Pages

Powered By Blogger

Friday, July 23, 2021

 

HỒI KÝ VƯỢT BIÊN

BÀI 5: TRÊN SÔNG TỪ CẦN THƠ XUỐNG CÀ MAU

Bài và hình: TRINH HAO TAM

Ở bến xe Cần Thơ 24 người chúng tôi chia ra nhiều nhóm nhỏ, chờ đợi ông Hai ra đưa xuống ghe nhỏ thì vợ Thời bạn tôi ra thăm, cho biết tình hình là tới giờ này dầu chạy ghe lớn ông Hai mua vẫn chưa đủ, các đồ cần thiết đi biển, nước, lương thực vẫn chưa đem xuống ghe lớn được. Cánh Trà Vinh gồm gia đình em gái tôi 3 người, hai thằng con chị tôi khoảng 12, 14 tuổi, 2 thằng cháu con của người chị cô cậu tên Hải và Thanh, gia đình ông Lý Trụ 3 người và thằng Sáu Mập khoảng 20 tuổi đã qua Cần Thơ chiều hôm trước, đêm rồi ngủ dưới ghe ở bến Ninh Kiều. Coi như đầy đủ hết chỉ còn gia đình Thời và Son ở Cần Thơ sẽ đi xuồng đuôi tôm theo khi gần tới sông Ông Đốc mới nhập vào.

Nửa giờ sau khi vợ Thời đi thì ông Hai lơn tơn đi ra với thằng con út tên Hùng khoảng 12 tuổi trong một bộ đồ Pyrama màu cháo lòng dính đầy dầu sơn. Ông Hai gặp bọn tôi giả vờ tay bắt mặt mừng nói lớn “Bộ đón xe đi Sài Gòn hả?”. Sau đó ông Hai và thằng con đón xe lôi từng 2, 3 người bọn tôi lên một chiếc đi xuống bến Ninh Kiều. Những người này sẽ phân phối xuống 2 ghe sông của chúng tôi là ghe Long Xuyên và một chiếc của ông Hai do thằng em trai tôi đi chuyến trước để lại. Hai ghe này mỗi ghe dài khoảng 11 mét có mui che kín từ mũi ra đến lái, ghe Long Xuyên gắn máy Yanmar 2 block còn ghe kia gắn máy F10. Loại ghe này dùng để chở trái cây, nông sản rất thông dụng ở Miền Tây.

Tôi không muốn xuống ghe sớm vì 3 đứa nhỏ 2, 4 và 6 tuổi nằm dưới ghe tù túng, tôi ghé thăm một người chú thứ Năm ở hàng cây bả đậu đường Nguyễn An Ninh. Trong các cô chú tôi ông này nghèo nhất, tôi gởi tiền cho ông và dẫn 2 đứa lớn đi ăn chiều trong khi vợ tôi và con gái 2 tuổi nằm ngủ ở nhà chú tôi. Chúng tôi ra trước rạp hát Minh Châu gần đó ăn hủ tiếu bò viên, hai đứa con tôi rất thích vì được đi chơi xa nhà và ăn uống món ngon vật lạ, chúng nó tưởng là đi du lịch. Nhìn chúng vô tư ăn uống đâu biết những ngày sắp đến nguy nan bất trắc, trong lòng tôi tan nát không cùng! Ba vì thương con mong tìm tương lai cho con nên mới ra đi, nếu có bề gì xin đừng trách ba tội nghiệp!

Tối chúng tôi tự động xuống bến Ninh Kiều có thằng Hùng chờ sẵn trên bến và nó dẫn xuống xuồng đuôi tôm để đưa ra ghe đậu giữa sông vì gần bờ thì ghe xuồng đã đậu chật hết. Những xuồng đuôi tôm hay chèo tay này là đưa mướn trả tiền mỗi người chỉ 50 hay 100 đồng cũ VNCH. Gia đình tôi xuống ghe Long Xuyên thì gặp em gái tôi cùng chồng và con gái nhỏ tên Kim Chi 2 tuổi. Hai cháu kêu tôi bằng cậu ruột đưa tôi lá thư của ba tôi viết gởi gấm tụi nó đi với tôi. Hai đứa này cùng gia đình chị tôi vượt biên bị bắt ở Cà Mau, tôi tưởng tụi nó còn ở tù chưa được thả nên không có trong danh sách đi chuyến này. Sau này tôi phải đưa cho ông Lê Xâu 5 lượng vàng vì thêm người.

Xuống ghe nói chuyện một chút thì nghe tiếng xào xạt dường như có một xuồng chèo cập vào ghe tôi. Môt bộ đội mặc đồ lính xanh đi vào ghe, tôi xanh mặt tưởng là số con rệp đã tới! Không biết ai báo ra sao mà chuyến vượt biên bị phát hiện! Điệu này là tan tành theo mây khói hết, vào tù là kể chắc! Anh chàng bộ đội giọng miền Bắc hỏi “Anh nào là anh Tâm?” tôi càng tê tái và anh ta tự giới thiệu là rể ông Hai tên là Niên. Tôi nhớ lại có nghe ông Hai nói là có thằng rể bộ đội phục viên (giải ngũ) vì con gái ông tập kết ra Bắc nay đã về lại Cà Mau, anh này sẽ phụ trách môt số công việc cho ông Hai. Tôi mừng quá, chuyến đi của mình chưa đến nỗi nào!

Niên nói anh Tâm đã xuống như vậy là đủ người rồi, chúng ta không ở đây được nữa mà phải lui ghe vào miệt trong Cái Răng vắng vẻ hơn và gần “con cá mập” tức là ghe lớn. Anh ta cũng cho hay là ghe thứ hai đậu gần đây chở gia đình Lê Xâu, gia đình Chu, Tổ tức là cánh Sài Gòn xuống sáng nay cũng đã đi về Cái Răng do anh Tư Phúc lái. Còn ghe này anh lái có thằng Hùng  theo phụ. Niên có thuật lại là khi ghe Tư Phúc đậu gần đây, do lên xuống người lạ có dáng dấp Sài Gòn nên ghe đậu bên cạnh có người ra dòm ngó nên anh Tư Phúc kêu đi sớm.

Gần một giờ sau thì ghe chúng tôi tới Cái Răng cũng nằm trên sông Cần Thơ, một vùng ngoại ô phía Tây của thành phố lớn Cần Thơ. Ghe tôi đi lui vào một rạch trong vườn dừa thì gặp ghe lớn Cá Mập pha đèn sáng và ghe Tư Phúc với nhóm Lê Xâu cũng đậu gần đó. Đêm đó bà Hai nấu cháo gà và anh em nhậu đến khuya. Khi ngà ngà say chúng tôi có rủ ông Hai theo, ông Hai có vẻ sợ không dám nhưng bà Hai thì muốn đi.

Ngày 1-12-1978

Ba giờ sáng tôi bị đánh thức vì những tiếng la oai oái trên sông của các bà nhà quê đi chợ buôn bán sớm ngồi trên những chiếc xuồng được kéo bởi một ghe gắn máy đuôi tôm. Đoàn xuồng này bị nước chảy xiết cuốn trôi và vướng vào một đáy cá khiến ghe mắc kẹt không đi được. Ghe lớn và ghe Tư Phúc cũng bị tuột neo trôi đi và vướng vào một đáy cá khác. Chúng tôi chỉ hay được khi anh chủ đáy cá ra bắt bồi thường vì rách lưới, Đang hì hục để tháo gỡ lưới mắc dưới chân vịt thì hai ghe đuôi tôm của Thời và Son từ Cần Thơ đi ngang qua và cho hay tụi nó đi trước và sẽ chờ ở chợ tỉnh Vị Thanh. Sợ trời sáng thấy trên ghe đông người các nhà xung quanh có thể nghi ngờ nên ghe Long Xuyên tụi tôi đi trước. Đi chưa tới cầu Cái Răng thì máy Yanmar 2 block hục hặc một lúc rồi ngừng nổ, xem lại thì nó hết dầu! Sau khi lấy dầu ra đổ, nó cũng không chịu nổ, bộ đội Niên rể ông Hai quay muốn chết mà máy vẫn ì ra không chịu nổ, có lẽ vì không khí lọt vào đường dẫn dầu. Thằng Lâm con ông Hai lái Cá Mập sau khi gỡ lưới xong đi tới thấy vậy nhảy qua, nó biết ý máy này nên “xả gió” sửa một lát thì máy nổ. Sau đó chúng tôi tiếp tục đi, Cá Mập chạy trước nhưng cách xa vài trăm thước để cho người ta khỏi nghi ngờ nhưng giữ khoảng cách làm sao cho chiếc này thấy chiếc kia. Ngang qua chợ Vị Thanh lúc 10 giờ cũng không thấy ghe anh Tư Phúc đã đi trước khi ghe tôi châm dầu và sửa máy. Cũng không thấy 2 ghe đuôi tôm của Thời và Son.

Đêm qua xem lại cái đèn pin không cháy sáng nên vài người chúng tôi lên chợ Vị Thanh mua pin đèn và mua đồ ăn sáng. Đây là lần đầu tiên tôi biết chợ Vị Thanh, dù là tỉnh  nhưng chợ nhỏ như chợ quận, ngày trước tôi có người bạn làm Trưởng Ty Công Chánh ở đây. Khi xuống nhận nhiệm sở anh ta không biết tình hình an ninh ở đây xôi đậu nên lái xe Honda xuống, may mắn là không bị VC bắt dọc đường!

