sĩ thông dịch viên cho Sư Đoàn 21 bộ binh đóng ở Sóc Trăng. Sau trân chiến An Lộc Nguyễn Văn Thời bị thương và giải ngũ về Cần Thơ làm Phường Trưởng và bị đi tù cải tạo sau khi mất Miền Nam. Sau khi ra tù Thời phụ vợ buôn bán hủ tiếu, phân phối nước đá cho các quán cà phê ở Cần Thơ, làm tài công một vài chuyến cho các ghe chở trái cây. Khi thấy ông Hai kéo dài việc đóng ghe, có thể để moi thêm tiền từ chúng tôi, tôi rủ Thời tham gia để có người ở ngay Cần Thơ phụ giúp và thông tin liên lạc giữa chúng tôi ở Sài Gòn và ông Hai ở Cần Thơ. Tôi đồng ý ngoài gia đình Thời vợ với 2 con nhỏ còn đem thêm gia đình Nguyễn Văn Son với vợ và một con trai nhỏ, Son trước đây là Biên Tập Viên (Đại Úy) Cảnh Sát bà con vói Thời cũng là bạn với tôi dù không thân lắm vì khác chỗ ở nên ít gặp nhưng Son là người hiền lành đáng tin cậy.

Khi tôi cho ông Hai biết là tôi có nhận thêm Thời vào chuyến đi và Thời ở ngay tại Cần Thơ, ông Hai có vẻ phản đối nói rằng người học tập ra không tin được. Nhưng tôi nói đây là thằng bạn thân tín biết nhau rất lâu, Mâu Thân 1968 Thời ở nhà tôi ở Trà Vinh khi làm thông dịch viên cho USAID Vĩnh Bình. Lên Sài Gòn tôi và Thời cùng ở nhà của ông Vương Hồng Sển và Bà Năm Sa Đéc số 5D Nguyễn Thiện Thuật Gia Định khi tôi học trường Công Chánh và Thời học Trường Sinh Ngữ Quân Đội trong Bộ Tổng Tham Mưu. Bị thương ở An Lộc trong lúc chờ ra hội đồng giải ngũ Thời cũng ở chung cư 60 Võ Tánh với gia đình tôi. Tôi xem như họ hàng trong nhà. Tôi và ông Lê Xâu khẳng định cho Thời tham gia nên ông Hai miễn cưỡng chấp nhận. Từ khi có Thời và vợ giám sát, việc đóng ghe tiến triển nhanh hơn. Vài năm sau khi tới bến bờ tự do, ở thủ đô Washington DC Thời là chủ nhân hệ thống nhà hàng Nam Việt. Thời đã mất cách nay 10 năm vì ung thư phổi!

 

HỒI KÝ VƯỢT BIÊN

BÀI 3: KÉO DÀI VIỆC ĐÓNG GHE

Bài và hình: TRINH HAO TAM

Bắt đầu đóng ghe từ tháng 4 năm 1978 sau khi ông Lê Xâu thuyết phục tôi nên ra đi vì ở lại không biết cuộc sống sẽ đi về đâu khi đất nước rơi vào tay bọn khỉ rừng này! Bao nhiêu lần đưa tiền cho ông Hai và ông hứa sẽ xong cho chúng tôi ra đi vào tháng 7 hoặc tháng 8 này nhưng cho đến cuối tháng 9 tôi xuống Cần Thơ thì ghe chỉ mới xong phần lường, máy, hộp số, láp, chân vịt, bánh lái vừa được gắn vào. Tôi đôn đốc ông làm mau lên vì mùa giông bão tháng 10, tháng 11 sẽ đến ra đi không được. Ông nói không sao đâu, mùa đó vùng Vịnh Thái Lan có bão cũng không đến nỗi nào, vẫn đi được. Dù không kinh nghiệm đi biển trong mùa đó nhưng nhìn bản đồ thấy ông Hai nói cũng có lý vì vịnh nhỏ được bao bọc bằng đất liền bởi Việt Nam và Cambodia. Việt Nam có hai mùa gió: Mùa mưa từ tháng 4 cho đến tháng 11 gió Nồm thổi từ hướng Tây Nam lên hướng Đông Bắc. Mùa nắng từ tháng 12 đến tháng 3 gió Bấc hay trong Nam gọi là gió Chướng thổi ngược lại từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Mùa bão ở VN thường xảy ra trong khoảng từ tháng 7 đến tháng 12 là do đuôi các trận bão từ hướng Đông thổi vào.

