Pages

Powered By Blogger

Thursday, September 26, 2013

KÝ SỰ DU LỊCH TÂY ÂU (BÀI 12)
LÀNG BIỂN CASSIS GẦN MARSEILLE
Bài và hình: TRỊNH HẢO TÂM

Cách Marseille 20 km (12.4 miles) về hướng Đông, Cassis là địa điểm du lịch khá nổi tiếng ở miền Nam nước Pháp có những vịnh nước sâu, trong vắt chung quanh là vách đá trắng mà người Pháp gọi là những “Calanques”. Du khách từ trên ghềnh đá cao có thể phóng mình xuống nước hoặc chèo thuyền ngắm từng đàn cá dưới đáy nước. Ngoài những vịnh nước trong nơi đây còn có những bãi biển cát trắng thu hút rất đông du khách về đây tắm nắng, bơi lội trong những tháng Hè. Cassis còn là một bình nguyên hoa lá xanh tươi với những vườn nho làm rượu vang rất nổi tiếng, những ruộng rau cải hoa mầu và những đồi Olive trên sườn núi.



Gần Cassis có mũi Cap Canaille cao 394 mét (1,203 ft) là một trong những mỏm núi mà hàng ngàn năm trước các nhà hàng hải vẫn dùng làm điểm mốc để định hướng hải hành. Cũng như Cap Saint Jacques tức Mũi Vũng Tàu ở Việt Nam với hai núi lớn và nhỏ cùng với ngọn hải đăng, các nhà hàng hải định hướng để vào cảng Sài Gòn.

Sau khi ăn trưa ở Cảng Cũ (Vieux Port) thành phố Marseille chúng tôi sáu người lên xe đi về hướng Đông bằng xa lộ A50, sau đó rẽ vào đường làng để tới thị trấn Cassis. Đây là một làng quê hẻo lánh có từ xa xưa nên đường phố rất chật hẹp, khúc khuỷu vì dốc núi, đến nơi rất khó tìm chỗ đậu xe. Cuối cùng Julian bạn trai của cháu gái chúng tôi là Kim Chi cũng tìm được nơi đậu ngay trong nhà đậu xe của sòng bạc (casino) cách bờ biển vài trăm thước. Chúng tôi đi bộ xuống bến tàu, buổi trưa du khách cũng khá đông ngồi trong những nhà hàng quán nước cạnh bờ biển. Những nhà hàng này cũng chuyên về hải sản, cũng có món súp cá Bouillabaisse nhưng qua những hình ảnh trưng trước cửa tiệm, thấy món ăn nhỏ hơn và chỉ vài ba thứ cá điểm thêm vài ba con chem chép (mussels) vỏ đen. Lòng vòng các khu phố thấy có nhà hàng đề bảng hiệu tiếng Việt: Restaurant “Nguyễn Ngọc Sơn”.



Cassis hiện nay có dân số 7,793 người (2008), về lịch sử nơi này đã có người Ligures từ miền Tây Bắc Ý đến sinh sống vào khoảng 500 đến 600 năm trước Công Nguyên. Họ xây cất thành trì ở trên chóp núi Baou Redon và sinh sống bằng bắt cá, săn thú và trồng trọt. Sau đó cũng như Marseille, làng Cassis cũng có người Phoceans (Hy Lạp) đến cư ngụ và trong thời La Mã cai trị nơi đây là hải cảng tàu bè ghé bến trên tuyến đường Âu Châu sang Trung Đông và Bắc Phi. Từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ thứ 10, giặc rợ từ phương Bắc xăm lăng cướp phá, dân chúng phải bỏ lên núi lánh nạn và xây thành trì chống giặc. Từ 1223 thành trì trên núi trở thành lâu đài của lãnh chúa vùng Les Baux-de-Provence tức vùng Nam nước Pháp hiện nay. Hiện nay vết tích thành lũy lâu đài Cassis còn trên núi và trở thành khách sạn, đứng dưới bến cảng nhìn lên thấy rất rõ. Thế kỷ 15 Cassis thuộc lãnh thổ Counts of Provence và lãnh chúa René of Anjou hiến làng cho thành phố Marseille cai trị quản lý cho đến Cách Mạng Pháp 1789. Về kinh tế kỹ nghệ làng Cassis sản xuất khô cá, dầu olive, vải vóc, rượu vang và xi măng, đá vôi như đá dưới chân tượng Nữ Thần Tự Do ở New York cũng là đá lấy từ Cassis. Hiện nay Cassis chỉ thuần là một địa điểm du lịch với nhiều khách sạn, nhà hàng rất đông khách đến nghỉ mát trong những tháng Hè ngoài ra còn sản xuất rượu nho rất nổi tiếng.

Chúng tôi lang thang xuống bến tàu, trời đã trưa nắng nóng nên các gian hàng bán hải sản đã dọn dẹp chỉ còn lại bán trái cây và các đồ kỷ niệm. Thấy các tàu đậu dưới bến chở người ra biển câu cá hay du ngoạn với bảng giá đi thăm các vịnh đá như: 3 Calanques 45 phút 15 Euros mỗi người, 5 Calanques 1 giờ 18.5 Euros và 7 Calanques 1 giờ rưỡi 30 Euros. Có nghĩa càng đi nhiều vịnh giá càng rẻ. Chúng tôi không có thời giờ để đi thăm các vịnh vì 6 giờ 30 phải trở về tàu mặc dù trên mạng du lịch bảo rằng nếu tới Cassis mà không đi thăm các Calanques thì quả là đều đáng tiếc. Có thể đi thăm thú các vịnh nước xanh từ bến Cassis hay Marseille, hoặc có thể tới thăm bằng xe hơi hay cả xe lửa đến Cassis rồi đi bộ.

Phía Nam bến tàu Cassis là bãi tắm nước xanh cát trắng rất thơ mộng hữu tình, hôm nay mùa Xuân tiết trời và nước biển còn hơi lạnh nên không thấy ai xuống tắm mặc dù trên bãi cát rất nhiều người nằm phơi nắng. Tháng Hè như tháng 7 và 8 bãi tắm rất đông người bơi lội, tắm nắng và chắc không thiếu những phụ nữ ngực trần cũng như ở những bãi biển Cannes và Nice. Từ bãi biển nhìn lên đỉnh núi gần đó sẽ thấy lâu đài Cassis sừng sững bên những hàng cọ xanh tươi và hoa giấy đỏ rực.



Thăm Cassis là một trong những tua phải trả tiền thêm của du thuyền MSC Preziosa khi tàu ghé bến Marseille, còn 3 tua khác nữa là: Marseille City Tour, Marseille và thành phố Avignon và tua đi Aix-en provence. Những tua này giá từ 60 Euros trở lên và đi thường mất cả ngày. Tôi chưa biết Marseille nên lên bờ là thăm Marseille chứ không bỏ thành phố lịch sử có nhiều liên hệ đến người Việt mà đi thăm nơi khác. May mà có cháu Phùng Kim Chi từ Genève xuống đưa đi chơi một ngày, ăn những món đặc sản của Marseille mà khi trở về Mỹ không làm sao tìm được. Thế là tôi đã nếm qua món cá Bouillabaisse, gan ngỗng và hương vị nấm Truffles, nói là hương vị vì trong món ăn tôi không nhìn thấy hình thù nó ra làm sao cả! Chắc chỉ là bột nấm mà thôi!

NGƯỜI VIỆT Ở MARSEILLE

Rời làng biển Cassis chúng tôi lên xe trở về Marseille. Ngày xưa từ Việt Nam sang Pháp phải đi bằng tàu biển nên thành phố cảng Marseille là một trong những nơi đầu tiên có cộng đồng người Việt sinh sống. Mặc dù chính phủ Pháp không thống kê con số người Pháp gốc Việt tại Marseille là bao nhiêu nhưng theo ước tính có khoảng 10,000 người Việt sinh sống tại Marseille. Là nơi có cộng đồng Việt Nam đông thứ nhì tại Pháp sau thủ đô Paris. Toàn nước Pháp theo ước tính có khoảng 250,000 người Việt sinh sống, họ di cư sang thành nhiều đợt khác nhau nhưng đông nhất là số thuyền nhân vượt biển sau biến cố 1975.

Theo lịch sử có ghi chép, người Việt đến Marseille vào cuối thế kỷ 18 là Hoàng tử Nguyễn Phước Cảnh con của vua Gia Long khi theo Giám mục Bá Đa Lộc cầm đầu phái đoàn sang Pháp cầu viện để chống lại nhà Tây Sơn. Cậu bé 3 tuổi này chỉ ở lại Pháp vài năm nhưng để lại ấn tượng tốt trong dư luận Pháp. Sau đó Pháp thôn tính Việt Nam và người Việt bắt đầu sang định cư tại Pháp. Sứ bộ do ông Phan Thanh Giản cầm đầu trong chuyến Tây du để chuộc lại Nam Kỳ đã ghi nhận sự có mặt của người Việt tại Pháp, số đó chỉ là những người có quan hệ gia đình với người Pháp.

Đến khi Thế Chiến Thứ Nhất (1914-1918) xảy ra, thanh niên Pháp phải động viên và chính phủ Pháp phải tìm nhân công để bổ xung vào các hãng xưởng sản xuất. Pháp tuyển lính thợ tại Đông Dương, khi đình chiến đã có 48,922 lính gốc Đông Dương và 51,000 lính thợ gốc Việt trong các công xưởng của Pháp. Tuy nhiên sau chiến tranh đa số đã hồi hương chỉ còn ở lại khoảng 3,000 người. Khi Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945) sắp bùng nổ thì chính quốc Pháp lại có lịnh tuyển mộ người Việt sang làm lao công thuộc địa nhưng lần này dưới dạng cưỡng bách. Đợt này đưa sang Pháp 93,000 người cả lính thợ lẫn lính chiến đấu. Kế đến sau khi thắng trận Đệ Nhị Thế Chiến, Pháp trở lại Việt Nam cho tới Hiệp Định Genève, trong thời gian này số sinh viên Việt Nam sang du học rất đông, cộng thêm số người Việt lập gia đình với người Pháp hồi hương sau hiệp định (khoảng 50,000 người). Tính đến đầu năm 1975 cộng đồng Việt Nam ở Pháp là cộng đồng người Việt lớn nhất hải ngoại.

Làn sóng người Việt sang định cư đông nhất là sau 1975, cho tới năm 1989 Pháp đón nhận khoảng 150,000 người tỵ nạn, là quốc gia đứng thứ ba sau Hoa Kỳ và Úc về số luợng tiếp nhận người tỵ nạn. Ngoài chính sách của chính phủ cho người Việt nhập cư, giới nhân sĩ Pháp như triết gia Jean-Paul Sartre, Michel Foucault, Raymond Aron còn tổ chức chiến dịch “Một con tàu cho Việt Nam”, hội Y Sĩ Không Biên Giới tài trợ cho con tàu ra khơi cứu vớt người vượt biên.