Khi đến chợ Bảy Ngàn thì gặp ghe của Thời và Son, gắn máy Kohler 7 mã lực kéo theo một xuồng nhỏ không máy. Thằng Sáu Mập đội nón lá ngồi một mình trên chiếc xuồng nhỏ đó trông rất tức cười, dân quê đâu có người nào mập và dáng dấp thành thị như nó, ngồi cứng đơ vì sợ xuồng chìm!

Để tiết kiệm xăng vì lúc đó “xăng dầu là mặt hàng chiến lược” nhà nước quản lý, mua rất khó, ghe Long Xuyên tôi phải kéo thêm hai ghe nhỏ của Thời và Son, Sáu Mập. Trong lúc kéo 2 xuồng thì có rất nhiều ghe chèo thấy vậy tưởng là kéo mướn nên la lên “Kéo tôi với, kéo tôi với”. Phải chi không vượt biên có lẽ tôi cũng kéo dùm, đằng này mình lo việc lớn không muốn dính dáng lôi thôi nên tôi nói “máy cũ kéo nhiều chạy không nỗi” để mà từ chối.

Chạy một lúc ngang một xóm nhà cạnh bờ sông, trên cây cầu nhỏ bắc xuống sông có hai công an áo vàng mang súng đứng ngoắc đoàn ghe chúng tôi vô. Tôi nghĩ rồi rồi, chắc tại thằng Sáu Mập lộ liễu quá nên mới bị phát hiện. Họ mang súng chạy luôn sợ không xong, nên chúng tôi phải ngừng lại tấp vào. Bộ đội Niên lên nói chuyện thì hai công an cho biết muốn có giang đến Vĩnh Thuận. Niên kéo chiếc xuồng Sáu Mập ngồi cho hai công an lên ngồi chung vì không muốn họ vô hai ghe chúng tôi thì lộ hết. Niên là bộ đội miền Bắc nên hai công an không nghi ngờ gì! Sáu Mập ngồi đối diện với hai công an, nhìn thật căng thẳng buồn cười.

Khoảng hơn 6 giờ chiều đoàn ghe tới Vĩnh Thuận, hai công an đã lên bờ  trước đó, chúng tôi tìm một khúc sông vắng vẻ đậu lại. Ghe biển Cá Mập và ghe Tư Phúc cũng đậu bên cạnh, có nghĩa là cả đoàn hội ngộ trên khúc sông vắng vẻ không xóm nhà này, hai bên bờ là ruộng hoang lau sậy, lục bình trôi ngập đầy sông.

Tôi nhảy xuống sông tắm, dòng nước trong lành mát rượi, tôi nghĩ đây có lẽ là lần tắm sông cuối cùng trên dòng sông quê hương thân yêu. Cơm nước xong, con trăng thượng tuần chữ C treo trên cao cũng là lúc các đàn muỗi nhào ra tấn công tới tấp. Đám con nít đã vô mùng ngủ, trời nóng quá, ghe chật chội nên chúng tôi tụ họp trên ghe biển lớn pha cà phê uống. Cà phê thơm thật ngon khiến tôi nhớ lại những ly cà phê Sài Gòn, giờ đã xa rồi, chỉ cách 300 cây số thôi nhưng tôi thấy xa vời vợi. Ôi Sài Gòn vĩnh biệt, bao giờ mới trở lại!

 

HỒI KÝ VƯỢT BIÊN

BÀI 4: NGÀY GIÃ TỪ SÀI GÒN

Bài và hình: TRINH HAO TAM

Cách nay đúng 40 năm trước hôm nay là ngày tôi giã từ Sài Gòn, ngày 30-11-1978 thành phố thân yêu mà tôi đã sống trên 11 năm với biết bao nhiêu kỷ niệm. Tôi sẽ ra đi đến một nơi nào chưa biết trước được, mà không biết có còn sống sót hay không? May mắn nếu sống sót thì chắc sẽ ra đi vĩnh viễn không ngày trở lại!

Hôm nay là ngày N khởi sự cuộc hành trình, chúng tôi quyết định là cánh đi từ Sài Gòn với tất cả 24 người phải có mặt trước rạp Quốc Thái đường Trần Quốc Toản lúc 6 giờ sáng. Xe sẽ đến đón tại đây để đi Cần Thơ. Đêm hôm trước thì vợ và 3 đứa con tôi 2, 4 và 6 tuổi đã mang hết hành lý sang qua nhà má vợ tôi ngủ để giã từ. Cảnh chia lìa mẹ con, bà cháu đau đớn như thế nào thì chắc các bạn cũng biết! Tôi ngủ tại căn nhà 195 Phạm Ngũ Lảo với Chu và Tổ, hai thanh niên khoảng 20 tuổi ở Đa Kao ngang rạp Casino mà cả gia đình tất cả 7 người sẽ ra đi cùng chúng tôi hôm nay. Ngoài Chu và Tổ là anh em, 5 người kia còn lại toàn là phụ nữ người Hoa gồm bà nội già khoảng 65, bà mẹ và 3 người cô độc thân. Mẹ Chu và Tổ là em của ông Thành Xương ở Trà Vinh đã ra đi chuyến trước trong ghe em trai tôi là Trịnh Quan Trung hiện ở Toronto. Ông Thành Xương đi được và định cư ở Anh, gởi gấm gia đình em gái lại đi với tôi.

Năm giờ sáng 3 chúng tôi thức dậy không xếp mùng mền như thông lệ mà bỏ mặc tất cả. Đồ đạc trong nhà những món có giá trị như TV, tủ lạnh nhỏ, radio cassette, máy hát băng Akai, amply, loa đã mang đi nơi khác từ những ngày trước. Ông già bán cà phê trước nhà hỏi sao bán, tôi nói hết tiền bán lần mua gạo. Chúng tôi lên hai xe Honda đến nhà má vợ tôi ở đường Phan Thanh Giản Quận 3. Sài Gòn vắng vẻ như nghĩa trang, đèn đường cúp điện mờ tối nên chút nữa là xe tôi vướng vô dây kẽm gai rào lại nơi Hội Nghệ Sĩ trong đám tang cô đào Thanh Nga mới bị ám sát chết vài ngày trước đó cùng với chồng là ông Lân Đổng Lý Văn Phòng Bộ Thông Tin thời VNCH.

Khi chúng tôi đến nhà bên vợ thì chiếc taxi tôi dặn hôm trước đã chờ ở đó. Vợ con từ giã bà già ra đi trong nước mắt. Hai chiếc xe Honda bỏ lại cho má vợ tôi, chắc bả sẽ bán rẻ để lấy phụ tùng, tất cả 4 người lớn, 3 đứa nhỏ lên xe. Tôi nói với bác tài xế chở chúng tôi ra xa cảng Miền Tây đề về quê sớm kẻo hết xe. Nhưng khi vừa qua khỏi rạp Quốc Thái tôi kêu bác tài cho chúng tôi xuống đây, tôi nói rằng vừa thấy chiếc xe đò quen còn đậu ở đây. Tôi xuống đó nhìn quanh các bàn cà phê thì thấy cánh ông Lê Xâu 7 người (2 vợ chồng với 5 con) và người em vợ là Dương Sum 5 người (2 vợ chồng 3 con) đã tề tựu đầy đủ đang ngồi nhấm nháp cà phê. Một lát sau thì 5 phụ nữ gia đình Chu Tổ cũng tới bằng taxi.

Sáu giờ thì xe đò tới, đây là một chiếc Microbus, chủ xe bà con với ông Lê Xâu hôm qua đã báo với Ban Giám Đốc Xa Cảng Miền Tây là xe trục trặc nghỉ một ngày để sửa chữa. Muốn di chuyển 24 người mà không có xe riêng thì kẹt lắm. Ở thành phố muốn về tỉnh phải có giấy đi đường do công an cấp, rồi ra xa cảng sắp hàng để chầu chực mua vé, chỉ bán vé cho người có giấy phép đi đường. Còn không thì mua vé chợ đen.

Chủ xe là bà con thì không sao nhưng tài xế và lơ xe thì hơi ngại nên chúng tôi trả 500 đồng mới (lúc đó 2,000 đồng một lượng vàng) cho 2 người. Xe chạy ngang qua Xa Cảng Phú Lâm thì cũng không ai ra chận, đến trạm kiểm soát xa lộ Đại Hàn thì anh lơ nhảy xuống đi trình giấy tờ gì đó. Vài công an áo vàng ra ngó dáo dác trên mui thấy không có hàng hóa gì ráo nên khoác tay cho đi. Hàng lậu thì không có nhưng người vượt biên thì ngồi đầy trong xe mà họ không biết!

Xe tới Bắc Mỹ Thuận thì chưa tới 8 giờ sáng, mọi người phải xuống xe đi bộ qua phà. Anh lơ trao cho mỗi người một vé đò nho nhỏ cầm xuống phà. Tôi sợ mấy người đàn bà và con nít đi bộ qua phà không kịp nên tôi đi sau chót mà nhìn tới trước để kiểm điểm mọi người. Thấy nhiều người trong nhóm xuống nhưng không thấy xe đò mình xuống, tôi tưởng xe mình còn kẹt lại nên tôi ở lại đi chuyến phà sau. Hóa ra vì không nhận dạng kỹ chiếc xe mình đi nên tôi không thấy nó đã xuống phà, khiến ông Lê Xâu và nhiều người lo lắng không biết tôi có chuyện gì mà không có mặt trên đò. Tôi bị bắt thì ai sẽ điều khiển tàu ngoài biển? Qua phà họ lên bờ chờ tôi, xe cũng đậu lại chờ mà công an cũng không để ý gì vì xe đò bình thường cũng chờ một vài người trễ vì đi vệ sinh hay mua quà cáp bánh trái gì đó xuống phà trễ.