Ông Hai than hết tiền, tôi và ông Lê Xâu phải nhận thêm bà con tham gia vào chuyến đi. Thấy công chuyện có vẽ chậm chạp quá trong lúc đó tôi có thằng bạn thân nhất đang ở Cần Thơ nên tôi kêu nó tham gia vào chuyến đi, vừa thương giúp nó vừa có người ngay tại địa phương theo dõi, đôn đốc, báo cho tôi biết công việc để tôi có thể đáp ứng tiền bạc, cung cấp đồ đạc kịp thời. Chứ để ông Hai đơn độc, một mình ở đây tôi lo quá. Tháng trước ông nói ông trở về Sông Ông Đốc cất lại căn nhà, rồi mua radio cassette nghe cải lương trong khi ghe tôi nằm ở đây 4, 5 tháng rồi chỉ mới xong cái lường! Kéo dài càng lâu công việc càng trở nên dễ bại lộ. Lúc đó phong trào vượt biên đã lên rất cao, sau 3 năm nếm mùi thiên đường CS dân miền Nam đã liều mạng ra đi bất chấp bị bắt, tiêu tan của cải, ghe chìm mất mạng, đói khát khi ghe chết máy lênh đênh trên biển hay bị hải tặc cướp bóc, hãm hiếp, giết chết. Mỗi ngày tỉnh nào cũng có người bị bắt vì vượt biên.

Ông Lê Xâu rất nôn nóng vì hai thằng con lớn đã ra đi với em tôi đang ở đảo thuộc Mã Lai, bàn với tôi liệu mình có nên đem ghe ra để đi bán chính thức không? Tôi nhận xét cho rằng tới giờ này ghe mình vẫn còn giữ được an toàn chưa bị lộ, ông bà Hai trong con mắt công an vẫn còn là “cha mẹ chiến sĩ cách mạng”, vẫn đơn thuần là dân chài có công với cách mạng, ngày đêm lam lũ lui cui lo sửa ghe để đem về Cà Mau đánh cá kiếm cơm qua ngày. Không thấy có dấu hiệu dính dáng gì đến bọn vượt biên phản động. Nếu mình đem ghe ra trình diện đăng ký bán chính thức trước hết mình sẽ mất quyền chủ động, không còn làm chủ ghe mình được nữa. Bọn công an địa phương sẽ khống chế mình, muốn đưa ai xuống chỉ huy mình cũng được, nhận vàng bắt mình phải nhận người của họ. Ra khơi họ có súng còn mình tay không! Nhiếu tàu đi bán chính thức bị lật chìm vì chở quá đông, hành khách mất trật tự, vô kỹ luật, sợ ngộp kéo nhau lên boong khiến tàu chênh vênh mất thăng bằng bị lật!

Thật sự mà nói, không phải tự hào nổ sảng, tôi chỉ tin tưởng ở tôi mà thôi! Chuyện gì không biết thì phải học, phải nghiên cứu tìm hiểu, phải làm hết sức mình. Không giao sinh mạng mình, người thân mình vào tay những người khác. Nhiều chuyến tàu nhờ tôi đi làm hoa tiêu, đem hết gia đình không mất tiền bạc nhưng hỏi qua về cách tổ chức tôi không dám nhận lời. Khi đã nổ lực hết sức mình, nếu có thất bại mình cũng bằng lòng hả dạ.

Trong khi ghe đóng ở Cần Thơ, ở Sài Gòn tôi vẫn là công nhân viên nhà nước ngày ngày chạy Honda đi làm bên Thị Nghè. Sau 1975 từ Võ Tánh tôi dọn về Phạm Ngũ Lảo nơi góc Đề Thám thuộc Phường 17 Quận 2 lúc đó. Căn phố này của chú tôi là nha sĩ học bên Tây vế, là rể của ông Benoit Châu một nhà giàu ở quận 3, con cháu của ông Huyện Sĩ. Ông Huyện Sĩ ngày xưa là chủ đất hết cả vùng chợ Thái Bình, mới cất dãy phố trên đường Phạm Ngủ Lảo này và ông Benoit Châu mới cho chú tôi một căn để làm phòng nha khoa. Sau 1975 trước khi sang Pháp, vì thím tôi quốc tịch Pháp, chú tôi làm giấy sang căn nhà cho tôi. Lúc đó là cán bộ công nhân viên nên tôi nhập hộ khẩu dễ dàng và dân ở đây lại bầu tôi làm Tổ Phó tổ dân phố vì tôi làm cho nhà nước và hay giúp đỡ tranh đấu phản ảnh các vụ gạo đường bột ngọt cho đồng bào. Tổ trưởng khu phố này là đạo diễn Lưu Bạch Đàn ông ta chỉ là thành viên Hội Nghệ Sĩ chứ đâu là công nhân viên lãnh lương nhà nước như tôi! Nhờ nhản hiệu đó mà cái đám “cách mạng 30” nể mặt không dám dòm ngó.