Người Việt tại Pháp định cư khắp nơi nhưng đông nhất là hai thành phố lớn Paris và Marseille, tại Marseille có nhiều chợ thực phẩm Việt Nam, nhà hàng và các văn phòng dịch vụ. Có 5 chùa Phật giáo sinh hoạt tôn giáo, văn hoá và cộng đoàn Công Giáo có thánh lễ tiếng Việt hàng tuần, lớp dạy Việt ngữ v.v…

Một trong những người Việt nổi tiếng nhất ở Marseille phải kể đến ông Georges Nguyễn Văn Lộc là một cảnh sát trưởng người Pháp gốc Việt. Ông sinh năm 1933 tại thành phố Marseille trong gia đình cha mẹ là người Việt sang Pháp từ 1914 (có thể cha là lính thợ sang thời Đệ Nhất Thế Chiến). Học xong trung học, Nguyễn Văn Lộc gia nhập vào lực luợng cảnh sát thành phố Marseille. Sau đó ông theo khoá chuyên môn ở Trưòng Quốc Gia Cảnh Sát  Saint-Cyr-au-Mont-d’Or, thành phố Lyon. Tốt nghiệp ông trở về phục vụ trong ngành cảnh sát ở quê nhà Marseille

Năm 1972, Nguyễn Văn Lộc được bổ nhiệm làm cảnh sát trưởng quận 7 ở thành phố Marseille. Sau một thời gian nhậm chức, với biệt danh Le Chinois (người Trung Hoa), Nguyễn Văn Lộc đã góp phần làm tình hình mất an ninh ở thành phố Marseille giảm hẳn. Tháng 10 năm 1972, vì xảy ra nhiều vụ bắt cóc con tin, cảnh sát trưởng thành phố Marseille yêu cầu Nguyễn Văn Lộc thành lập một nhóm giải cứu đặc biệt chuyên tham gia can thiệp các vụ khủng bố để cứu thoát con tin. Nhóm giải cứu này mang tên Groupes d'intervention de la police nationale được viết tắt là GIPN, với 15 cảnh sát và Nguyễn Văn Lộc làm đội trưởng, đã lập được nhiều thành tích chống tội phạm, khủng bố. Nhiều lần chính ông nhận thay thế cho các con tin để giải cứu họ. Nguyễn Văn Lộc còn được giao nhiệm vụ bảo vệ nhiều phái đoàn, nguyên thủ quốc gia khi họ tới thăm thành phố Marseille.
Năm 1987, Nguyễn Văn Lộc được vinh dự trao huân chương Bắc Ðẩu Bội Tinh. Tên ông xuất hiện trên nhiều tờ báo, tạp chí. Sau đó ông về hưu. Từ năm 1992, hãng phim Pháp France Films Production đã sản xuất một bộ phim truyền hình gồm 6 phần mà Nguyễn Văn Lộc là nhân vật kiêm diễn viên chính. Ông mất ngày 7 tháng 12 năm 2008 tại thành phố Cannes.

SINH HOẠT TỐI TRÊN TÀU

Chúng tôi lái xe về bến tàu MSC ở phía Bắc thành phố có chiếc Preziosa sừng sững đậu vào lúc 5 giờ 30 và cháu Kim Chi cùng bạn trai Julian từ giã để ngày mai lên đường trở lại Genève làm việc. Chúng tôi bốn người trở về phòng Cabin tắm rữa nghỉ ngơi để 7 giờ xuống nhà hàng L’Arabesque ở tầng 6 về phía cuối tàu ăn tối, hôm nay vói những món Pháp. Thường tàu ghé bến cảng nào thì thực đơn hôm ấy là những món đặc sản của địa phương đó. Nên nhớ ăn thì đã tính trong tiền tàu còn uống dù nước lạnh hay rượu phải trả thêm. Chúng tôi đã mua 12 chai nước suối nên mỗi bữa ăn tối là họ đem ra và trừ lần trong trương mục.




Sau đó đi loanh quanh trên tàu xem họ buôn bán, ca hát bên cạnh dương cầm ở ba rượu hoặc lên nhà hàng Buffet (tầng 14) uống cà phê ngắm cảnh biển lúc hoàng hôn hay ra trước boong tàu quay phim chụp hình cảnh mặt trời lặn trên biển (lúc 9 giờ). Chờ tới 10 giờ đến rạp Platinum Theatre xem chương trình ca vũ nhạc, đây là chương trình văn nghệ đặc sắc nhất trên tàu,  mỗi đêm có hai xuất 8 giờ và 10 giờ. Đêm nay chương trình có tên là “The Witches of Paris” được giới thiệu trên tờ “Daily Program” là những vũ khúc tân kỳ và xiếc ngoạn mục với màn vũ Cancan gồm một hàng mỹ nhân chân dài, mặc Tuxido nhưng không mặc…quần, đội nón qủa dưa Charlot và vừa ca hát vừa đá chân cái nào cái nấy thật cao. Kiểu múa này theo lối rạp hát Moulin Rouge ở khu Montmartre Paris. Tôi nghĩ là họ hát nhép với nền nhạc đã được thu sẵn và chương trình thường kéo dài khoảng tiếng rưỡi đồng hồ. Công nhận là cảnh trí ánh sáng tân kỳ và âm thanh sống động, lời ca rõ nét. Trước chương trình trong lúc chờ đợi có 3, 4 anh chàng hoạt náo viên làm hề cho khán giả cười. Chẳng hạn như khi có một ông khán giả từ cửa bước vào rạp, bốn anh chàng đi theo sau, ông khán giả làm gì, vuốt tóc, sửa cà vạt, nhìn lại tìm thân nhân, bốn anh chàng bắt chước làm theo với điệu bộ khôi hài hóa với dèm ý cho rằng ông khán giả khó tánh, lẩm cẩm. Những khán giả mới vào các anh chàng làm khán giả cả rạp cười và khi ông ta ngồi xuống ghế mới biết mình đã bị bắt chước. Sau cùng có một ông khán giả vào dẫn theo một bé gái 6, 7 tuổi. Đi được vài bước ông ta biết mình bị bắt chước làm trò cười cho cả rạp nên ông ta chơi khăm bồng bé gái lên. Anh chàng bắt chước phải bồng anh bạn đồng nghiệp của mình lên. Chàng này to con nên rất nặng, anh ta ẵm không nỗi, đi ngã nghiêng xiêu vẹo làm khán giả tức cười. Ông khán giả tiếp tục chơi khăm cho bé gái ngồi trên cổ của mình mà vác đi. Anh chàng làm không được cùng kéo nhau lắc đầu bỏ chạy ra khỏi rạp! Mỗi đêm chương trình ca vũ nhạc thay đổi các sắc thái khác nhau, đêm hát giọng cao ténor, opéra tiếng Ý, đêm Wonderland với xiếc cho trẻ con, đêm Pandora với các dân tộc cổ Nam Mỹ, đêm cuối với âm nhạc Anh Cát Lợi vui tươi hùng tráng…Nhưng trong một tuần có một đêm rạp nghỉ không có hát. Trên bờ có báo chí, dưới du thuyền mỗi ngày phân phối tận phòng tờ “Daily Program” để phổ biến những chương trình vui chơi và căn dặn những điều cần thiết.

Saturday, September 21, 2013

KÝ SỰ DU LỊCH TÂY ÂU (Bài 11)
MÓN SÚP CÁ BOUILLABAISSE CỦA VÙNG MARSEILLE
Bài và ảnh: TRỊNH HẢO TÂM

Mỗi vùng có những món ăn riêng gọi là đặc sản. Thành phố Marseille có món súp cá Bouillabaisse rất nổi tiếng khắp thế giới. Món này của dân ngư phủ ngày xưa thường ăn khi đi đánh cá xa bờ lâu ngày, gồm nhiều loại cá khác nhau nấu với một số gia vị rau qủa và bỏ thêm nghệ, ớt, tỏi, dầu olive.

Chúng tôi đậu xe trong một cao ốc chứa xe nhiều tầng (parking building) gần đại lộ Canebière rồi tản bộ về phía Cảng Cũ trung tâm thành phố Marseille. Nơi ngã ba Canebière và Rue Paradis có một bức tranh khổng lồ vẽ cảnh đường phố nên ở xa mình tưởng con đường kéo dài nhưng đến gần  hoá ra đó chỉ là bức tranh vẽ lên tường của trụ sở Phòng Thương Mại Marseille.

BẾN CẢNG CŨ MARSEILLE

Tiếp tục đi về hướng Tây là đến Cảng Cũ người Pháp gọi là Vieux Port, đây là khu du lịch của Marseille người đi tấp nập với những hàng quán bán áo thun trắng sọc xanh nước biển như áo của thủy thủ. Có gian hàng bán toàn xà phòng tắm đủ màu sắc, ngày nay xem thường nhưng xưa kia rất qúy. Dưới bến tàu những chiếc ca nô, thuyền buồm neo đậu, trên bến là chợ cá lộ thiên bày hàng trong những quán che bằng dù vải bố. Dọc theo đường bến tàu là những dãy nhà hàng, ba rượu, quán cà phê, bàn ăn từ bên trong nhà đặt ra đến tận vĩa hè. Quang cảnh thật là tấp nập đông vui với du khách đủ mọi quốc tịch. Nơi góc phố mũi tàu nhà hàng La Samaritaine có tượng con nai sơn màu xanh dương trông lạ mắt nhưng không hiểu ý nghĩa gì?



Cảng Cũ Marseille là trung tâm của thành phố được người Hy Lạp thành lập từ 600 năm trước Công Nguyên như một địa điểm bán buôn trao đổi hàng hóa khi họ di chuyển đến đây từ phương Đông. Đây là một hải cảng do thiên nhiên tạo thành, nước không sâu lắm nhưng đủ cho những thuyền buồm ngày xưa cập bến. Vùng bờ biển Marseille kéo dài về hướng Đông đến thành phố Cassis có nhiều vịnh nước nhỏ như hang động dưới biển gọi là Calanques, đáy biển khá sâu do thiên nhiên tạo thành mà không cần phải đào vét như những hải cảng nhân tạo khác. Marseille phát triển dần, thời Trung Cổ trên bờ gần bến cảng người ta trồng một loại cây có tên Cannabis hay Hemp để phơi khô đánh sợi làm dây thừng neo cột tàu, từ tên loại cây đó nên có tên đường Canebière là đại lộ huyết mạch của thành phố dẫn tới bến Cảng Cũ. Vào giữa thế kỷ 19 cảng Marseille có thể tiếp nhận đến 1,000 tàu thuyền bỏ neo trong bến và 18,000 tàu thuyền cập bến mỗi năm. Tuy nhiên mỗi ngày tàu thuyền đóng to lớn dần nên Cảng Cũ không kham nỗi trở thành cạn nên người ta phải di chuyển bến tàu về vùng La Joliette phía Bắc. Thời Đệ Nhị Thế Chiến quân Đức Quốc Xã Nazis khi chiếm đóng thành phố đã đập phá muốn xóa sổ bến tàu và khu phố lịch sử Battle of Marseille. Sau năm 1948 có chương trình tái thiết lại Cảng Cũ và ngày nay trở thành khu phố nhộn nhịp mặc dù bến tàu giờ chỉ cho đậu những du thuyền nhỏ có tính cách giải trí. Khu Tân Cảng ở hướng Bắc ngày nay giữ vai trò thương cảng chính, trang bị những bến tàu với những cần trục bốc dỡ thùng hàng Containers. Nếu những ai thích máy móc cơ giới hay ồn áo tiếng động có thể đến đây nhưng bình thường Tân Cảng không mở cửa cho du khách viếng thăm.