Xe chạy nửa giờ thì tới Bắc Cần Thơ, mọi người cũng lại xuống xe đi bộ qua. Đến đây thì chiếc xe chúng tôi đi sẽ quay đầu chạy về Sài Gòn. Để khỏi bị nghi ngờ và kiếm thêm tiền bạc, xe rước  một số hành khách, đây là hành khách thật. Chúng tôi chia tay với người chủ xe, tài xế và anh lơ nhanh nhẹn nhiệt tình. Có lẽ họ chia sẻ với chúng tôi nỗi phập phồng lo sợ không biết tụi tôi có đi đến nơi bình an hay không?

Qua bắc Cần Thơ rồi chúng tôi lên xe lôi đến nơi hẹn là bến xe Cần Thơ chỗ xe đi Sài Gòn đậu nằm cách đó chừng hai cây số. Nơi đây bọn tôi vào các quán kêu cơm ăn và chờ gia đình ông Hai ra đón để xuống các ghe nhỏ đậu ở Bến Ninh Kiều cạnh chợ Cần Thơ nơi có tượng của Bác mỉn cười. Tụ tập đông người và đi cùng một lúc sẽ khiến công an nhận ra và theo dõi, nên chúng tôi làm như các gia đình xa lạ nhau, ăn uống chờ đợi để đón xe di Sài Gòn. Một giờ sau thì vợ của Thời ra gặp để cho biết tình hình bến bãi Cần Thơ như thế nào.

Tới đây tôi xin nói về một nhân vật nữa sẽ tham gia đi với chúng tôi là người bạn thân nhất, tôi quen với hắn từ 1963 lúc đó tôi mới qua trường Công Lập Vĩnh Bình học lớp Đệ Tam. Thời bị động viên đi lính VNCH trở thành trung sĩ thông dịch viên cho Sư Đoàn 21 bộ binh đóng ở Sóc Trăng. Sau trân chiến An Lộc Nguyễn Văn Thời bị thương và giải ngũ về Cần Thơ làm Phường Trưởng và bị đi tù cải tạo sau khi mất Miền Nam. Sau khi ra tù Thời phụ vợ buôn bán hủ tiếu, phân phối nước đá cho các quán cà phê ở Cần Thơ, làm tài công một vài chuyến cho các ghe chở trái cây. Khi thấy ông Hai kéo dài việc đóng ghe, có thể để moi thêm tiền từ chúng tôi, tôi rủ Thời tham gia để có người ở ngay Cần Thơ phụ giúp và thông tin liên lạc giữa chúng tôi ở Sài Gòn và ông Hai ở Cần Thơ. Tôi đồng ý ngoài gia đình Thời vợ với 2 con nhỏ còn đem thêm gia đình Nguyễn Văn Son với vợ và một con trai nhỏ, Son trước đây là Biên Tập Viên (Đại Úy) Cảnh Sát bà con vói Thời cũng là bạn với tôi dù không thân lắm vì khác chỗ ở nên ít gặp nhưng Son là người hiền lành đáng tin cậy.

Khi tôi cho ông Hai biết là tôi có nhận thêm Thời vào chuyến đi và Thời ở ngay tại Cần Thơ, ông Hai có vẻ phản đối nói rằng người học tập ra không tin được. Nhưng tôi nói đây là thằng bạn thân tín biết nhau rất lâu, Mâu Thân 1968 Thời ở nhà tôi ở Trà Vinh khi làm thông dịch viên cho USAID Vĩnh Bình. Lên Sài Gòn tôi và Thời cùng ở nhà của ông Vương Hồng Sển và Bà Năm Sa Đéc số 5D Nguyễn Thiện Thuật Gia Định khi tôi học trường Công Chánh và Thời học Trường Sinh Ngữ Quân Đội trong Bộ Tổng Tham Mưu. Bị thương ở An Lộc trong lúc chờ ra hội đồng giải ngũ Thời cũng ở chung cư 60 Võ Tánh với gia đình tôi. Tôi xem như họ hàng trong nhà. Tôi và ông Lê Xâu khẳng định cho Thời tham gia nên ông Hai miễn cưỡng chấp nhận. Từ khi có Thời và vợ giám sát, việc đóng ghe tiến triển nhanh hơn. Vài năm sau khi tới bến bờ tự do, ở thủ đô Washington DC Thời là chủ nhân hệ thống nhà hàng Nam Việt. Thời đã mất cách nay 10 năm vì ung thư phổi!

 

HỒI KÝ VƯỢT BIÊN

BÀI 3: KÉO DÀI VIỆC ĐÓNG GHE

Bài và hình: TRINH HAO TAM

Bắt đầu đóng ghe từ tháng 4 năm 1978 sau khi ông Lê Xâu thuyết phục tôi nên ra đi vì ở lại không biết cuộc sống sẽ đi về đâu khi đất nước rơi vào tay bọn khỉ rừng này! Bao nhiêu lần đưa tiền cho ông Hai và ông hứa sẽ xong cho chúng tôi ra đi vào tháng 7 hoặc tháng 8 này nhưng cho đến cuối tháng 9 tôi xuống Cần Thơ thì ghe chỉ mới xong phần lường, máy, hộp số, láp, chân vịt, bánh lái vừa được gắn vào. Tôi đôn đốc ông làm mau lên vì mùa giông bão tháng 10, tháng 11 sẽ đến ra đi không được. Ông nói không sao đâu, mùa đó vùng Vịnh Thái Lan có bão cũng không đến nỗi nào, vẫn đi được. Dù không kinh nghiệm đi biển trong mùa đó nhưng nhìn bản đồ thấy ông Hai nói cũng có lý vì vịnh nhỏ được bao bọc bằng đất liền bởi Việt Nam và Cambodia. Việt Nam có hai mùa gió: Mùa mưa từ tháng 4 cho đến tháng 11 gió Nồm thổi từ hướng Tây Nam lên hướng Đông Bắc. Mùa nắng từ tháng 12 đến tháng 3 gió Bấc hay trong Nam gọi là gió Chướng thổi ngược lại từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Mùa bão ở VN thường xảy ra trong khoảng từ tháng 7 đến tháng 12 là do đuôi các trận bão từ hướng Đông thổi vào.

Ông Hai than hết tiền, tôi và ông Lê Xâu phải nhận thêm bà con tham gia vào chuyến đi. Thấy công chuyện có vẽ chậm chạp quá trong lúc đó tôi có thằng bạn thân nhất đang ở Cần Thơ nên tôi kêu nó tham gia vào chuyến đi, vừa thương giúp nó vừa có người ngay tại địa phương theo dõi, đôn đốc, báo cho tôi biết công việc để tôi có thể đáp ứng tiền bạc, cung cấp đồ đạc kịp thời. Chứ để ông Hai đơn độc, một mình ở đây tôi lo quá. Tháng trước ông nói ông trở về Sông Ông Đốc cất lại căn nhà, rồi mua radio cassette nghe cải lương trong khi ghe tôi nằm ở đây 4, 5 tháng rồi chỉ mới xong cái lường! Kéo dài càng lâu công việc càng trở nên dễ bại lộ. Lúc đó phong trào vượt biên đã lên rất cao, sau 3 năm nếm mùi thiên đường CS dân miền Nam đã liều mạng ra đi bất chấp bị bắt, tiêu tan của cải, ghe chìm mất mạng, đói khát khi ghe chết máy lênh đênh trên biển hay bị hải tặc cướp bóc, hãm hiếp, giết chết. Mỗi ngày tỉnh nào cũng có người bị bắt vì vượt biên.

Ông Lê Xâu rất nôn nóng vì hai thằng con lớn đã ra đi với em tôi đang ở đảo thuộc Mã Lai, bàn với tôi liệu mình có nên đem ghe ra để đi bán chính thức không? Tôi nhận xét cho rằng tới giờ này ghe mình vẫn còn giữ được an toàn chưa bị lộ, ông bà Hai trong con mắt công an vẫn còn là “cha mẹ chiến sĩ cách mạng”, vẫn đơn thuần là dân chài có công với cách mạng, ngày đêm lam lũ lui cui lo sửa ghe để đem về Cà Mau đánh cá kiếm cơm qua ngày. Không thấy có dấu hiệu dính dáng gì đến bọn vượt biên phản động. Nếu mình đem ghe ra trình diện đăng ký bán chính thức trước hết mình sẽ mất quyền chủ động, không còn làm chủ ghe mình được nữa. Bọn công an địa phương sẽ khống chế mình, muốn đưa ai xuống chỉ huy mình cũng được, nhận vàng bắt mình phải nhận người của họ. Ra khơi họ có súng còn mình tay không! Nhiếu tàu đi bán chính thức bị lật chìm vì chở quá đông, hành khách mất trật tự, vô kỹ luật, sợ ngộp kéo nhau lên boong khiến tàu chênh vênh mất thăng bằng bị lật!

Thật sự mà nói, không phải tự hào nổ sảng, tôi chỉ tin tưởng ở tôi mà thôi! Chuyện gì không biết thì phải học, phải nghiên cứu tìm hiểu, phải làm hết sức mình. Không giao sinh mạng mình, người thân mình vào tay những người khác. Nhiều chuyến tàu nhờ tôi đi làm hoa tiêu, đem hết gia đình không mất tiền bạc nhưng hỏi qua về cách tổ chức tôi không dám nhận lời. Khi đã nổ lực hết sức mình, nếu có thất bại mình cũng bằng lòng hả dạ.