Lúc đó từ việc cung cấp bản đồ hàng hải cho những chuyến vượt biên chui hay bán chính thức tôi làm thêm một nghề ít người làm là buôn bán la bàn đi biển. La bàn thời đó rât hiếm hoi nên đắt tiền và là một mặt hàng quốc cấm mặt dù không có luật lệ nào ban hành nhưng hể ai buôn bán là bị bắt. Nhưng ở VN cái gì cũng có, muốn tìm mua la bàn ra đầu đường Nguyễn Huệ gần bồn phun nước, các tay buôn bán la bàn, vàng và đô la ngồi ở các ki ốt bán hoa. Trước 1975 giới ngư nghiệp đánh cá biển ngoài xa chuộng la bàn loại gắn trên thiết vận xa M88 màu đen có mặt kính bán cầu, dĩa mặt số phương hướng chao lượng được khi tàu lắc. Loại lớn hơn trang bị trên tàu Mỹ há mồm BCF nên la bàn này gọi là la bàn BCF, loại này to lớn mặt kính phẳng có đèn chiếu sáng rất đẹp. Còn các tàu hàng dân sự to lớn thì dùng các la bàn mặt số đường kính 2, 3 tất thường do hãng Seiki của Nhật Bản chế tạo.

Ở VN cái gì cũng có đồ giả, la bàn cũng vậy do trong Chợ Lớn làm, cũng rất công phu phối hợp giữa các thợ tiện làm body la bàn, thợ làm mặt kính đồng hồ Seiko giả để làm mặt số và thợ làm chụp đèn lái xe Honda để làm mặt cầu cho la bàn. Loại giả này làm khá tinh xảo, người không chuyên môn khó phân biệt được. Loại giả này cũng xài được nhưng độ sai lệch cao, chao lượng xong , mặt số chậm về vị trí đúng của nó. Thời 1978 giá loại giả này cũng bằng 1, 2 lượng vàng (giá vàng thời đó khoảng 2,000 đồng tiền mới một lượng).

Để tránh bị bắt bớ, tôi không trực tiếp bán, chỉ giao thiệp với 1, 2 người gốc Hoa ở chợ trời Nguyễn Huệ trong đó quen nhất anh tên Hùng, đã vượt biên nhưng tới nay không biết sống chết hay định cư ở đâu chưa gặp lại. Hoặc là giao cho bạn bè đi bán, cũng có vài lần bạn bè bị công an bắt nhưng cũng được thả ra sau khi tịch thu la bàn! Có một lần tôi bị một đàn em gạt, thằng này rất hiền lành đã từng bán cho tôi vài cái. Lần sau cùng hắn ta nói có một mối đi bán chính thức ở Vũng Tàu muốn xem vài cái, tôi chở anh ta đến một con hẻm đường Nguyễn Thông. Anh ta nói người ta ngại nên kêu tôi ngồi trên xe Honda ở ngoài chờ và mang đi 3 cái la bàn vừa thật vừa giả. Ngồi chờ hơn một tiếng đồng hồ là biết đã bị gạt! Làm nghề nào cũng có lúc gặp điều không như ý! Ngoài la bàn người ta cũng cần ống dòm lúc đó cũng rât hiếm.

Muốn sống dưới chế độ đó tôi thường đùa rằng “Nói như Cộng Sản, sống như Tư Bản và suy nghĩ như Lão Trang”. Họp tổ dân phố, tôi là người bị công an khu vực yêu cầu đứng ra thuyết minh, giải thích về những chính sách mới của nhà nước. Kêu người ta làm nhưng tôi không làm. “Đi với sư mặc cà sa, đi với ma mặc áo giấy”. Thời Hồ Mạt là phải giả dối nhưng chớ hại ai là được.

Có một chuyện cũng rất thót tim mà cũng buồn cười! Một hôm tôi ngồi trong nhà, trên bàn viết tôi ngồi đồ lại bản đồ đi biển để cung cấp cho khách hàng vì bản chính tôi chỉ còn duy nhất một tấm mà ra tiệm photocopy là dính. Nhìn ra cửa thấy anh công an khu vực xâm xâm đi vào! Anh ta thường tới để hỏi han này kia hay chỉ là muốn tôi dẫn đi uống cà phê như bao lần khác. Cất giấu thì không kịp, tôi thản nhiên tiếp tục làm. Anh ta hỏi tôi làm gì thế? Tôi nói “Công tác ở cơ quan dạo này khá khẩn trương nên phải mang về tranh thủ làm!” Rồi đưa anh ta ra quán cà phê trước nhà. Thấy anh ta cũng vô tư không nghi ngờ gì! Chắc anh ta chỉ nghĩ đến ly cà phê và điếu thuốc Vàm Cỏ mà không biết bản đồ hàng hải là cái thứ gì? Cũng tội nghiệp cho anh ta mua được một chiếc xe đạp, không dám để dưới công an phường mà gởi ở nhà tôi. Trước khi tôi ra đi, năm lần bảy lược kêu anh ta đem xe đạp gởi chỗ khác. Tôi lấy lý do là về quê cất nhà hơi lâu, sợ để ăn trộm rinh mất. May là anh ta cũng đã mang đi, nếu không tôi đi rồi, nhà sẽ bị niêm phong, anh ta không còn có dịp mang xe về Bắc!