THỨC ĂN ĐẶC SẢN MARSEILLE

Trước ngày lên đường du lịch Tây Âu gặp anh Sim chồng ca sĩ Thanh Mai ở nhà sách Tú Quỳnh trên đường Bolsa. Biết anh Sim từng sống ở Paris trước khi sang định cư ở Mỹ, anh và ca sĩ Thanh Mai từng mở nhà hàng ở Little Saigon nên tôi hỏi anh Marseille có món gì đặc biệt? Anh cho biết là món Bouillabaisse, hỏi bao nhiêu một dĩa anh nói khoảng 45 Euros. Tôi thấy cũng hơi đắt vì với số tiền đó ở Bolsa ăn được hơn 3 người. Nhưng một đời người đi Tây được mấy chuyến? Nhất định phải thử cho biết! Hỏi có ngon không? Anh nói ngon dở tùy người đối diện nhưng nên ăn thử một lần sẽ…nhớ một đời!

Sáng nay đến Marseille, Kim Chi cháu gái tôi gọi tôi bằng cậu muốn đãi chúng tôi những món ăn đặc biệt của Marseille. Tôi hỏi có phải món Bouillabaisse không? Kim Chi nói đúng rồi, cậu Ba cũng hay qúa vậy! Kim Chi nói sẽ đưa chúng tôi đến nhà hàng nổi tiếng nhất chuyên về món này, đó là nhà hàng Le Miramar ở số 12 Quai du Port 13 002 Marseille. Thế là “D’accord!” chúng tôi hăm hở tiến bước về phía nhà hàng tọa lạc bên tay phải, đối diện là bến tàu, nơi đây nhìn thấy nhà thờ Notre Dame de la Garde chót vót trên núi.



Nhà hàng Le Miramar nằm phía dưới trong dãy phố lầu nhìn ra bến tàu, phía trước có che một mái hiên (patio) kín như một căn nhà. Vào bên trong đặt sẵn những bàn ăn trải khăn trắng, ghế đỏ, mỗi bàn trang hoàng lọ hoa đèn cầy khá lịch sự. Các anh chàng phục vụ bồi bàn mặc đồng phục đen vui vẻ chào đón mời chúng tôi vào. Chúng tôi chọn bàn ở Patio cho sáng sủa và nhìn thấy được quang cảnh bến tàu. Chúng tôi gồm 6 người: vợ chồng tôi, vợ chồng em gái tôi ở Đức, Kim Chi và bạn trai tên Julian. Kim Chi cho biết mẹ của Julian là một phụ nữ người Pháp đang sống ở Marseille cũng sẽ tới. Vừa nói xong bà tới thật, đó là một phụ nữ vui tính khoảng 65 biết chút tiếng Anh nên tôi có thể đối thoại được. Chúng tôi giới thiệu nhau về nơi ăn chốn ở, lý do chuyến Tây du để làm gì?

Vào bữa ăn trưa chúng tôi gọi 2 chai nước lọc, chai rượu vang Chablis 1er Fourchau (79 Euros) và chai rượu Champagne hiệu Marnier của “Château de Sancerre” (65 Euros). Nhà hàng mang ra mỗi người món khai vị gồm bánh mì nướng chấm với ly sốt cà chua ngọt màu đỏ hồng rất ngon. Bánh mì nhiều loại đen vàng và bơ Pháp hiệu Échiré. Nội mấy món ăn chơi đã thấy ngon rồi vì lạ miệng, còn ở Bolsa quanh năm tôi chỉ chuyên trị phở, bún, cơm. Lâu lâu thay đổi thực đơn qua bánh canh, cháo lòng, lẩu mắm! 

Mẹ của Julian là đầm chính gốc, rất sành đồ Tây gọi món gan ngỗng “Terrine de foie gras”, món này trong Internet mô tả là món ăn vương giả trong ẩm thực Pháp, chữ “terrine” chỉ một loại nồi đất với vung đậy thật kín và gan ngỗng được hấp trong đó cho tới chín với nước cốt từ gan tươm ra trong một loại sốt đặc biệt. Gan ngỗng tròn cắt như một khúc chả lụa. Món này giá 26 Euros và mẹ Julian lấy dao phết lên từng miếng bánh mì đưa chúng tôi mỗi người thử một miếng. Món gan ngỗng hiện bị cấm ở California vì tính chất đối xử bất nhân với thú vật, dồn vào bao tử ngỗng nhiều thức ăn để gan nó lớn lên trước ngày làm thịt.



Trên dĩa gan ngỗng có hai khúc dài dài to hơn chiếc đũa, không biết làm bằng thực phẩm gì? Kim Chi cho biết có món nấm Truffle trong đó. Truffle là một loại nấm thường mọc dưới mặt đất gần rễ cây, tay nấm tròn hình dạng như trái cây. Truffle mọc ở miền Nam nước Pháp, vùng Tuscane của Ý và một số nước Đông Âu. Có hai loại nấm Truffle: loại trắng và loại đen. Loại nấm trắng tên khoa học là “Tuber magnatum” mọc ở vùng Bắc nước Ý, có giá đắt nhất khoảng từ 1,000 đến 2,200 USD mỗi pound. Loại nấm Truffle đen 45% mọc ở Pháp giá khoảng 500 USD mỗi pound. Nấm mọc dưới mặt đất trong rừng, muốn tìm nấm người ta dùng heo hoặc chó đi đánh hơi. Ăn miếng bánh mì có phết gan ngỗng và nấm Truffle do mẹ của Julian đưa cho, thấy rất ngon, có mùi vị thịt rất lạ nhưng tôi không rõ là do nấm Truffle tạo ra hay do gan ngỗng và các thứ gia vị khác. Theo nhà ẩm thực Pháp Jean Anthelme Brillat-Savarin gọi Truffle là “những hạt kim cương trong nhà bếp”.

Một dĩa cá Raimu và món Pissaladière như một loại bánh Pizza nướng với chả cá cơm Anchovy và hành, tỏi, dầu olive. Hai món này là đặc sản của vùng Marseille, Nice, Toulon. Mỗi món 29 Euros.

Sau cùng là món súp cá thập cẩm Bouillabaisse, ăn súp trước đựng trong dĩa với bánh mì và nước chấm Rouille (một loại mayonnais với thành phần gồm tròng trắng trứng, dầu olive, tỏi, tiêu và nghệ vàng). Sau đó người phục vụ mang tới một dĩa lớn cá gồm có nhiều loại cá mú (rockfish) là loại nằm sâu dưới đáy biển hình thù có nhiều gai nhọn như các loại rascasse đỏ, grondin (sea robin), monfish, John Dory, Greater Weever. Món này nấu hầm nhiều tiếng đồng hồ với nhiều gia vị khác như ớt đỏ, tỏi, hành, cà chua, dầu olive, khoai tây, nghệ và người ta có thể thêm các loại hải sản khác như mực, cầu gai (sea urchins), cua nhỏ và đôi khi có tôm hùm. Món này có từ nhiều ngàn năm trước do dân đánh cá phát minh nên họ có thứ gì bỏ vào nồi nấu chung. Thường nấu bằng những loại cá tạp, chừa cá đắt tiền (con lớn, ít xương, không tanh) để bán cho các thương lái. Chúng tôi đặt 4 dĩa rồi chia cho 7 người ăn, mỗi dĩa Bouillabaisse nhà hàng tính 59 Euros.



Ăn trưa xong buồn ngủ chúng tôi gọi thêm 5 tách cà phê (5 Euros mỗi tách). Kết thúc buổi ăn trưa kéo dài một tiếng rưỡi đồng hồ với hóa đơn là 537 Euros (698 USD) cho 7 người. Tính ra mỗi người 100 USD, tôi chưa bao giờ ăn một bữa ăn giá 100 đô cho nên anh Sim đã nói “ăn một lần nhớ một đời” là đúng qúa chứ gì? Hỏi có ngon không? Tùy người nhận xét nhưng tôi thấy không ngon nhưng lạ miệng, ăn cho biết. Tôi đã định trước nên tôi nói với cháu Kim Chi là để cậu trả tiền cho. Cháu đã bỏ công mướn xe đưa chúng tôi thăm viếng Marseille cả ngày rất vui và hữu ích, cũng như gặp bạn trai cháu là Julian và mẹ của anh chàng, một phụ nữ Pháp lịch sự và vui tính. Sau đó em gái tôi đòi chia chi phí bữa ăn một nửa.

Nhân viên nhà hàng rất lịch sự vui vẻ, trong đó có một cháu là người Việt. Hỏi sang Pháp lâu chưa, cháu nói hơn một năm rưỡi và là sinh viên du học đi từ Sài Gòn. Nhà hàng thực khách rất đông chiếm gần 80% các bàn, đa số là các cặp Pháp lớn tuổi họ có vẻ thưởng thức món ăn rất tận tình mà không quan tâm đến vấn đề giá cả. Qủa dân Tây có tinh thần hưởng thụ, ăn ngon mặc sang là ưu tiên, còn các thứ khác chỉ là chuyện nhỏ.


Rời nhà hàng Julian xách theo bao đồ ăn toàn là món Bouillabaisse, thấy một ông vô gia cư (homeless) râu tóc xồm xàm ngồi trong góc phố, Julian đến đưa cho ông ta. Ông ta từ từ ngước lên nhìn anh chàng mà nét mặt vẫn thản nhiên không lộ vẻ gì. Có lẽ đưa ông rượu thì thích hơn là món Bouillabaisse đắt tiền.
KÝ SỰ DU LỊCH TÂY ÂU (BÀI 10)
MARSEILLE HẢI CẢNG MIỀN NAM NƯỚC PHÁP
Bài và hình: TRỊNH HẢO TÂM

Ngày xưa khi chưa có đường hàng không, Marseille là cửa ngõ để vào nước Pháp, sinh viên Việt Nam sang Pháp du học đều ghé qua đây trước khi đi xe lửa lên Paris. Vì vậy Marseille là nơi có cộng đồng người Việt đầu tiên ở hải ngoại. Trong cuộc Cách Mạng Pháp 14-7-1789 Marseille gởi 500 dân quân lên Paris năm 1792 để giúp chính quyền cách mạng. Trên đường tiến về thủ đô trong khí thế tưng bừng phấn khởi họ đồng ca bài La Marseillaise và bài hát này đã đi vào lịch sử trở thành quốc ca Pháp hiện nay.

Tôi đến thành phố Marseille vào sáng ngày Thứ Bảy 25-5-2013 cũng bằng tàu nhưng là tàu du lịch Preziosa của hãng Ý MSC tiện nghi sang trọng. Ngủ trong phòng Cabin máy điều hòa không khí, TV, tủ lạnh, ăn ở nhà hàng Buffet mở cửa 24/24 toàn là đồ Tây, đồ Ý. Đọc sách “Ký Ức Huỳnh Văn Lang” (Tập I) tác giả đã đi tàu Pháp Champollion sang Pháp du học vào tháng 8 năm 1950. Trang 333, 334 tác giả đã viết như sau: “Khi xuống tàu, tôi mới hay số sinh viên VN xuất dương đông đúc đến thế, hạng ba có gần 40, 30 nữ và gần 10 nam sinh viên, đang khi đó thì hạng tư được gần 200, phân nửa ở hầm giữa hai bên máy tàu và phân nửa ở đàng mũi tàu, trong số này có tôi. Cái võng đã thiếu bề dài để có thể nằm ngay chơn được, mà bề rộng cũng không thể đu đưa được vì chỉ cách người nằm kế không qúa một thước. Đồ đạc là một cái rương hay cái va li lớn, ai nằm đâu thì để ngay dưới võng của mình…Tám giờ tối, thủy thủ bưng đồ cho chúng tôi ăn tối. Chúng tôi ngồi ngay xuống sàn tàu, làm thành từng ô tám người. Lần đầu tiên chúng tôi nếm bánh mì đen cứng như củi và thịt bò hộp có mùi ten. Nước thì mỗi ô cho người thay phiên đi ra sau tàu lấy nước trà đen có mùi gỗ mục. Tôi e ngại nhứt là cái màu đen, cái màu đen của nước nhuộm quần lãnh hay vải săn đầm.”