Trong khi ghe đóng ở Cần Thơ, ở Sài Gòn tôi vẫn là công nhân viên nhà nước ngày ngày chạy Honda đi làm bên Thị Nghè. Sau 1975 từ Võ Tánh tôi dọn về Phạm Ngũ Lảo nơi góc Đề Thám thuộc Phường 17 Quận 2 lúc đó. Căn phố này của chú tôi là nha sĩ học bên Tây vế, là rể của ông Benoit Châu một nhà giàu ở quận 3, con cháu của ông Huyện Sĩ. Ông Huyện Sĩ ngày xưa là chủ đất hết cả vùng chợ Thái Bình, mới cất dãy phố trên đường Phạm Ngủ Lảo này và ông Benoit Châu mới cho chú tôi một căn để làm phòng nha khoa. Sau 1975 trước khi sang Pháp, vì thím tôi quốc tịch Pháp, chú tôi làm giấy sang căn nhà cho tôi. Lúc đó là cán bộ công nhân viên nên tôi nhập hộ khẩu dễ dàng và dân ở đây lại bầu tôi làm Tổ Phó tổ dân phố vì tôi làm cho nhà nước và hay giúp đỡ tranh đấu phản ảnh các vụ gạo đường bột ngọt cho đồng bào. Tổ trưởng khu phố này là đạo diễn Lưu Bạch Đàn ông ta chỉ là thành viên Hội Nghệ Sĩ chứ đâu là công nhân viên lãnh lương nhà nước như tôi! Nhờ nhản hiệu đó mà cái đám “cách mạng 30” nể mặt không dám dòm ngó.

Lúc đó từ việc cung cấp bản đồ hàng hải cho những chuyến vượt biên chui hay bán chính thức tôi làm thêm một nghề ít người làm là buôn bán la bàn đi biển. La bàn thời đó rât hiếm hoi nên đắt tiền và là một mặt hàng quốc cấm mặt dù không có luật lệ nào ban hành nhưng hể ai buôn bán là bị bắt. Nhưng ở VN cái gì cũng có, muốn tìm mua la bàn ra đầu đường Nguyễn Huệ gần bồn phun nước, các tay buôn bán la bàn, vàng và đô la ngồi ở các ki ốt bán hoa. Trước 1975 giới ngư nghiệp đánh cá biển ngoài xa chuộng la bàn loại gắn trên thiết vận xa M88 màu đen có mặt kính bán cầu, dĩa mặt số phương hướng chao lượng được khi tàu lắc. Loại lớn hơn trang bị trên tàu Mỹ há mồm BCF nên la bàn này gọi là la bàn BCF, loại này to lớn mặt kính phẳng có đèn chiếu sáng rất đẹp. Còn các tàu hàng dân sự to lớn thì dùng các la bàn mặt số đường kính 2, 3 tất thường do hãng Seiki của Nhật Bản chế tạo.

Ở VN cái gì cũng có đồ giả, la bàn cũng vậy do trong Chợ Lớn làm, cũng rất công phu phối hợp giữa các thợ tiện làm body la bàn, thợ làm mặt kính đồng hồ Seiko giả để làm mặt số và thợ làm chụp đèn lái xe Honda để làm mặt cầu cho la bàn. Loại giả này làm khá tinh xảo, người không chuyên môn khó phân biệt được. Loại giả này cũng xài được nhưng độ sai lệch cao, chao lượng xong , mặt số chậm về vị trí đúng của nó. Thời 1978 giá loại giả này cũng bằng 1, 2 lượng vàng (giá vàng thời đó khoảng 2,000 đồng tiền mới một lượng).

Để tránh bị bắt bớ, tôi không trực tiếp bán, chỉ giao thiệp với 1, 2 người gốc Hoa ở chợ trời Nguyễn Huệ trong đó quen nhất anh tên Hùng, đã vượt biên nhưng tới nay không biết sống chết hay định cư ở đâu chưa gặp lại. Hoặc là giao cho bạn bè đi bán, cũng có vài lần bạn bè bị công an bắt nhưng cũng được thả ra sau khi tịch thu la bàn! Có một lần tôi bị một đàn em gạt, thằng này rất hiền lành đã từng bán cho tôi vài cái. Lần sau cùng hắn ta nói có một mối đi bán chính thức ở Vũng Tàu muốn xem vài cái, tôi chở anh ta đến một con hẻm đường Nguyễn Thông. Anh ta nói người ta ngại nên kêu tôi ngồi trên xe Honda ở ngoài chờ và mang đi 3 cái la bàn vừa thật vừa giả. Ngồi chờ hơn một tiếng đồng hồ là biết đã bị gạt! Làm nghề nào cũng có lúc gặp điều không như ý! Ngoài la bàn người ta cũng cần ống dòm lúc đó cũng rât hiếm.

Muốn sống dưới chế độ đó tôi thường đùa rằng “Nói như Cộng Sản, sống như Tư Bản và suy nghĩ như Lão Trang”. Họp tổ dân phố, tôi là người bị công an khu vực yêu cầu đứng ra thuyết minh, giải thích về những chính sách mới của nhà nước. Kêu người ta làm nhưng tôi không làm. “Đi với sư mặc cà sa, đi với ma mặc áo giấy”. Thời Hồ Mạt là phải giả dối nhưng chớ hại ai là được.

Có một chuyện cũng rất thót tim mà cũng buồn cười! Một hôm tôi ngồi trong nhà, trên bàn viết tôi ngồi đồ lại bản đồ đi biển để cung cấp cho khách hàng vì bản chính tôi chỉ còn duy nhất một tấm mà ra tiệm photocopy là dính. Nhìn ra cửa thấy anh công an khu vực xâm xâm đi vào! Anh ta thường tới để hỏi han này kia hay chỉ là muốn tôi dẫn đi uống cà phê như bao lần khác. Cất giấu thì không kịp, tôi thản nhiên tiếp tục làm. Anh ta hỏi tôi làm gì thế? Tôi nói “Công tác ở cơ quan dạo này khá khẩn trương nên phải mang về tranh thủ làm!” Rồi đưa anh ta ra quán cà phê trước nhà. Thấy anh ta cũng vô tư không nghi ngờ gì! Chắc anh ta chỉ nghĩ đến ly cà phê và điếu thuốc Vàm Cỏ mà không biết bản đồ hàng hải là cái thứ gì? Cũng tội nghiệp cho anh ta mua được một chiếc xe đạp, không dám để dưới công an phường mà gởi ở nhà tôi. Trước khi tôi ra đi, năm lần bảy lược kêu anh ta đem xe đạp gởi chỗ khác. Tôi lấy lý do là về quê cất nhà hơi lâu, sợ để ăn trộm rinh mất. May là anh ta cũng đã mang đi, nếu không tôi đi rồi, nhà sẽ bị niêm phong, anh ta không còn có dịp mang xe về Bắc!

 

HỒI KÝ VƯƠT BIÊN

BÀI 2: ĐÓNG GHE LỚN

BÀI VÀ HÌNH: TRINH HAO TAM

Vậy là chuyến vượt biên bắt đầu được lên kế hoạch, an toàn là điều quan trọng nhất, làm sao để không bị bắt? Muốn vậy cần phải giữ hết sức bí mật, ngoài những người tham gia trong chuyến đi và những người cộng tác nhưng ở lại, số người biết về chuyến đi càng ít càng tốt. Số người đi toàn là gia đình họ hàng hay bạn rất thân và cùng chí hướng, con số này càng ít càng an toàn khi di chuyển. Lúc đầu tính toán chỉ gồm khoảng 30 người nhưng sau đó vì cần thêm tài chánh nên cuối cùng con số tăng lên tới giờ cuối cùng rời khỏi VN là 44 người trong đó phân nửa là con nít dưới 16 tuổi.

Ông Lê Xâu và tôi thỏa thuận tất cả chi phí góp đều nhau mỗi người một nửa, số người đi hai bên cũng đều nhau nếu bên nào hơn thì bên đó trả thêm bằng cách tính toán chi phí của mỗi người so với tổng chi phí cho chuyến đi. Thật ra lúc đó tôi còn quá trẻ nên không chú trọng mấy vấn đề tiền bạc này chỉ mong sao đi thoát là được nhưng ông Lê Xâu là người lớn tuổi hơn, đầu óc tính toán thực tế hơn. Thấy cũng đúng, thà là giao kết sòng phẳng trước, để khỏi phải tranh chấp mất lòng sau này. Nguyên nhân thất bại trong sự cộng tác của người Việt chúng ta cũng là vì không giao kết rõ ràng trước cũng như không giữ chữ tín. Tôi xem chữ tín rất quan trọng khi cộng tác công việc với ai.

Việc đầu tiên là phải đóng ghe trước, ghe đóng phải đi biển an toàn, lướt sóng vững vàng không dễ lật ngang, gỗ tốt, ráp nối toàn dùng bù lon chứ không dùng đinh đóng, xảm trét ván thuyền làm kỹ lưởng không vô nước. Tôi đã từng là Trưởng Ban Đăng Bộ Giang Thuyền, Sở Hàng Hà (sau này VC gọi là Cục Đường Sông) nên hiểu biết kỹ thuật đóng ghe tàu nhưng đi vào chi tiết thực tế ngư dân Miền Nam áp dụng trong việc đóng ghe thật tình tôi còn thiếu kinh nghiệm nhưng việc này có ông Hai ở Sông Ông Đốc là người tổ chức lèo lái khi còn trên bờ lo. Còn khi ra biển là nhiệm vụ của tôi. Nghĩ tới đây tôi lấy làm cảm kích sự tin tưởng của 43 người đã phó thác sinh mạng của mình vào tay tôi, một người yếu đuối 31 tuổi đời!