Còn học giả nhà báo Phạm Quỳnh đến Marseille năm 1922 để tham dự hội chợ đấu xảo của các thuộc địa Pháp (tiếng Pháp gọi là Marseille Exposition Coloniale được mở làm 2 lần vào năm 1906 và 1922, có vua Khải Định đến tham dự). Trong quyển “Pháp Du Hành Trình Nhật Ký” viết vào ngày Thứ Tư 12-4-1922 như sau: “Ở Marseille có cảnh đẹp nhất là nhà thờ Đức Bà Bảo Hộ (Notre Dame de la Garde) xây trên cái đống cao 150 thước, trấn hãm cả địa thế thành Marseille thờ Đức Bà bảo hộ cho con nhà đi bể, khác nào như bà Thiên Hậu của người Tàu. Một tòa nhà thờ chon von ở giữa cái đống cao, trên đỉnh gác chuông lại có một cái tượng Đức bà lực lưỡng cao ngót mười thước, nặng hơn bốn nghìn năm trăm cân, những buổi mây quang trời tạnh, đứng khắp thành Marseille ở đâu cũng trông thấy, rõ như bức tranh vẽ, thật cũng là một cái kỳ quan. Tự dưới phố đi lên nhà thờ, hoặc đi chân thời phải theo đường thang khuất khúc, hoặc đi bằng một thứ thang máy làm theo kiểu ròng rọc có khấc (système à crémaillère). Lượt lên đi bằng thang máy, phải mất tiền, lượt xuống đi chân, qua những ngõ xóm hẻo lánh của bọn bình dân ở, biệt ra một cái cảnh riêng ở thành Marseille.”

Buổi sáng khi vừa mới đến chúng tôi đã đi lên núi viếng nhà thờ Đức Bà Hằng Cứu Giúp rồi, bây giờ vào trung tâm thành phố xem cho biết thế nào, luôn tiện đi ăn trưa luôn thể.

MARSEILLE ĐA VĂN HÓA NHIỀU CHỦNG TỘC

Marseille là thành phố lớn thứ nhì của Pháp với dân số 853,000 dân, nếu kể luôn các khu ngoại ô lân cận thì dân số lên đến 1 triệu 6. Về địa hình ba mặt tiếp giáp với núi, chỉ phía Tây thông ra biển Địa Trung Hải. Một vịnh nhỏ như cửa sông thoát nước từ trên núi đổ xuống, nơi đây ngày xưa là bến tàu nay gọi là Cảng Cũ (Vieux-Port), nay chỉ dùng neo những chiếc ca nô, thuyền buồm và là khu du lịch trung tâm thành phố với nhiều nhà hàng, quán rượu. Ở cửa Vịnh còn lưu lại hai thành quách cũ là thành Saint-Jean ở phía Bắc và thành Saint-Nicolas ở hướng Nam nằm hai bên trấn giữ cửa vào Cảng Cũ. Đại lộ chính của thành phố là đường Canebière chạy từ Cảng Cũ đi về hướng Đông và chấm dứt ở quảng trường Réformés, hai bên là những thương xá hiệu buôn danh tiếng. Khu thương xá lớn nhất là Centre Bourse cũng nằm trên đại lộ này nơi góc đường Canebière và St Ferréol. Trung tâm thành phố có nhiều phố đi bộ nổi tiếng như đường St Ferréol, quảng trường Julien gần Music Conservatory, quảng trường Honoré-d’Estienne-d’Orves cạnh Cảng Cũ và khu vực xung quanh tòa thị sảnh (Hôtel de Ville). Phía Đông Nam của thành phố là Quận 6 với quảng trường phun nước Place Castellane nơi các tuyến đường xe điện ngầm (Métro) và xe buýt gặp nhau. Phía Tây Nam thành phố là Quận 7 có nhà thờ Đức Bà Hằng Cứu Giúp trên núi. Ga xe lửa trung ương có tên là Gare de Marseille Saint-Charles ở hướng Bắc thương xá Centre Bourse thuộc Quận 1. Phi trường Marseille nằm ở hướng Tây Bắc trong vùng có tên là Marignane.

Khí hậu Marseille là khí hậu vùng Địa Trung Hải ấm áp, mưa vào mùa Đông, khô vào mùa Hạ. Lạnh nhất là những tháng 12, 1 và 2 với nhiệt độ trung bình ban ngày 12 độ C (54 độ F) và ban đêm khoảng 4 độ C (39 độ F). Tháng 7 và 8 nóng nhất với nhiệt độ khoảng 30 độ C (86 độ F) ban ngày và 19 độ C (66 độ F) vào ban đêm. Marseille được xem là khí hậu ấm nhất nước Pháp.

VÀI DÒNG LỊCH SỬ

Marseille là thành phố cổ xưa nhất nước Pháp, khoảng 600 năm trước Thiên Chúa đã có người Hy Lạp sinh sống vì là nơi nằm trên tuyến đường hàng hải từ Phocaea (nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) sang Tây Âu. Marseille ngày xưa có tên là Massalia dân số lúc đó trên 1,000 người liên kết với các thuộc địa của Hy Lạp như Etruscans (vùng Tuscany Ý), Carthage (thuộc Tunisia, tôi sẽ đến trong chuyến đi này) và Celts (dân tộc thuộc Bắc Âu) cùng nhau chịu sự bảo hộ của Đế quốc Cộng Hòa La Mã. Vì nằm dưới sự bảo vệ của La Mã nên Marseille phải cung cấp cho La Mã xuyên qua đất Pháp (lúc đó cũng thuộc La Mã) nhiều lương thực, hải sản và rượu vang kể cả người nô lệ. Ảnh hưởng của La Mã qua việc tìm thấy các hầm mộ (catacombs) ở gần Cảng Cũ và bia danh sách những người tử đạo cũng như giáo phận Marseille được thành lập từ thế kỷ Thứ Nhất.



Vào thế kỷ thứ 4, 5 đế quốc La Mã suy tàn, thành phố Marseille rơi vào tay người Visigoths (dân tộc du mục gốc Đức còn gọi là Goths). Vào giữa thế kỷ thứ 6 vua Pháp là Charlemagne giành lại Marseille nhập vào nước Pháp và biến nơi đây thành thương cảng nhộn nhịp trong suốt thời kỳ Trung Cổ. Năm 1348 thành phố bị trận dịch hạch đầu tiên giết mất 15,000 người trong khi dân số lúc đó chỉ có 25,000. Năm 1437 dân số gia tăng trở lại và có lúc tách rời nước Pháp để nhập vào vương quốc vùng đảo Sicily của Ý. Năm 1481 gia nhập vào tỉnh Provence và thuộc lãnh thổ Pháp mặc dù có sự kháng cự của một số nhóm sắc tộc. Có lúc (1536) Marseille trở thành căn cứ hải quân của liên minh Pháp-Ottoman để chống lại đế quốc La Mã (Holy Roman Empire) và nhất là với Genoa (trong chuyến đi này tôi cũng sẽ tới đây). Vào cuối thế kỷ 16, Marseille bị trận dịch hạch lần thứ hai và bịnh viện Hôtel Dieu được thành lập trong thời gian này. Sang thế kỷ 17 vua Louis 14 (1638-1715) còn gọi là “Louis le Grand” vị vua huy hoàng nhất nước Pháp, khi chưa nắm quyền được vì mặc dù lên ngôi sau khi Louis 13 chết, lúc ông mới 5 tuổi còn qúa nhỏ, quyền hành tập trung vào Hồng Y Mazarin. Ông chống lại triều đình Paris về Marseille xây hai thành quách Saint-Jean và Saint-Nicolas hiện vẫn còn.

Năm 1720 trận dịch hạch sau cùng giết đi 100,000 người mà người ta gọi là trận Đại Dịch Marseille. Cách mạng Pháp 1789 bắt giam và sau đó hành hình vua Louis 16 vì dân chúng qúa nghèo lại bị triều đình sưu cao thuế nặng, Marseille tham gia cách mạng và gởi 500 dân quân lên Paris, bài hùng ca ái quốc La Marseillaise trở thành quốc ca nước Pháp cho đến ngày nay. Trong thế kỷ 19 thành phố là một trong những nơi áp dụng cơ khí hóa vào dây chuyền sản xuất trong cuộc cách mạng kỹ nghệ nhờ lúc đó đã phát minh ra máy hơi nước. Từ đó Pháp chiếm được nhiều thuộc địa (Algeria, Tunisia, Đông Dương v.v…) cũng như mở cửa kinh đào Suez vào năm 1869 tàu bè phải ghé Marseille nhờ đó nơi đây phồn thịnh rất nhanh và tổ chức 2 cuộc hội chợ quốc tế trưng bày các sản phẩm của các thuộc địa vào năm 1906 và 1922.

Trong Đệ Nhị Thế Chiến, Marseille bị máy bay Đức và Ý oanh tạc năm 1940, sau đó thành phố bị quân Đức Quốc Xã chiếm đóng từ tháng 11-1942 đến tháng 8-1944. Ngày 22-1-1943 hơn 4,000 người Do Thái bị tập trung và chuyển sang Ba Lan để bị hành hình. Khu Cảng Cũ bị phi cơ Đồng Minh oanh tạc vào năm 1944 để mở đường cho việc giải phóng nước Pháp. Trong suốt thập niên 1950 thành phố được tái thiết với tiền bồi thường của các nước Đức, Ý. Cũng trong thập niên 1950 này Marseille là cửa vào nước Pháp bằng đường biển của dân các nước thuộc địa và cả con cái người Pháp sinh ra ở các nước thuộc địa (gọi là “pieds-noirs”). Những di dân này một số lại chọn Marseille làm nơi định cư khiến thành phố có nhiều khu người nước ngoài như Algeria, Maroc, Tunisia và Việt Nam. Trong thế kỷ 21 này Marseille lại thiên về hoạt động chính trị ảnh hưởng toàn nước Pháp chỉ sau Paris. Nhiều xưởng lọc dầu cũng được thiết lập nơi đây và có đường ống dẫn lên các thành phố phía Bắc. Hải cảng cũng hoạt động mạnh nhưng thêm vào là kỹ nghệ du lịch với nhiều hãng du thuyền làm bến để đưa du khách ghé vào nhờ vậy các ngành như ăn uống, khách sạn, phi trường thêm phát triển. Theo thống kê hàng năm có 2.4 triệu du khách  trong số đó khách đi du thuyền là 890,100 người. Với những bãi biển, di tích lịch sử, kiểu  kiến trúc và nền văn hoá lâu đời và 24 viện bảo tàng, 42 rạp hát, Marseille là một trong những thành phố hấp dẫn du khách nhất nước Pháp (có 4.1 triệu du khách viếng nước Pháp trong năm 2012).

Kim Chi là cháu gái gọi tôi bằng cậu cùng bạn trai là Julian lái xe đưa chúng tôi dạo trung tâm thành phố nhất là con đường chính Đại Lộ Canebière với nhiều cửa hàng bán đồ hiệu nổi tiếng của Pháp, Ý như đồ da, dầu thơm, mỹ phẩm, nữ trang v.v…Con đường này về hướng Tây là đụng Cảng Cũ nơi đây du khách tấp nập với Nhà Bảo Tàng Lịch Sử Thành Phố Marseille. Bên trong trưng bày những hình ảnh, đồ vật cổ của thành phố có chiều dài mấy ngàn năm lịch sử, tôi tin rằng rất hấp dẫn mặc dù chuyến đi này chưa có dịp viếng qua.

Chúng tôi ngồi xe chạy trên đường Rue Paradis về hướng Bắc, thấy con đường dài thẳng tấp với hai dãy phố lầu hai bên. Khi đến cuối con đường thì đụng ngã ba với đại lộ Canebière chắn ngang, nhưng trước mặt cảnh đường phố vẫn còn mặc dù có hàng rào sắt phía trước, nhìn kỹ mới biết cảnh đường phố đó là cảnh giả vẽ trên tường khiến ta thấy như đường phố vẫn còn tiếp tục kéo dài. Cảnh đường phố được vẽ trên tường của ngôi nhà cổ là trụ sở của Phòng Thương Mại Marseille. Trụ sở này trang trí hai bên là tượng của Euthymenes (bên trái) là nhà địa dư Hy Lạp xuất phát đi từ Marseille để khám phá vùng phía Tây Phi Châu. Bên phải là Pytheas cũng nhà địa dư Hy Lạp khám phá ra vùng phía Bắc Tây Âu




Về Phòng Thương Mại này trong quyển “Pháp Du Hành Trình Nhật Ký” ghi lại vào ngày Thứ Ba 18-4-1922 học giả Phạm Quỳnh đã viết như sau: “Xem nhà Thương Nghiệp Công Quán (la Bourse) thành Marseille. Nhà này ở đầu đường Canebière, là của Hội Thương Mại (Chambre de Commerce) thành Marseille dựng ra từ năm 1852 đến 1860. Nhà lầu nguy nga, ngoài hiên đi vào hai bên có hai tượng đá thật lực lưỡng là tượng Thần Hàng Hải và tượng Thần Công Thương. Vào trong thời có gian chính giữa rộng thênh thang, tức là chỗ ngày ngày các lái hối đoái (agents de change) đến định giá các giá phiếu (cote des valeurs) cứ tự trưa đến bốn giờ chiều, người đông nghìn nghịt, kẻ xướng người gọi, tiếng om cả nhà không cảnh gì vui bằng”. Đó là quang cảnh hoạt động của thị trường chứng khoán vào năm 1922, cách nay gần 100 năm mà học giả Phạm Quỳng đã ghi lại.
KÝ SỰ DU LỊCH TÂY ÂU (BÀI 9)
VIẾNG NHÀ THỜ NOTRE DAME DE LA GARDE Ở MARSEILLE, PHÁP
Bài và hình: TRỊNH HẢO TÂM

Marseille là thành phố lớn bậc nhì ở nước Pháp với dân số 853,000 người nếu tính luôn vùng phụ cận bên ngoài ranh giới thành phố dân số lên đến khoảng 1.6 triệu người. Tọa lạc ở vùng bờ biển Địa Trung Hải phía Tây Nam của nước Pháp, Marseille là thủ đô của vùng Provence-Alpes-Côte d’Azur là thành phố có lịch sử cổ xưa nhất nước Pháp. Trước đây thời Pháp thuộc, từ Việt Nam đi Pháp bằng tàu thuyền đều phải ghé vào hải cảng Marseille nên Marseille có cộng đồng người Việt đầu tiên ở hải ngoại. Ngày nay còn lưu lại danh thơm tiếng tốt cho những người Việt Nam định cư tại đây.

Buổi sáng ngày Thứ Bảy 25-5-2013 thức giấc vào lúc 7 giờ thì chiếc du thuyền Preziosa đã cập bến Marseille từ bao giờ. Nhìn lên bờ hướng Tây Bắc là một dãy núi thấp toàn là đá màu trắng, ít cây cối có lẽ quanh năm mưa ít, phía Đông Nam thành phố Marseille chi chít những mái nhà tường trắng ngói đỏ chạy dài lên đến tận dãy núi phía Đông. Marseille đây rồi, xưa nay từng nghe nói từng đọc sách báo, hôm nay lần đầu tiên mới đến được Marseille.



Ăn sáng trên nhà hàng Buffet trên tàu xong chúng tôi rời tàu lên bến lúc 8 giờ.  Nhà ga bến cảng Marseille của hãng du thuyền Ý MSC có vẻ cũ kỹ, hôm nay trời u ám gió lạnh từng cơn thổi vào nhà ga. Theo chương trình cháu gái kêu tôi bằng cậu tên Phùng Kim Chi con của em gái tôi đang đi làm ở Genève (Thụy Sĩ) sẽ đến đón đưa vợ chồng chúng tôi cũng như ba má Kim Chi đi chơi thăm thú thành phố Marseille suốt ngày hôm nay. Em rể tôi gọi điện thoại thì Kim Chi hãy còn trong khách sạn và nói sẽ tới trong khoảng nửa giờ đồng hồ nữa. Từ bến tàu MSC vào trung tâm thành phố khoảng 10 km, tàu Preziosa có xe buýt đưa du khách vào trung tâm thành phố với vé khứ hồi là 15 Euros. Ngoài ra còn có các tua Excursions dẫn đi viếng thành phố gọi là City Tour, đi viếng các nơi sâu trong đất liền như thành phố Aix-en provence, viếng làng du lịch biển Cassis, viếng thành phố cổ Avignon là nơi ngày xưa tòa thánh Vatican vì giặc giã phải dời về đây.

Trong lúc chờ cháu Kim Chi đến trong nhà ga bến cảng chúng tôi gặp vợ chồng một người Việt Nam là anh chị An (xin lỗi quên mất họ) là chủ môt nhà hàng Việt có tên dường như là Saigon Night. Anh chị cũng đi du thuyền Preziosa và hôm nay trở về bến cũ Marseille đang chờ người thân đem xe ra đón. Nhân tiện trong lúc chờ đợi chúng tôi hỏi thăm về sinh hoạt của cộng đồng người Việt tại thành phố Marseille. Anh là người Bà Rịa vượt biên sang định cư khoảng 1980 và sinh sống làm thương mại ở Marseille nên biết nhiều về cộng đồng người Việt tại đây.
Tôi sẽ đề cập đến trong phần nói về Cộng Đồng Việt Nam tại Marseille nhất là ông cảnh sát trưởng Charles Nguyễn Văn Lộc tài ba can đảm rất nổi tiếng trên nước Pháp về thành tích trừ gian diệt bạo trong thời gian ông làm cảnh sát trưởng Quận 7 trong thành phố nổi tiếng về những tay anh chị giang hồ trong giới Mafia.

Chín giờ cháu Phùng Kim Chi đến, lái xe là bạn trai cháu tên Julian. Kim Chi và cha mẹ là em tôi năm 1978 cùng vượt biên trên một ghe do tôi điều khiển. Có một người bác ruột đang du học tại Đức nên gia đình được Đức nhận sang định cư tại Bremen, Đức. Kim Chi đậu cữ nhân ngay tại Marseille rồi được học bổng cao học ở Los Angeles và đậu Master bên Mỹ. Cháu nói được tiếng Việt, Đức, Pháp, Anh và chút Tây Ban Nha và Ý. Kim Chi và Julian chiều qua Thứ Sáu lái xe từ Genève xuống Marseille mất khoảng 5 giờ đồng hồ. Sáng nay đi mướn xe SUV 6 chỗ ngồi để chở chúng tôi du ngoạn Marseille.

VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG NOTRE DAME DE LA GARDE

Đầu tiên là đi viếng thánh đường Notre Dame de la Garde (Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp) nổi tiếng là đệ nhất thắng cảnh của Marseille. Nhà thờ nằm trên núi cao ở hướng Nam thành phố với tháp chuông cao chót vót có tượng Đức Mẹ bồng Chúa (Madonna and Child) bằng đồng mạ vàng lấp lánh nhìn ra hướng biển. Nhà thờ có kiến trúc theo kiểu Neo-Byzantine xây dựng bởi kiến trúc sư Henri-Jacques Espérandieu khởi công vào năm 1864. Nhà thờ được xây trên ngọn núi đá vôi màu trắng xanh có cao độ 149 m (490 ft) ở phía Nam của khu Bến Cảng Cũ (Vieux Port) để thay thế ngôi nhà thờ cũ cùng tên xây từ năm 1214 và được tái thiết phục hồi vào thế kỷ 15. Nhà thờ xưa cũng như ngày nay có tên là Notre Dame De La Garde với niềm tin Đức Mẹ sẽ che chở cho những người đi biển.

Julian lái xe vào những con đường lát đá rất hẹp lại dốc núi, hai bên là những dãy phố liên tiếp nhau nhưng rất ít người lai vãng, có lẽ sáng Thứ Bảy dân chúng chưa thức vội. Đây là những khu phố cổ, đường nhỏ hẹp vì thời xưa chỉ đi bộ hay xe ngựa, những con phố tiêu biểu cho thành phố cổ Marseille. Khó nhất là tìm nơi đậu xe nhưng cuối cùng cũng có chỗ mặc dù đem xe vào rất khó, chỗ trống rất hẹp lại đường dốc. Chúng tôi 6 người đi bộ lên nhà thờ, có nơi phải trèo lên những bậc thang, gió lạnh từ biển thổi lồng lộng vào mặc dù trời đã bắt đầu có nắng.

Cuối cùng chúng tôi cũng tới được sân nhà thờ, nhìn lên thấy tháp chuông cao sừng sững và nhìn xuống núi là biển xanh với những đảo núi đá ngoài xa. Vì Kim Chi và bạn trai Julian chưa cà phê buổi sáng nên chúng tôi vào quán nước (cantine) nhà thờ tìm cà phê và chút gì lót dạ. Vào quán trang trí đơn sơ nhưng sạch sẽ, thấy vài ba chị phụ nữ buôn bán nơi đây ăn mặc đơn giản chỉ áo sơ mi quần tây, không trang điểm và trông giống người Việt. Tôi hỏi thử đúng ra các chị là người Việt và là các dì phước nữ tu Dòng Thừa Sai Khổ Hạnh từ Việt Nam sang. Thấy tôi hỏi thăm bằng tiếng Việt các chị rất vui vẽ trả lời. Cho biết có 8 dì làm việc tại đây, phục vụ dọn dẹp, sổ sách, bán quán nước cho nhà thờ. Tôi xin chụp hình các dì nói rằng luật nhà dòng không cho chụp hình, tôi đành phải tuân thủ. Cà phê và bánh Croissant cho 6 người chỉ có 12 Euros. Sau đó chúng tôi đi vào gian chính nhà thờ phía dưới lúc đó du khách đã bắt đầu vào tấp nập.



Nhìn tổng quát nhà thờ có 3 phần: nhà thờ phía dưới (Crypt), nhà thờ chính và tháp chuông hình trụ vuông phía trên cùng là tượng Đức Mẹ Bồng Chúa Hài Đồng. Nhà thờ phía dưới là nơi đầu tiên du khách bước vào, nơi đây không trang trí nhiều, có bàn thờ chính và hai bậc thang dẫn lên nhà thờ trên. Khi chúng tôi đến đây thánh lễ đang cử hành nơi bàn thờ chính, vì số ghế có giới hạn nên có một người đàn ông Việt Nam đứng giữ trật tự không cho du khách vào vì đã hết chỗ. Tôi hỏi thăm anh, nhà thờ có linh mục Việt không? Anh ta cho biết dưới thành phố Marseille thì tuần nào cũng có thánh lễ tiếng Việt vì có cộng đoàn Việt Nam ở đó. Anh cũng là người tỵ nạn vượt biên từ thập niên 1980.