Nói về nhân vật ông Hai thật sự nếu không có ổng thì chắc tôi đi cũng không được mặc dù ổng không phải là người hoàn toàn tốt lành. Ổng kéo dài công việc đóng ghe ra để moi tiền tôi và ông Lê Xâu nhưng được là ổng không kéo dài mãi, cuối cùng cũng phải xong để chúng tôi ra đi. Năm đó ông Hai khoảng 60, ông Lê Xâu khoảng 50, ông Hai thời chiến tranh trước 1975 là ngư dân ở làng Ông Đốc nơi có cửa sông đâm ra biển. Làng Ông Đốc thuộc tỉnh Cà Mau là vùng xôi đậu, tranh tối tranh sáng nhưng đa phần là do VNCH kiểm soát, khi VC đến thì người dân phải sống với họ. Khi quân đội VNCH hành quân thì VC phải rút vào rừng, ông Hai cũng như dân làng cũng phải che chở và giúp di tản vô rừng mắm hay ra biển lên ghe đi nơi khác. Vì vậy ông Hai rất am tường địa thế vùng Sông Ông Đốc, ngày nay ông là “cha mẹ chiến sĩ”, hình như con gái ông tập kết ra Bắc và hiện nay con gái ông trở về ở với ông và chồng là bộ đội giải ngũ người Bắc tên Hiên.

Em trai tôi có một người bạn thân cũng là rể của ông Hai và ông đã tổ chức cho tụi nó ra đi mấy tháng trước đây và chuyến đó ông Lê Xâu cùng vợ và 5 con bị bỏ lại, chỉ 2 người con trai lớn là đi được. Vì vậy ông Lê Xâu tìm đến tôi để cùng hợp tác làm ghe đi trở lại, tôi lo về hải hành, định vị, phương hướng. Ông Lê Xâu lo về tài chánh và ông Hai lo đóng ghe, nhiên liệu, thực phẩm, đưa người vào rừng và đem ghe lớn ra biển. Chúng tôi nhờ ông Hai tìm dùm một tài công có kinh nghiệm lái ghe đánh cá và biết về máy Diesel chạy ghe với điều kiện người này ra đi một mình. Ông Hai giới thiệu một ông gốc Tàu đi lính cho Tưởng Giới Thạch rồi sau này theo ông cha Nguyễn Lạc Hóa vào ở trong biệt khu Hải Yến ở Cà Mau. Khi VC chiếm miền Nam, dân trong biệt khu này sợ bị trả thù nên chạy tán loạn. Ông Hai nói ông tài công này đòi 10 lượng vàng vì phải để lại cho vợ con và chúng tôi đã đưa vàng cho ông Hai. Tới giờ chót khi lên ghe lớn ra biển ông Hai nói ông tài công Tàu này đã bỏ trốn!

Ông Lê Xâu và ông Hai gặp nhau ở Cần Thơ và tìm kiếm mua ghe. Khi đó tình hình vượt biên rất rầm rộ vừa đi chui vừa đi bán chính thức như mua bãi chung tiền cho nhà nước để không bị bắt bớ. Do đó ghe và động cơ chạy ghe rất khó tìm và lên giá rất cao. Cuối cùng cũng mua được một chiếc ghe đi sông kiểu Long Xuyên gỗ đóng ghe rất cũ nhiều chỗ đã mục nhưng máy Yanmar 3 block 30 mã lực còn khá. Chủ không chịu bán máy không mà bán luôn cả ghe vói giá 18 triệu đồng cũ VNCH (tức 36 ngàn tiền mới lúc đó 1978 hay là 3,600$ tiền VN ngày nay 2018). Để so sánh giá trị tiền lúc đó thì năm 1970 tôi mua căn chung cư trên cao ốc Hoa Lư số 60 Võ Tánh Quận 2 với giá 2 triệu đồng cũ VNCH.

Ông Hai đem ghe Long Xuyên mới mua về ụ ghe của ông Tư Chơn ở Cái Răng tháo lấy máy và gắn vào một chiếc ghe biển mới đóng bằng gỗ cây sao cũ còn tốt. Ghe biển này có giấy tờ mang số đăng bộ MH 3637 là ghe của ông ở Sông Ông Đốc mà ông có giấy phép lên Cần Thơ để tu bổ. Ghe biển này có kích thước chiều dài 13.40m, chiều ngang rộng nhất 4.20m và chiều sâu nhất 1.20m. Cứ mỗi cuối tuần vào chiều thứ Bảy, tan sở làm tôi ra xa cảng Miền Tây ở Phú Lâm để xuống Cần Thơ tiếp tế tiền bạc cho Ông Hai và mang những món trang bị ghe mà ông cần dùng. Mỗi lần đi phải mua vé xe chợ đen và luôn có sự vụ lịnh công tác (tôi tự làm cho mình để hộ thân vì lúc đó còn làm công nhân viên). Một lần phải mang xuống ụ ghe các thiết bị hệ thống lái cồng kềnh như bánh lái, lòi tói, rẽ quạt, ròng rọc khi xích lô máy vừa ngừng trong xa cảng Miền Tây mấy anh lơ xe nhào tới la lên “Đồ vượt biên bà con ơi! Mau mau bỏ trên mui! Đại ca chừng nào đi cho em theo nghen!” Tôi chột dạ: “Đừng giỡn bậy bạ, ở tù chết, mua cho quốc doanh đánh cá có giấy giới thiệu đàng hoàng”. Mà tôi có giấy giới thiệu thật, mua từ một người ở công ty quốc doanh đánh cá với giá 50 đồng, mộc tròn đỏ chói với ngôi sao đàng hoàng. Khi qua trạm kiểm soát ở bắc Mỹ Thuận gần ngả ba đi Sa Đéc dù có giấy giới thiệu mấy tay du kích cũng thâu 30 đồng thuế!

Tới Cần Thơ đem hàng vào ụ ghe cho ông Hai tôi đóng vai một anh chàng bán chợ trời, ai cần món hàng nào tôi sẽ tìm mua giùm và cung cấp đến tận nơi. Nhiều người đóng ghe trong ụ lại nhờ tôi mua món này món kia như chân vịt, bù lon, máy bôm nước, bình ắc quy.

Khi hoàn thành đem ghe xuống nước thấy nó lớn ra, bề thế, vững vàng làm tôi thấy vững tin trong lòng nhưng thật sự buồn lo, ngỗn ngang trăm mối tơ vò. Mình có can đảm ra đi hay không?

 

HỒI KÝ VƯỢT BIÊN

BÀI 1: HÌNH THÀNH CHUYẾN ĐI

BÀI VÀ HÌNH: TRINH HAO TAM

Cuối năm 1978 một người nhát gan như tôi đã làm một chuyện vô cùng nguy hiểm là đưa tất cả 44 người kể luôn tôi vào một chuyến phiêu lưu mà phần chết rất nhiều, phần sống rất ít. Nhiều người biết có thể chết nhưng vẫn mong muốn được tháp tùng, đưa tiền và vàng bạc để theo tôi, họ bỏ lại nhà cửa, mồ mả ông bà, xóm giềng thân thương với bao nhiêu kỷ niệm để mà ra đi, họ chỉ cần đi thoát ra khỏi đất nước thân yêu của mình với hai bàn tay trắng cũng được. Miễn là được đến bất cứ một vùng đất nào mà không có những chính sách, những luật lệ quái đản của những người cầm quyền không biết họ bị thần kinh hay quá độc ác, ngu đần? Tôi không hiểu được nhưng chỉ biết một điều là phải ra đi. Việc làm rất nguy hiểm nhưng tôi cố hết sức mình nên cho dù có thất bại, chết chóc hay ở tù mình cũng không than trách vì đã làm hết khả năng sức lực.

Tôi xuất thân từ trường Cao Đẳng Công Chánh Phú Thọ Sài Gòn năm 1969. Ra trường tôi được Nha Thủy Vận thuộc Bộ Giao Thông Công Chánh tuyển dụng và học việc ở Sở Hàng Hải Thương Thuyền nằm trong khuôn viên Bộ Công Chánh ở góc Lê Lợi và Pasteur. Mới làm vài tháng đến tháng 10 thì tôi bị bịnh sốt rét phải về nằm bịnh viện Trà Vinh để có gia đình săn sóc. Noel 1969 trình diện để nhập ngũ khóa 1/1970, sau 9 tuần huấn luyện ở Quang Trung tôi được biệt phái trở vế nhiệm sở cũ trong khi những người cùng khóa phải lên đường tiếp tục khóa sĩ quan ở Thủ Đức.

Thông thường những người ra từ trường Công Chánh làm ở Nha Thủy Vận phải ra công trường xa thành phố vài năm như đi làm trưởng xáng đào kinh, khai thông các thủy lộ, đi đo đạc thủy đạo để kiểm soát độ sâu các đường thủy quan trọng như tuyến sông từ Vũng Tàu vế Cảng Sài Gòn hay coi các hải đăng, thả các phao hiệu trên biển để đánh dấu các xác tàu chìm. Sau nhiều năm xa nhà họ có thể được bổ nhiệm làm trưởng ty các Ty Hàng Hải ở miền Trung hay các ty sở chuyên môn ở Sài Gòn. Riêng tôi có lẽ thấy tôi bệnh sốt rét xanh xao vàng vọt nên ông giám đốc Nha Thủy Vận cho tôi làm ở Phòng Giám Thị Giang Thuyền kiểm soát an toàn, đăng bộ ghe tàu, cấp giấy phép lưu thông, huấn luyện và tổ chức thi cấp bằng Tài Công, Thợ Máy điều khiển tàu thuyền. Năm 1974 tôi tu nghiệp ở Nhật Bản về ngành Đo Đạc Thủy Đạo trong 6 tháng là một ngành mà tôi rất thích vì có dịp khám phá những vùng sông biển và là một ngành quan trọng để phát triển kinh tế vì nước ta chằng chịt sông ngòi chưa khai thác trong việc lưu thông chuyên chở hàng hóa, nông hải sản.

Từ Nhật về nước tháng 11 năm 1974 đến tháng 4/1975 thì VNCH bị CS Miền Bắc xâm chiếm thi hành chủ nghĩa bành trướng của các quan thầy Nga Xô và Trung Cộng. Khi còn ở Nhật các bạn bè VN khuyên tôi ở lại học thêm khóa Đại Dương Địa Lý Học (Oceanography) nhưng vì muốn thấy mặt thằng con thứ hai vợ tôi mới sanh trong lúc tôi không có ở nhà nên tôi trở về để sau đó nếm mùi vị thiên đường CS.

Những ngày di tản cuối tháng 4/1975 tôi cũng không đi mặc dù Passport VNCH tôi vẫn còn hiệu lực, máy bay trực thăng di tản lính Mỹ đậu trên nóc buyn đinh đường Đinh Công Tráng bên cạnh buyn đinh tôi ở là 60 Võ Tánh Sài Gòn. Tôi nghĩ CS cũng là người VN, tôi còn rất trẻ mới 28 tuổi chỉ làm công tác chuyên môn kỹ thuật, ở lại để gắn bó với quê hương, xây dựng lại đất nước. Lúc đó chưa nếm mùi nên ngây thơ tin tưởng như vậy!

Họ lưu dụng tôi lại, mỗi tháng lãnh lương 50$ là số lương thấp nhất bằng với các cô thư ký và những bác lao công. Họ nói đất nước sau chiến tranh còn khó khăn, từ từ ổn định sẽ sắp xếp lại theo đúng khã năng mỗi ngành nghề. Tôi vẫn bị kỳ thị là “ngụy”, là nhân viên chế độ cũ, không được tin dùng, cán bộ họp cả buổi không biết bàn chuyện gì, ra là thảy cho chúng tôi một lô những công tác như khảo sát lòng sông Lòng Tào để đưa tàu Thống Nhất vào Sài Gòn, tu bổ các hải đăng, đánh dấu những xác tàu chìm. Tôi vẫn tích cực công tác và làm hết khả năng của mình nhưng vô ích không khác gì làm với lủ khỉ vừa ngu đần, nghi kỵ lại chỉ huy mình. Họ bắt các cô thư ký của tôi ngày trước xuống trộn hồ, đưa con cháu của họ ở nông thôn vào thay thế các công việc văn phòng. Những người chuyên môn cuối tuần không được nghỉ bắt vào Đầm Sen móc bùn hay lên Tân Uyên cuốc đất trồng khoai mì!

Lâu lâu họ kêu lên phòng nhân sự hỏi tôi tại sao đi lính rồi được biệt phái trở về, đi Nhật học cái gì? Tại sao tôi không di tản đi Mỹ mà ở lại? Gia đình ba tôi buôn bán đồ phụ tùng xe hơi ở Trà Vinh bị đánh tư sản, họ tịch thu sạch sẽ. Gia đình chị tôi vượt biên từ Trà Vinh sau hai ngày đêm đi vào Hòn Khoai tưởng là Thái Lan bị bắt, nhà cửa phố xá cạnh chợ Trà Vinh bị tịch thu. Ngôi nhà lớn của ông nội tôi nơi thời thơ ấu tôi chơi ở đây, đám cưới tôi cũng được đãi đằng ở đây bị xung công làm xưỡng dệt! Mà có sản xuất gì đâu vì ăn chia mua máy dệt phế thải, vài tháng sau cũng đóng cửa nhưng nhà ông nội tôi cũng không trả! Ba tôi xin lại để trồng trọt hoa mầu, họ nói xuống trại cải tạo mà trồng!

Ở Sài Gòn tôi vẫn đi làm công nhân viên nhà nước, kéo dài thời gian để tìm đường vượt biên nhưng không biết mình ra đi bằng cách nào, ghe ở đâu và ra đi ở đâu, thật là một bài toán khó khăn nan giải. Sau 2 lần đổi tiền nhiều người trắng tay trở nên chuyên chính vô sản nhưng tôi vẫn sống qua ngày được. Vì sao? Tôi làm ở Ty Thủy Đạo nên có một kho bản đồ hàng hải mà bọn khỉ đâu có biết là cái gì, lâu lâu hết tiền xài kêu ve chai vô bán. Đó là những công trình đo đạc tốn kém vô cùng nên tôi đem về nhà một mớ bản đồ liên hệ đến những cửa sông và những vùng biển tới các nước lân cận. Ban đầu tặng không cho bà con bạn bè cần đến để vượt biên nhưng sau đó nhiều người cần họ được giới thiệu tìm tới tôi để hỏi han cố vấn. Từ đó tôi phải bất đắc dĩ làm tư vấn vượt biên, cung cấp bản đồ và la bàn đi biển vì không phải trên con sông, giữa sông là sâu, hai bên bờ là cạn. Nói ngay là tiền bạc lúc đó dư giả, có thể mua ghe để ra đi nhưng vẫn còn ngần ngại khó khăn nguy hiểm, nhất là công an dầy đặc.

Tháng 4 năm 1978 thằng em trai tôi sinh năm 1957 đã ra đi từ Cà Mau với các bạn bè của nó trong đó có một người bạn cùng lớp Công Chánh với tôi là Hồ Văn Bảy tôi giới thiệu đi với nó để làm hoa tiêu. Trong chuyến đó có gia đình ông Lê Xâu người cùng quê Trà Vinh với tôi nhưng ông có một xưởng sản xuất đồ nhựa trong Chợ Lớn. Qua đợt đánh tư sản, xưởng nhựa của ông bị nhà nước tịch thu, ông trở thành nhân công trong xưởng của mình nên phải bỏ xứ ra đi và nhờ thằng em tôi mua ghe và nó có thằng bạn ở làng Sông Ông Đốc Cà Mau. Thằng này cùng đi với nó và có nhiệm vụ đưa ghe ra biển. Chuyến đi này ông Lê Xâu ra tài chánh và em tôi lo về kỹ thuật.

Em tôi đi được một tuần, không tin tức gì hết nhưng người ta thường nói “No news is good news”, nếu nó bị bắt thì chắc là nhà hay tin rồi. Tôi nghĩ là ghe nó đi thoát nhưng không biết tới bờ bến an toàn hay chìm giữa biển hoặc bị hải tặc giết chết? Mình không biết, chỉ biết cầu nguyện và phó thác cho Thượng Đế.

Rồi một hôm, buổi chiều ông Lê Xâu xuất hiện đạp xe đến nhà tôi ở số 195 đường Phạm Ngũ Lảo, tôi rất ngạc nhiên tưởng ông đã đi rồi, sao giờ này lại còn ở đây? Ông cho biết vì khó khăn trở ngại sao đó, ghe em tôi không đón ông được nơi bãi hẹn nên bỏ ông lại cùng với vợ và hai con nhỏ, các con lớn và họ hàng của ông đã đi được và hình như đã tới đựơc Mã Lai an toàn. Hôm nay ông đến nhà tôi muốn kêu tôi ra đi với ông. Ông sẽ lo tài chánh, bến bãi vì chuyến đi hụt vừa rồi ông có quen với ông Hai một ngư dân trong vùng Sông Ông Đốc và là cha vợ của thằng bạn với em tôi. Ông này sẽ tổ chức giống như chuyến rồi, người từ Sài Gòn xuống sẽ giấu trong rừng U Minh và ghe lớn nửa đêm giả đi đánh cá sẽ ra đón tại bờ biển lầy cạnh rừng ngập mặn. Ông Lê Xâu thiếu người hoa tiêu, tài công nên nhờ tôi phụ trách.

Nghe ông đề nghị tôi rất suy nghĩ đắn đo, từ trước tới nay tôi chưa dám đi trong đó có khó khăn là tìm bến bãi sao cho an toàn để chuyển người ra ghe lớn và làm sao có những ghe xuồng nhỏ để chuyển người đến ghe lớn đi biển. Phần nhiều các chuyến vượt biên thất bại ngay ở trên bờ. Nay đã có sẵn người lo và cách giải quyết rồi. Phần ông Lê Xâu không biết tìm ai vừa biết kỹ thuật đi biển vừa là người tin được?  Ông quen biết với gia đình tôi từ ngày còn ở Trà Vinh, tin tưởng tôi là người thành thật lại biết về hàng hải vì tôi đang làm trong ngành này thêm vào những người Trà Vinh vượt biển thành công là do tôi hướng dẫn chuyến đi.