Ở gian phía trước nhà thờ dưới có tượng Đức Bà Bồng Chúa giống như trên tháp chuông nhưng kích thước nhỏ hơn. Kim Chi và Julian mua cho chúng tôi mỗi người một cây nến để thắp cùng hàng chục ngọn nến đang cháy trước tượng Đức Mẹ. Sau đó theo bậc thang chúng tôi lên nhà thờ chính phía bên trên.

Chánh điện nhà thờ bên trên trang hoàng bằng đá hoa cương sọc màu đỏ và trắng, trên vòm trang trí bằng những bức tranh cẩn đá màu Mosaics công phu và nghệ thuật với hình ảnh Đức Mẹ, các thánh, tàu thuyền, chim công và két, bảng khắc Luật của ông Moses, thuyền của ông Noah trong trận lụt Đại Hồng Thủy. Những bức tranh ghép đá này ngoài giá trị nghệ thuật còn có tính cách lịch sử vì được sáng tác cách nay hơn 100 năm.

Phần thứ ba là tháp chuông nhà thờ hình trụ vuông cao 41 mét (130 ft) có 4 tầng lầu với cửa sổ và ban công ra ngoài, tháp cũng được xây bằng đá trắng, xanh đường nét rất chi tiết. Bên trên là tượng Đức Mẹ đặt trên một bệ tháp tròn cao 12.5 mét (40 ft), riêng tượng Đức Mẹ Bồng Chúa cao 11.2 mét (36 ft) được đúc bằng đồng và mạ vàng (khoảng nửa ký vàng). Có thang dẫn lên tượng nhưng không mở cho công chúng lên xem vì lý do bảo tồn di tích.

LỊCH SỬ NHÀ THỜ NOTRE DAME DE LA GARDE

Thành phố Marseille có từ thời xa xưa cổ đại, ba bề được bao bọc bằng những dãy núi thấp chỉ có mặt phía Tây trống tiếp giáp với biển gọi là Vịnh Marseille. Ngọn núi phía Nam các nhà hàng hải ngày xưa thường dùng làm một điểm mốc (landmark) để xác định vị trí con thuyền của họ. Năm 1214 tu sĩ Pierre xây một nhà nguyện trên ngọn đồi La Garde để thờ kính Đức Mẹ Đồng Trinh đã phù hộ các ngư phủ đi đánh cá được bình yên. Năm 1302 vua vùng Naples là Charles II of Anjou (lúc đó cai trị luôn Marseille) ra lịnh thành lập hệ thống hải tiêu dọc theo duyên hải vùng Provence thì ngọn núi nơi nhà nguyện là một trong những địa điểm dựng tháp hiệu hải tiêu đó. Vào đầu thế kỷ 15 nhà nguyện lớn hơn được xây lên thay thế nhà nguyện nhỏ.

Qua thế kỷ 16 vào năm 1531 vua Pháp Francis I khi đi kinh lý vùng Marseille nhận thấy việc phòng thủ rất yếu ớt vì trước đó năm 1524 đã bị vua Charles III tấn công và suýt nữa chiếm được Marseille. Vua ra lịnh xây đồn thành lũy ngoài đảo If và đồn thứ nhì cạnh nhà thờ. Hiện nay di tích hai đồn nói trên vẫn còn, thành lũy Chateau d’If trở thành địa điểm du lịch trong khi đồn cạnh nhà thờ chỉ còn một góc tường thành lớn ở phía Nam. Hai thành lũy đó trong lịch sử đã chứng kiến nhiều trận đánh giữa các phe phái để chiếm đóng Marseille. Trong trận Đại Dịch Hạch năm 1720 đã làm chết hơn 100,000 người dân Marseille, giám mục Henri de Belsunce đã ba lần lên nhà thờ Notre Dame de la Garde để cầu nguyện xin Đức Mẹ phù hộ cho dân chúng thành phố được thoát cơn tai ách.



Trong cuộc Cách Mạng Pháp 1789 nhà thờ bị quân cách mạng chiếm giữ làm ngục thất giam các công hầu bá tước liên hệ tới hoàng gia vua Louis 16. Sau đó nhà thờ bị quốc hữu hóa và cho thuyền trưởng Joseph Escaramagne thuê làm dinh thự riêng nhưng ông này lại là người mộ đạo. Vào tháng Chín 1800 ông ta viết trong thư gởi Bộ Trưởng Chiến Tranh Lazare Carnot xin mở cửa lại nhà thờ. Cuối cùng nhà thờ mở cửa cho dân chúng vào thờ phượng vào ngày 4 Tháng Tư 1807. Ông ta cũng mua lại được tượng Đức Mẹ Bồng Chúa Hài Đồng và tay phải cầm bó hoa. Tượng được đặt tên là “Virgin of the bouquet” hiện được trưng bày ở nhà nguyện dưới nhà thờ. Từ đó nhà thờ trở nên nổi tiếng nhất là những nhà qúy tộc đến tạ ơn như công nương Caroline của Naples và đảo Sicily con vua Francis I, công chúa Marie Therese of France con vua Louis 16 lặn lội trèo lên nhà thờ trong ngày gió mạnh. Khách nổi tiếng khác là nhà văn Francois-René de Chateaubriand (1768 – 1848) cũng còn là một nhà chính trị, ngoại giao và sử gia.

Sau đó nhà thờ được lên kế hoạch xây mới và phải xin phép từ Bộ Trưởng Chiến Tranh và được chấp thuận năm 1852. Nhà thờ mới lớn hơn được xây trên nền nhà thờ cũ và quân đội sẽ rút khỏi cơ sở thành lũy bên cạnh nhà thờ. Nhà thờ hiện nay như ta thấy khởi công ngày 11-9-1853 nhưng gặp trở ngại thiếu hụt tài chánh vì đá dưới nền móng qúa cứng phải khoan đào rất khó. Công việc xây cất đình trệ, kéo dài cho đến năm 1867 mới xong tháp chuông và phần bệ dưới tượng Đức Mẹ. Tượng này do ba nhà vẽ kiểu ở Paris phát thảo và đưa xuống cho một ủy ban thuộc thành phố Marseille cho ý kiến. Ủy ban đồng ý bảng vẽ của Eugène-Louis Lequesne căn cứ theo sức nặng mà tháp chuông chịu đựng được và giá cả đúc tượng. Vật liệu được chọn là đồng và đúc theo phương pháp mới thời đó là “Galvanoplasty” (đúc không cần lửa). Tượng được đúc làm 4 phần rời nhau và đưa lên ráp hoàn thành vào ngày 24-9-1870. Tượng được mạ bằng 500 grams (18 oz) vàng vào năm 1897, sau đó tu bổ lại vào năm 1936, 1963 và 1989.




Hôm nay là một ngày gió rất mạnh, dân chúng Marseille gọi là gió “Mistral” thổi từ hướng Tây Bắc xuống những tỉnh miền Nam nước Pháp (gần Địa Trung Hải) vào mùa Đông mặc dù hôm nay đã vào Xuân. Đứng từ trên nhà thờ nhìn xuống thành phốMarseille quang cảnh phía dưới rất đẹp nhà cửa chi chít tường vàng ngói đỏ, phía Tây là biển xanh Địa Trung Hải với những đảo đá ngoài khơi. Phía Bắc là hải cảng với những chiếc du thuyền khổng lồ đang neo đậu trong bến cảng.
KÝ SỰ DU LỊCH TÂY ÂU (BÀI 8)
LÊN DU THUYỀN MSC PREZIOSA Ở BARCELONA
Bài và hình: TRỊNH HẢO TÂM

Sáng ngày Thứ Sáu 24-5-2013 chúng tôi dậy lúc 7 giờ, sang quán cà phê bên kia đường ăn sáng, cũng vẫn khúc bánh mì dài, ly cà phê sữa giá 3 đồng. Sau đó dạo phố Barcelona gần khách sạn mua một vài món cần thiết cho chuyến đi du thuyền như giày đi bộ, áo ngắn vì trời bắt đầu nóng rồi về khách sạn Market thu dọn hành lý và làm thủ tục trả phòng. Nói chung khách sạn này tốt, tuy cũ nhưng rất sạch sẽ, nhân viên tử tế cung cấp bản đồ và chỉ dẫn đường đi đến các thắng cảnh trong thành phố. Khách sạn lại tọa lạc ở trung tâm thành phố cạnh chợ nên mua sắm món gì cũng có kể cả một nhà hàng Buffet hải sản chúng tôi ăn trưa hôm mới tới và một tiệm tạp hóa Tàu có bán mì gói đủ loại.


Bốn người chúng tôi lên taxi xuống bến tàu của hãng du thuyền MSC, tới nơi khoảng 10 giờ, tại bến tàu chiếc du thuyền khổng lồ tên Preziosa đậu ở đó nhưng khung cảnh vắng hoe. Du khách lên bờ tham quan thành phố Barcelona đã đi hết từ lúc 8 giờ sáng khi tàu vừa cập bến, khách mới xuống tàu như chúng tôi vì còn qúa sớm nên chắc họ còn trên máy bay trên đường đến Barcelona. Chiều nay tất cả hành khách mới cũng như cũ phải lên tàu trước 5 giờ 30 và 6 giờ tàu khởi hành đi Marseille. Chúng tôi xuống sớm để xem du thuyền này to lớn, sang trọng, tối tân như thế nào và ăn trưa luôn. Phố phường Barcelona đã thăm viếng, đi chơi suốt hai ngày qua, những thắng cảnh chính như nhà thờ Sagrada Familia, những ngôi nhà kỳ lạ của Gaudi, công viên Park Guell cũng đã thăm qua, thấy tạm đủ để giã từ Barcelona.

Bến tàu vắng khách chỉ có chúng tôi nên thủ tục mau lẹ dễ dàng, đầu tiên gởi hành lý lớn, mình ghi số phòng Cabin vô tấm thẻ và cột vào hành lý để họ biết mà đưa lên phòng (một tuần trước ngày khởi hành hãng MSC đã email thư xác nhận và cho biết Cabin mình số mấy, thủ tục này gọi là “Check-in” để biết chắc là mình sẽ đi). Kế đến đi vào bên trong văn phòng bến tàu (Embarkation Serves) nơi đây có hàng chục quày tiếp đón chụp hình, cho biết số thẻ tín dụng Visa và lấy tấm thẻ nhựa gọi là Cruise Card của hãng MSC. Thẻ này vừa như thẻ căn cước (ID Card), vừa mở cửa phòng ngủ Cabin, vừa như thẻ tín dụng (Cruise Credit Card) mua sắm, ăn uống, chơi bài, hớt tóc, tắm hơi massage thư giãn vừa để kiểm soát mỗi khi lên xuống tàu. Mỗi lần lên xuống tàu nhân viên cà thẻ và nhìn mặt xem có giống hình đã chụp lưu trong máy của họ hay không? Ai chưa trở về tàu, đi trễ, đi lạc là họ sẽ biết. Ai có rơi xuống biển hay tự tử, rồi họ cũng biết vì thấy có xuống tàu mà không thấy trở lên. Năm nay bên California thấy báo đăng tin một ông Mỹ bị xử vì tôi giết vợ người Á Châu đã ly thân khi hai người cùng đi du thuyền cũng Địa Trung Hải. Số là hai người sau một thời gian chung sống, cơm không lành canh không ngọt bèn ly thân chờ làm thủ tục ly dị, chữ nghĩa trong ngành luật là “Sugar you, you go, sugar me, me go” (dịch sát: “Đường anh anh đi, đường tôi tôi đi”). Một hôm ông Mỹ rũ bà vợ ly thân đi chơi du thuyền một chuyến trước khi chia tay. Trên du thuyền ông báo là bà vợ mất tích, ông nói rằng sau khi đi nhảy đầm về, nửa khuya bà vợ bảo là xuống nhà hàng tìm một chút gì để dằn bụng. Sau đó không thấy bà trở lại. Tuần sau trên một bờ biển nước Ý người ta phát giác một tử thi phụ nữ trôi giạt vào bờ. Cảnh sát cho giảo nghiệm tử thi thấy nạn nhân bị xiết cổ chết. Đối chiếu tin tức, cảnh sát nghi ông Mỹ đi du thuyền này giết vợ và thông báo bên Mỹ để thẩm vấn ông ta. Ông nhận tội, lý do giết là muốn hưởng tiền bảo hiểm nhân thọ và tài sản bà này để lại. Đó là trường hợp án mạng, có nhiều vụ mất tích trên du thuyền tới giờ này vẫn chưa tìm ra manh mối. Thân nhân kiện hãng du thuyền nhưng thủ tục kéo dài cũng chẳng đi đến đâu!

Trở lại chuyến du thuyền chúng tôi đi, chuyến này đi trong vùng biển Địa Trung Hải trong vòng 7 ngày qua các thành phố như Barcelona (Tây Ban Nha), Marseille (Pháp), Genoa, Naples, Messina (đảo Sicilia, Ý) và Tunis (Tunisia, Bắc Phi Châu). Du thuyền Preziosa cứ đi theo vòng đó, đêm tàu chạy và ngày đậu bến để du khách lên bờ đi chơi, ngắm cảnh. Khách muốn xuống tàu khởi hành ở bến nào cũng được trong số 6 bến đó và kết thúc chuyến đi khi tàu về bến cũ. Chuyến du thuyền này chúng tôi trả 800 USD mỗi người với Cabin 2 người mỗi phòng. Giá cả thuộc dịch vụ lên xuống bất thường tùy theo số cung và số cầu, giá du thuyền cũng không cố định mà thay đổi, mùa Đông cũng chuyến này có khi chỉ còn 300 USD! Mùa hè vào tháng 7 này, vào trang mạng MSC thăm lại thấy giá vé lên đến 1,200 USD tức đắt hơn 400 đồng! Tôi đi cuối tháng 5 mà phải mua vé từ hồi tháng Giêng.

Giá trên bao gồm tiền tàu, phòng Cabin và ăn uống từ 6 giờ sáng đến 12 giờ đêm, nửa khuya cho đến khi về sáng có thể lai rai cà phê, trà, bánh ngọt lúc nào cũng được trên nhà hàng Buffet (đừng vào ba rượu bị khứa rất mắc tiền!). Về ăn tối có thể chọn Buffet tự mình đi lấy hay Restaurant có người phục vụ. Trên thẻ Cruise Card đã ghi sẵn mỗi ngày ăn tối ở nhà hàng nào và vào lúc mấy giờ cũng như bàn số mấy. Trên tàu này chỉ có hai nhà hàng là The Golden Lobster và L’Arabesque, chúng tôi được chỉ định ăn nhà hàng L’Arabesque vào lúc 7 giờ tối. Không biết có phải “tiền nào của nấy”, hạng cá kèo phải ngồi sạp gỗ, thượng hạng ngồi ghế nệm, tôi không có vô nhà hàng The Golden Lobster lần nào nên không biết có gì khác biệt không? Mỗi đêm xuống nhà hàng L’Arabesque thấy sang trọng quý phái lắm chẳng khác nào mán ngồi xe, còn đèo bồng chi có khi còn bị nói “ăn mày mà đòi xôi gấc”!

Ở Buffet thì muốn ăn kiểu nào cũng được “You can do what you want”! Ngồi ở đó từ 6 giờ sáng đến 2 giờ đêm cũng không ai có quyền nói gì! Ở nhà hàng cũng có quyền tự do lắm, thực đơn có xà lách, súp, món chính, tráng miệng, có thể chọn hai món súp khác nhau, hai món chính, 3 món tráng miệng. Ăn bao nhiêu cũng được, nhưng uống là phải trả tiền dù chỉ là…nước lạnh nói chi là vang, champagne, rượu mạnh.



Đó là ăn còn chơi cũng rất là nhiều thứ, ban đêm xem ca vũ nhạc, xiếc, ảo thuật, phim ảnh, tham dự khiêu vũ, nhạc giựt Disco trên tầng chót. Ban ngày bơi lội, chơi trượt nước trên máng, bóng bàn, bi da, tập thể thao, massage, làm tóc, làm móng tay, đọc sách, mua sắm, chơi bài, kéo máy trong Casino v.v…Có những thứ bao gồm trong vé tàu, có cái phải trả tiền nhưng chi phí nào cũng có hóa đơn và mình đồng ý ký vào mới có giá trị. Có vài món thông thường phải trả tiền như các chai nước uống trong phòng (2.5 Euros mỗi chai), WiFi để vào Internet (rất đắt nên không dám vô, chỉ vào Internet khi lên bờ vào các quán cà phê) và tiền bồi dưỡng (Tip) nhân viên là 7 Euros mỗi du khách mỗi ngày (thí dụ cuối chuyến đi 2 người chúng tôi phải trả 7 Euros x 2 Người x 7 Ngày  = 98 Euros). Bất cứ lúc nào mình cũng có thể đòi xem trương mục của mình, coi đã tiêu bao nhiêu. Nếu không có thẻ tín dụng Visa, Master Card làm bảo chứng thì phải ký qũy bằng tiền mặt. Tất cả các chi tiêu sẽ thanh toán ở quày Accounting trong buổi sáng cuối cùng trước khi lên bờ. Nếu quên thanh toán khi cà thẻ họ sẽ lịch sự mời mình trở vô thanh toán cho xong. Trong chuyến đi nếu có bịnh hoạn, có phòng y tế với bác sĩ trực 24/24. Trong chuyến tàu tôi phòng y tế ở tầng 4 và cô em gái tôi vì ho và khó thở nên nửa đêm phải đi phòng y tế lần đầu 70 Euros, hôm sau bịnh vẫn còn, đi nữa bị tính 60 Euros, chưa tính tiền mua thuốc. Không biết trở về Đức có lấy lại được từ hãng bảo hiểm sức khỏe hay không? Nhưng cô ta nói bịnh là phải đi khám bác sĩ.

Xong thủ tục lên tàu, chúng tôi rời văn phòng ở bến cảng và lên tàu qua một cây cầu. Nhân viên ở đây cà thẻ và chúng tôi tiến vào bên trong, đây là tầng 5 có quày tiếp tân (Reception) rất sang trọng đồng thời là nơi tính hóa đơn (Accounting) và giải đáp mọi thắc mắc khiếu nại. Chúng tôi lấy thang máy lên lầu 10 tìm phòng Cabin của mình vì phòng của tôi số 10186 và phòng vợ chồng cô em kế bên số 10190. Phòng chúng tôi là phòng nhỏ và rẻ nhất nhưng thiết kế rất đẹp và tiện nghi tận dụng từng tấc vuông diện tích mặt bằng, đại khái giường cho 2 người, bàn viết, tủ treo quần áo, tủ sắt an toàn (dùng mật mã 4 số) và phòng tắm, vệ sinh sang trọng bóng loáng vì tàu rất mới vừa hạ thủy vào tháng 3-2013 cách nay mới 2 tháng!

Tàu Preziosa có tất cả 18 tầng, thấy qúa lớn nên trước khi lên tàu tôi sợ lạc nhưng thật ra sinh hoạt hàng ngày trên tàu du khách chỉ thường lui tới một vài tầng mà thôi. Như tầng 5 có quày tiếp tân và cửa lên xuống tàu. Tầng 6 có nhà hàng để ăn tối với người phục vụ, rạp hát Platinum Theatre xem nhạc hội mỗi đêm, phòng bán các tua du lịch trên bờ (Excursion Office), các quày bán hàng nữ trang, điện tử, đồ da, mỹ phẩm. Tầng 7 có phòng trà ca nhạc khiêu vũ, phòng chụp và bán hình (Photo Shop, trên tàu họ thường chụp hình, hôm sau xem hình và nếu thích thì mua ở đây, 15 Euros một tấm, 3 tấm 30 Euros), quán cà phê Cappuccino, nhà hàng Ý, trưng bày và bán tranh  Phòng ngủ tức Cabin hành khách chiếm từ tầng 8 cho tới tầng 13. Tầng 14 phía sau tàu là nhà hàng Buffet, phía trước là hồ tắm với các Bar rượu. Đây là tầng cao nhất cuối đường thang máy, đi bộ lên tầng 15 cũng là hồ tắm, phòng tập thể thao, vườn trẻ. Tầng 16 có trò chơi nước như trượt máng nước, rạp chiếu phim 4D, Galaxy Lounge là nơi nhảy disco.



ĐẶC TRƯNG VÀ LAI LỊCH CHIẾC DU THUYỀN MSC PREZIOSA

Du thuyền MSC Preziosa là du thuyền thuộc hạng Fantasia, trọng tải 139 ngàn tấn, chiều dài 1,092 ft (333m), chiều ngang 124.7 ft (38m), chiều cao 219 ft (67m), từ mực nước tàu nổi tới đáy tàu (phần chìm dưới nước) 27.2 ft (8.29m). Có 18 tầng với 13 tầng hành khách. Trang bị bằng máy Diesel 40,000KW có 2 chân vịt chạy với vận tốc 23.7 knots (43.9 kmh, 27.3 mph), chở được 3,959 hành khách và 1,370 thuyền viên. Tàu đăng kiểm quốc tịch Panama (có lẽ thủ tục dễ dàng hơn), thủy trình Địa Trung Hải, trị giá 550 triệu Euros (715 triệu USD), đưa vào phục vụ Tháng Ba 2013.

Có một điều trùng hợp là du thuyền tôi đi lại liên hệ đến nhà độc tài ở sa mạc nóng như thiêu mà luôn luôn phủ mền và vận chăn đó là Đại Tá Gaddafi. Lai lịch chiếc tàu lại liên hệ đến cách mạng trong thế giới các nước Hồi Giáo. Vào ngày 4 Tháng 6, 2010 một bảng ghi nhớ giữa hãng đóng tàu Pháp tên STX ký với Công Ty Vận Tải Hàng Hải Libya để đóng cho nước Libya này một chiếc du thuyền lớn tên là Phoenicia trên tàu có một hồ (aquarium) cá mập 120 tấn  theo ý muốn của Hannibal Gaddafi, con trai ông Gaddafi lãnh tụ Libya lúc đó. Trong thời gian đóng tàu, cách mạng Hoa Lài bộc phát ngày 15-2-2011 và giết chết Gaddafi. Tháng 6-2011 hãng đóng tàu STX hủy hợp đồng và tìm người mới mua tàu. Ngày 13-3-2012 hãng du thuyền MSC của Ý Đại Lợi tuyên bố đồng ý mua tàu với giá 550 triệu Euros và đặt tên là Preziosa. Năm sau tàu hoàn tất và được đưa từ St. Nazaire (Pháp) sang Genoa (Ý) giao cho công ty du thuyền MSC vào ngày 22-3-2013. Lễ khánh thành tàu người đập chai Champagne là nữ tài tử Ý Sophia Loren (xuân xanh nàng đã tới tuần tám không (80) nên thay vì đập chai, thấy nàmg nhận nút). Hiện nay tàu chạy trên thủy trình Địa Trung Hải nhưng vào mùa Đông 2013 và mùa Xuân 2014 số hành khách giảm sút vì thời tiết lạnh lẽo, theo kế hoạch hãng MSC sẽ đưa tàu về vùng Santos thuộc Ba Tây, Nam Mỹ.