Từ khởi đầu đó chuyến vượt biên đã thành hình và bắt đầu công việc như đóng ghe lớn, tìm mua máy. Khó khăn nguy hiểm và gian nan vất vả như thế nào lần lượt tôi sẽ thuật lại cho các bạn nghe. Chắc các bạn cũng đoán được chuyến đi đã thành công vì giờ này tôi còn sống và ngồi trên nước Mỹ. Phải nói ngay rằng tài năng hiểu biết chỉ là chuyện phụ, chuyến đi thành công tôi nghĩ là một phép lạ mà ơn trên đã ban cho chúng tôi. Tôi viết hồi ký này để tạ ơn trên và muốn các bạn trẻ đọc để hiểu biết về hoàn cảnh khốn khổ của dân tình miền Nam trong thời kỳ thuyền nhân vượt biên như thế nào?

XÂY NHÀ TRÊN MỘT LÔ ĐẤT TRỐNG Ở MỸ

Bài và hình: TRINH HAO TAM

Thấy người ta quảng cáo bán một lô đất trống, muốn mua để xây một căn nhà đúng theo ý thích của mình. Ở Mỹ vấn đề sẽ như thế nào? Với 21 năm làm việc trong thành phố Ontario Nam California tôi có một ít kinh nghiệm sau đây xin chia sẻ cùng các bạn nhất là những người ở VN muốn lập nghiệp ở Mỹ.

Nên nhớ là xây một căn nhà không vẫn chưa có thể ở được mà phải có hệ thống cấp và thoát nước. Phải có ga khí đốt, điện, điện thoại, internet, cáp truyền hình, đường xá, đèn đường, cống thoát nước mưa v.v…Tức là những tiện nghi thuộc hạ tầng dưới đất. Vì vậy nếu một lô đất trống đã có sẵn những thứ đó thì rất tiện, đỡ tốn tiền bạc và công sức vì chi phí để kết nối vào những thứ này rất cao và nhiều thành phố không cho xây cất nếu không có sẵn các hệ thống này.

Để nhận biết miếng đất trống ấy có hệ thống tiện ích công cộng này chưa, ta có thể vào tòa thị chính để hỏi hoặc quan sát những căn nhà xung quanh đó. Hệ thống cung cấp nước sạch được nhận ra bằng cách tìm xem đồng hồ nước nằm ở đâu, thường nằm bên ngoài miếng đất và cạnh lối đi bộ hành gần lề đường. Trên mặt đường xe chạy ống nước được đánh dấu bằng những valve có nấp tròn có chữ “water” và những vòi nước chữa cháy (fire hydrant). Ống cống thoát nước dơ như bồn rữa chén, nhà tắm, cầu tiêu được đánh dấu ngoài đường bằng những “manhole” có nấp đậy tròn lớn bằng kim loại mà nhân viên có thể chui xướng đó để khai thông hay sửa chữa. Trên nấp manhole có chữ “sewer” hay SD (storm drain) nếu là cống thoát nước mưa. Nên nhớ rằng nước dơ như cầu tiêu đều chảy thẳng ra ống cống và đi xuống nhà máy lọc để xử lý trước khi thãi ra biển. Còn ở VN cầu tiêu hầu hết đều chứa trong hầm cầu tự hoại, vài năm mướn xe bồn hút một lần. Nếu hầm tự hoại rò rĩ, nước dơ sẽ ngấm vào lòng đất chảy vào các giếng nước hay ra sông rạch. Mất vệ sinh và gây nhiều bịnh truyền nhiễm như dich tả, kiết lỵ v.v…

Những hệ thống khác như điện, điện thoại, khí đốt hỏi ở tòa thị chính hoặc liên lạc các hãng cung cấp.

Cách sử dụng đất các thành phố đều chia ra nhiều khu vực khác nhau gọi là Zone như khu dân cư, khu thương mại, khu kỹ nghệ, khu nông nghiệp…Khu thương mại, kỹ nghệ thì không được ở.

Khi xây cất một căn nhà phải nộp bản vẽ cho thành phố để họ tra cứu xem có đúng tiêu chuân an toàn hay không? Có xây cất lấn sang các bất động sản khác hay trên phần đất dùng cho tiện ích công cộng hay không? Thí dụ như phần đất dưới đó chôn cống thoát nước, phần đất này gọi là “public easement” tuy nằm trong bất động sản của mình nhưng mình không được xây bất cứ một thứ gì trên đó vì tương lai họ còn phải bảo trì đường ống đó.

Trong bản vẽ phải ghi cao độ mặt đất trước và sau khi xây gọi là “grading”, đào đất bỏ đi hay đấp thêm nền nhà để tránh ngập lụt khi mưa. Chẵng những tránh ngập cho nhà mình mà không được thoát nước qua các nhà xung quanh.

Đại khái công việc khá chuyên môn cần phải mướn những nhà xây cất chuyên nghiệp có license giấy phép, bảo hiểm. Họ có liên hệ với các văn phòng Engineering Consultant để đo đạc cao độ và thiết kế bản vẽ.

Nhiều năm trước đây có một số người mua đất rất rẻ từ những vùng sa mạc trống vắng, người bán cho rằng đầu tư vài năm sau sẽ lên giá vì thành phố có những kế hoạch phát triển những khu vực đó. Mua xong chờ hoài không thấy lên giá mà mỗi năm phải mướn xe ủi đất vào phát hoang diệt cỏ. Nên biết rằng các thành phố không “thích” mỗi người tự xây nhà đơn lẽ vì sẽ làm xấu đi thành phố mà họ muốn các công ty xây cất xây một lần nguyên cả khu cộng đồng hàng trăm căn. Đường xá, cống rảnh, đèn đường, công viên…các công ty này xây đúng theo tiêu chuẩn thành phố. Khi xây xong nhà bán hết, các công trình công cộng đường xá, công viên sẽ thuộc về thành phố. Nhà nước không đứng ra xây, các công ty tư nhân làm, nhà nước là thành phố chỉ giám sát, theo dõi xem làm có đúng hay không mà thôi.

Đất trống trong một khu dân cư đã có sẵn ga, điên nước rất khó tìm, ta có thể mua một miếng đất có một căn nhà cũ kỷ rồi phá đi. Đừng tiếc mà xây lại một căn nhà mới hoàn toàn theo ý thích. Kiểu mới, vật liệu xây cất mới, an toàn, bền bĩ lại tiết kiệm chi phí sưỡi ấm hay làm mát căn nhà.

Ở VN “đất đai là của toàn dân, nhà nước chỉ quản lý” nên cần phải có sổ đen, sổ đỏ. Ở Mỹ nhà cửa đất đai là tài sản vĩnh viễn thuộc về quyền sở hữu của mình. Sở thổ trạch nhà nước ở County chỉ Record (tàng trữ) các văn tự đo đạc mua bán, thế chấp đất đai với nhau mà thôi chứ họ không có chức năng ban phát cấp quyền sở hữu cho ai hết. Tranh chấp nợ nần chỉ có tòa án mới có quyền phân xử mà thôi. Mua bán bất động sản cần phải thuê văn phòng Escrow là trung gian giữa hai bên, họ biết những nợ nần tranh chấp, họ làm hết các thủ tục giúp cho việc mua bán êm xuôi trôi chảy. Có người chồng tiền đủ mà nhà sang tên không được vì chủ trước còn thiếu nợ một ngân hàng chỉ vì không qua Escrow! Bài này viết ra chỉ với thiện chí chứ không có ý khoe khoang hiểu biết gì đâu!





 

Sunday, February 24, 2019

Viếng Đền Thờ Ấn Độ Giáo Ở Chino Hills, Miền Nam California
Bài và hình: Trịnh Hảo Tâm

Trong những năm gần đây ai có công việc lái xe trên xa lộ 71 ngang qua thành phố Chino Hills đều trông thấy một đền đài đồ sộ mang nét kiến trúc Ấn Độ. Đó là ngôi đền thờ của Ấn Độ Giáo tọa lạc ở địa chỉ 15100 Fairfield Ranch Road, Chino Hills, California 91709. Đây là một kỳ công kiến trúc với hàng ngàn khối đá được tạc tỉ mỉ từ Ấn Độ mang sang và xây dựng với kỹ thuật hiện đại. Ngôi đền ngoài mục đích quảng bá triết lý của Ấn Giáo còn là nơi sinh hoạt văn hóa, tâm linh nhằm nâng cao đời sống tinh thần cho mọi người không phân biệt nguồn gốc sắc tộc, tôn giáo.

Chino Hills là vùng nông thôn trước đây chuyên về chăn nuôi và trồng trọt thuộc San Bernardino County nằm về phía Đông và cách Los Angeles khoảng một giờ lái xe. Những năm gần đây di dân từ các nước Á Châu đổ xô đến định cư ở Mỹ và họ thường chọn California là nơi có khí hậu ấm áp quanh năm. Thành phố Los Angeles không còn đất đai để xây cất, phía Tây là biển nên các công ty địa ốc tiến về phía Đông vào những quận hạt như San Bernardino, Riverside. Chino Hills nằm trong số này, từ một miền đất trồng rau, nuôi bò trở thành một vùng gia cư êm đềm, thanh lịch với những khu thương xá mới xây đầy đủ những cửa hàng nổi tiếng. Di dân Á Châu như người Ấn Độ, Trung Đông, Đài Loan, Đại Hàn nhất là Trung Quốc về đây định cư sinh sống rất đông. 

Vào năm 1977 một vị lãnh đạo của Ấn giáo là ông Pramukh Swami Maharaj viếng thăm California và quy tụ một số tín đồ để thành lập hội đồng Ấn giáo tại tiểu bang này. Sau đó hàng năm ông thường trở lại Cali để thuyết giảng và tổ chức những khóa tu học. Năm 1984 tu sĩ Maharaj dự lễ khánh thành trung tâm Ấn giáo đầu tiên ở thành phố Whittier gần Los Angeles. Đến năm 1996 hội đồng Ấn giáo tại đây có ý định xây dựng một trung tâm lớn hơn với một ngôi đền bằng đá theo truyền thống của Ấn Độ giáo theo ý nguyện của tu sĩ Maharaj trước đây hằng mong muốn. Sau khi đi tìm và chọn lọc hàng chục địa điểm, hội đồng đã đồng ý địa điểm ngay cạnh xa lộ 71 thuộc thành phố Chino Hills. Nhưng thủ tục xin giấy phép xây dựng gặp phải sự chống đối của người dân địa phương họ không muốn có một tôn giáo lạ xây cất tại đây. Nhất là việc xây dựng ngôi đền thật lớn với những ngọn tháp cao đến 80 feet, lưu lượng xe cộ sẽ đông hủy hoại môi trường nông thôn hiện có. 

Với hàng chục buổi điều trần với dân chúng và chính quyền thành phố Chino Hills, những vụ biểu tình chống việc xây cất với hơn 1,500 cư dân tham dự. Họ cho rằng không thích hợp để xây dựng một trung tâm lớn giữa một cộng đồng nông nghiệp nhỏ bé như thế này. Nhưng cũng có một số người ủng hộ trong đó có thị trưởng Chino Hills lúc đó là ông Larson, ông này cho rằng “Tôi ủng hộ bất cứ một trung tâm tôn giáo nào đem lại sự tốt lành cho cộng đồng ở đây”. 

Sau cùng vấn đề được đem ra hội đồng thành phố biểu quyết và kết quả số phiếu chấp thuận xây cất cao hơn. Ngày 4 Tháng 9, 2005 buổi lễ động thổ để bắt đầu xây dựng đền Ấn giáo ở Chino Hills.

Ngôi đền Ấn giáo nằm cạnh xa lộ 71 về phía Nam của exit Chino Hills Parkway, từ trên xa lộ cảnh đền màu đá đỏ hiện ra rất rõ, sừng sững giữa trời như ngôi đền Đế Thiên, Đế Thích ở Cambodia. Thật là một quan cảnh khá lạ mắt trên đất Mỹ này khiến dân cư người Mỹ lái xe ngang qua rất ngạc nhiên, tò mò muốn biết đây là cơ sở, kiến trúc gì? Chúng tôi đến buổi sáng ngày thường nên khách đến viếng đền không đông. Khuôn viên đền được bao bọc bằng hàng rào sắt xây cao kiên cố và cổng chính vào nằm trên đường Fairfield Ranch Road như địa chỉ đã ghi. Sau khi đem xe vào bãi đậu chúng tôi đi bộ vào sân đền với bãi cỏ xanh và những luống hoa đã được trồng. Mặc dù đã được khánh thành vào ngày 23 Tháng 12, 2012 nhưng hiện nay công việc trang trí vườn cảnh trong khuôn viên trước ngôi đền vẫn còn đang được thực hiện chung quanh hồ nước có hình đóa sen trước đền. Đền Ấn Độ giáo (Hinduism) nào phía trước đều có xây một hồ nước lớn biểu tượng một con sông vì chữ “Hindu” trong tiếng Ấn cổ Sanskrit (tiếng Phạn) là “Sindhu” có nghĩa là sông Indus, một con sông lớn nằm ở vùng Tây Bắc Ấn Độ.

Ngôi đền chính được gọi là Mandir là nơi cử hành các nghi thức thờ phượng là một tòa kiến trúc có hai tầng, phía trên là đền thờ và tầng dưới là phòng trưng bày triển lãm (Exhibition). Ngôi đền bên trên có 5 tháp lớn (pinnacle) và những mái vòm nhỏ hình bán nguyệt cầu cùng hàng chục ngàn tượng, phù điêu là những khối đá hồng sa thạch (pink sandstone) được khai thác và điêu khắc bằng tay từ Ấn Độ và chuyên chở đến Mỹ, được ráp nối với nhau tại Chino Hills. Một cầu thang lớn hàng trăm bậc dẫn lên đền thờ, bên trong chánh điện một khung cảnh huy hoàng lộng lẫy hiện ra một màu trắng toát với hàng chục cây cột bằng đá cẩm thạch trắng, trên tường những bức tượng, phù điêu trang trí cũng bằng cẩm thạch trắng lấy từ Ý Đại Lợi. Phía trên chánh điện không thấy tượng Phật hay thần thánh nào mà là tượng hai vị thần thiếu nữ trong trang phục màu đỏ nét mặt vui tươi mỉm cười. Chúng tôi đến đúng vào thời điểm tế lễ gọi là Darshan mỗi trưa từ 11 giờ 15 đến 12 giờ, các tín đồ ngồi dưới sàn đá bóng đọc và hát kinh trong lúc bên trên trước tượng hai vị nữ thần một sư ông mặc cà sa vàng làm những động tác tế lễ.Trong điện thờ mỗi ngày có 4 lần cử hành nghi thức Arti là hình thức chào đón vị Thần Linh (God) và 3 lần cử hành nghi lễ tắm Thần gọi là Abhishek.

Qua một cửa thang máy chúng tôi xuống tầng 1 là tầng dưới để xem phòng trưng bày triển lãm hình ảnh và phim video về công trình xây dựng ngôi đền thờ tại Chino Hills này. Từ ngày khởi công đào đất làm nền móng vào năm 2004 đến công việc điêu khắc đá bằng tay tại Ấn Độ và Ý Đại Lợi với hàng trăm tín đồ làm thiện nguyện. Cho đến nâng ráp những khối đá với nhau bằng cần trục cơ giới để xây đền tại Chino Hills và những lễ hội sau khi công trình xây dựng hoàn tất. Có tất cả 35,000 phiến đá được khắc đẻo bằng thủ công trong đó có đá cẩm thạch Carrara marble của Ý và hồng sa thạch Pink sandstone của Ấn Độ,

Trong video còn cho thấy những chân trụ bê tông lớn trong nền móng để giữ vững cả ngôi đền, đây là ngôi đền thờ Mandir đầu tiên trên thế giới có thiết kế chịu đựng động đất. Theo các nhà thiết kế ngôi đền có thể đứng vững trên 1,000 năm. Áp dụng việc dùng năng lượng sạch toàn bộ khu đền đều dùng điện bằng ánh sáng mặt trời. Ban đêm đền Mandir được chiếu sáng bằng những đèn pha cực sáng với nhiều màu sắc rực rỡ.

Trong khuôn viên đền thờ ngoài đền chính Mandir còn có ngôi nhà Visitor Center vào bên trong trang trí rất đẹp, nơi đây có tiệm sách, cửa hàng lưu niệm với các hình tượng, tranh ảnh về Ấn giáo. Bên cạnh là cửa hàng giải khát cà phê với những loại bánh ngọt truyền thống Ấn Độ. Ngôi nhà phía sau cách một sân rộng là Nhà Văn Hóa và hội trường (Narayan Cultural Center & Assembly Hall) cho những buổi thuyết giảng, triển lãm nghệ thuật và văn nghệ. Bên cạnh còn có nhà sinh hoạt giới trẻ Yogi Youth Center và sân vận động.

Ấn Độ Giáo (Hinduism) là tôn giáo lớn thứ 3 trên thế giới hiện có khoảng 800 triệu tín đồ ở Ấn Độ và các nước lân cận. Ấn Độ Giáo là một tôn giáo cổ xưa, ra đời ở Ấn Độ cách đây khoảng 4,000 năm nhưng không có người sáng lập. Ấn Độ Giáo không đặt nặng giáo quyền và tín lý, người theo đạo có thể tin và thờ nhiều thần nhưng có 3 thần chính là Brahma, Vishnu và Shiva. Ngày nay Ấn Độ Giáo pha trộn với Bà La Môn và Phật Giáo. Ấn Độ Giáo tin vào thuyết luân hồi, con người và các động vật đều có các thần ngự trị và chia xã hội Ấn ra 4 giai cấp: tăng lữ, quan quyền, điền chủ và nông dân. Ngày xưa Ấn Độ Giáo truyền bá tới Thái Lan, Cambodia và Việt Nam, ngôi đền Angkor Thom, Angkor Wat ở Cambodia và các tháp Chàm ở Việt Nam đều ảnh hưởng bởi tôn giáo này.

Đền thờ Ấn Giáo ở Chino Hills là một kiến trúc uy nghi và nghệ thuật, du khách đến thăm sẽ thấy tâm hồn an nhiên thư thái trong không khí yên bình và thoáng đãng. Vì là một nơi thờ phượng tôn nghiêm nên có những hạn chế khi bước vào đền chính như không mang giày dép, ăn mặc kín đáo: áo phải che vai, quần dài dưới đầu gối, không mang thức ăn đồ uống và không được chụp hình.

Sách du lịch Trịnh Hảo Tâm đã xuất bản 8 quyển ký sự du lịch:
1. Trên Những Nẻo Đường Việt Nam 
2. Miền Tây Hoa Kỳ 
3. Ký Sự Du Lịch Trung Quốc 
4. Mùa Thu Đông Âu 
5. Tây Âu Cổ Kính 
6. Miền Đông Nước Mỹ Và Canada 
7. Hành Hương Thánh Địa Do Thái 
8. Nhật Bản, Hồng Kông - Macau, Thái Lan.
Tất cả đều dầy trên 300 trang trình bày đẹp, mỗi quyển đồng giá 15 USD (bao cước phí trong nước Mỹ) xin liên lạc: Trịnh Hảo Tâm (909)489-2451 Email: trinhhaotam@yahoo.com