Còn 15 phút nữa 5 giờ chiều, loa trong Cabin vang rền tiếng còi báo động bảo phải mang áo phao cất trong tủ, xuống dưới rạp hát Platinum Theatre ở tầng 6 để thực tập màn thoát hiểm trong trường hợp khẩn cấp. Chúng tôi cũng không mấy ngạc nhiên vì trong tờ chương trình mỗi ngày (Daily Program) đưa vào phòng mỗi chiều có loan báo trước. Đây là luật quốc tế bắt buộc mọi hành khách mới lên tàu phải tham dự, nhớ mang theo thẻ Cruise Card để điểm danh. Những ai bệnh hoạn, thương tật đi không nỗi phải gọi cho quày Reception báo trước. Chúng tôi rời phòng cùng với nhiều hành khách mang theo áo phao xuống tầng 6. Người đi rầm rập cười nói rất vui. Đến rạp hát cà thẻ và có người hướng dẫn cách mặc áo phao, nịt dây như thế nào. Đến màn xuống tầng thứ 5 để ra thuyền cứu nạn thì nhiều người đi lạc trong số đó có chúng tôi. Sau một hồi loay quay tìm kiếm thang máy, cuối cùng chúng tôi đành chịu thua và mang phao trở về phòng.




Bảy giờ chiều xuống nhà hàng ăn tối, phục vụ bàn 4 người chúng tôi có hai chàng trẻ tuổi người Indonesia rất dễ thương. Đêm nay nhà hàng cho ăn các món Barcelona gồm nhiều hải sản như tôm cá mực, món ăn nho nhỏ nhưng trình bày rất mỹ thuật. Đêm nào cũng có bánh sinh nhựt và toàn bộ đầu bếp sắp hàng sau mâm bánh có đèn đuốc ra chào mừng, du khách vỗ tay hò hát rất vui.

Friday, September 20, 2013

KÝ SỰ DU LỊCH TÂY ÂU (BÀI 7)
THÁNH ĐƯỜNG SAGRADA FAMILIA Ở BARCELONA
Bài và hình: TRỊNH HẢO TÂM

Vương Cung Thánh Đường Sagrada Familia là nhà thờ Công Giáo La Mã có kiến trúc lạ lùng nhất trên thế giới tọa lạc ở thành phố Barcelona thuộc Tây Ban Nha. Nhà thờ được thiết kế bởi kiến trúc sư Antoni Gaudi (1852-1926) thường có kiểu kiến trúc lập dị như người ta thường thấy trong các công trình xây dựng ở Barcelona. Nhà thờ được khởi công từ 1882 cho đến nay vẫn chưa hoàn thành vì chiến tranh, vì kiến trúc sư chết khi công trình còn đang dang dở nhưng nhà thờ vẫn được Liên Hiệp Quốc công nhận là di sản văn hóa thế giới và được Đức Giáo Hoàng Benedict 16 phong danh hiệu Tiểu Cấp Vương Cung Thánh Đường (Minor Basilica) vào tháng 11-2010.



Sáng ngày 23-5-2013 chúng tôi thức sớm rời khách sạn Market sang bên kia đường vào ăn sáng trong một quán ăn. Quán bình dân chỉ có bà chủ và một cô chạy bàn, khách hàng là những công  tư chức hoặc là những cụ cao niên. Phần ăn sáng chỉ một khúc bánh mì xăng quít dài kẹp thịt và một cà phê sữa giá 3 Euros. Ăn trong khách sạn thì phải trả 10 Euros, du lịch thời buổi kinh tế khó khăn tiết kiệm được đồng nào hay đồng đó. Xong trở về khách sạn quảy túi xách với máy chụp hình nhờ khách sạn gọi taxi.

Taxi tới 4 anh em chúng tôi lên xe nói với bác tài đưa tới nhà thờ Família. Chạy lên hướng Đông Bắc thành phố qua những đường phố lớn đầy xe cộ buổi sáng trong giờ cao điểm. Được một cái taxi và xe buýt được chạy trong làn xe dành riêng ở sát tay phải con đường. Thành phố Barcelona công nhận có nhiều cái hay như đường xá sạch sẽ, nhiều cây xanh, tài xế taxi đàng hoàng tính tiền theo đồng hồ, lên xe đồng hồ bắt đầu bằng giá tối thiểu 6 Euros. Lại có taxi tài xế là phụ nữ thường cao lớn, kính chiếu hậu trong xe lại to để tài xế nhìn mặt khách hàng cả phía băng sau, trái lại khách hàng cũng nhìn được mặt tài xế. Ảnh và tên tài xế treo phía trước để khách hàng có thể khiếu nại nếu có gì không vừa lòng. Nhờ vậy Barcelona trong những năm gần đây trở thành trung tâm du lịch nổi tiếng, nhiều hãng du thuyền chọn nơi đây là điểm tàu ghé bến. Chúng tôi đến đây để ngày mai xuống du thuyền MSC du ngoạn Địa Trung Hải trong một tuần.

Mười lăm phút sau, taxi tới mặt phía Đông của nhà thờ Familia, chúng tôi xuống xe trả tiền 20 Euros tính ra mỗi người có 5 đồng. Mừng trong bụng khi thấy trước quày bán vé không có ai sắp hàng, định chụp hình xong sẽ mua vé vào bên trong nhà thờ xem cho biết có những gì? Hỏi cô cảnh sát xem có phải mua vé nơi quày đó không? Cô ta cho biết quày đó bán vé cho từng đoàn đông người, còn đi cá nhân quày bán vé ở phía trước nhà thờ tức mặt quay về hướng Tây, còn mặt này là phía sau nhà thờ. Quày bán vé cho đoàn du lịch nên nơi đây rất đông khách du lịch người Trung Quốc, xí xô xí xào chạy tới chạy lui, kêu réo loạn xạ như trước Tử Cấm Thành Bắc Kinh. Mặt này có công viên cây cối xanh tươi với hồ nước yên tịnh.

Chúng tôi lần đi bộ ra phía mặt trước nhà thờ, ôi thôi hoàn toàn thất vọng khi thấy một dòng người rồng rắn sắp hàng dọc theo hàng rào bên hông nhà thờ. Có mái hiên che nên dòng người đứng trong bóng mát đỡ nắng nôi vì hôm nay nhiệt độ nơi đây cũng khá nóng 80 độ F. Nhìn thấy bảng niêm yết giá vé vào xem bên trong nhà thờ là 13.50 Euros, nếu lên thêm tháp chuông hoặc nghe băng hoặc có người hướng dẫn là 18.00 Euros. Lệ phí phải chăng nhưng sắp hàng qúa dài, nếu vào chắc phải chờ 2 tiếng đồng hồ và phải qua chốt khám xét an ninh vì sợ khủng bố đặt bom như ở Boston hay London mới cách đây mấy ngày. Đứng bên ngoài xem nhà thờ có 8 tháp cao và hàng chục ngọn tháp nhỏ kiến trúc như thạch nhũ trong hang động. Những giàn giáo khổng lồ đang xây dựng đưa vật liệu xây cất lên cao.

LỊCH SỬ NHÀ THỜ

Ý tưởng xây nhà thờ là do một người bán sách quê Catalan tên Josep Maria Bocabella là người sáng lập hội Spiritual Association of Devotees of St. Joseph. Sau khi viếng thăm Vatican trở về năm 1872, Bocabella quyết định xây nhà thờ với tiền của hội ông quyên góp được. Nhà thờ được khởi công vào ngày 19-3-1882 là ngày lễ thánh Guise do kiến trúc sư Francisco de Paula del Villar họa kiểu theo lối Gothic Phục Hưng. Năm sau ông này về hưu và kiến trúc sư Antoni Gaudi thay thế, ông ta tiếp tục việc thiết kế đồ án nhưng thay đổi hoàn toàn kiểu kiến trúc.



Công trình xây cất ông biết trước là sẽ kéo dài và ông thường nói “Thân chủ của tôi không cần gấp”. Bổng nhiên ông chết vì tai nạn giao thông năm 1926 khi đó nhà thờ mới hoàn tất khoảng từ 15 đến 25% công trình. Công việc xây dựng tiếp tục giao cho ông Domènec Sugranes i Gras chỉ huy nhưng bị ngưng trệ vì cuộc nội chiến Tây Ban Nha năm 1936. Xui xẻo là họa đồ phần chưa xây của Gaudi lại bị thiêu hủy trong chiến tranh. Phần thiết kế công trình đang tiếp tục hiện nay người ta căn cứ vào các bảng vẽ còn sót lại rồi phỏng đoán và thêm thắt theo lối xây dựng khoa học ngày nay. Sau nhiều đợt thay đổi kiến trúc sư, công trình hiện nay do Jordi Bonet chỉ huy, ông này hứa hoàn thành nhà thờ năm 2026 hoặc 2028 nhưng người ta không tin sẽ thành sự thật. Trong khi đó năm 2008 nhóm kiến trúc sư Catalan có ý kiến nên ngưng việc xây cất và để nguyên như hiện nay để thể hiện sự kính trọng ông Gaudi vì xây thêm chưa chắc là đúng ý ông. Nhà thờ hiện nay có chiều dài 90 mét (300 ft), rộng 60 mét (200 ft), trần cao 45 mét (150 ft), đủ chỗ cho 9,000 người. Hiện nay xây dựng được 8 tháp chuông trong số 18 tháp theo dự án sẽ cao 170 mét (560 ft).

Dù sao đi nữa Vương Cung Thánh Đường Sagrada Família là một thắng cảnh độc đáo của Barcelona lôi cuốn hàng năm hàng triệu du khách đến xem bổ sung cho ngân sách thành phố một số tiền không nhỏ. Riêng tôi chưa vào xem được bên trong vẫn là một tiếc nuối, hẹn một ngày trở lại với chương trình du lịch rảnh rang hơn, tôi sẽ cố sắp hàng vào xem cho được.

NGÔI NHÀ LA PEDRERA (CASA MILA) VÀ PHỐ MUA SẮM PASSEIG DE GRACIA

Từ nhà thờ men theo con đường Provenca đi về hướng Tây để tới ngôi nhà Pedrera cũng là một kiến trúc lạ của ông Gaudi. Trên con đường này có rất nhiều tiệm ăn và những quán bán thức ăn chơi Tapas, phía trước tiệm bao giờ cũng có bày hình các món ăn, có cả thịt thỏ và heo sữa. Khoảng nửa giờ sau chúng tôi đến trước căn nhà ở góc đường Provenca và đại lộ Passeig de Gracia là con đường mua sắm hàng hiệu sang trọng nếu đi về hướng Nam trên đại lộ này.



Ngôi nhà Pedrera (nhà đá) còn có tên là Casa Mila vì chủ nhân của nó là ông bà Pere Mila. Ngôi nhà có 7-8 tầng và được xây khoảng 1906-1910. Từ ngoài đường nhìn vào nó như một khối đá với nhiều cửa hang động. Trong kiến trúc xây dựng người ta bao giờ cũng dùng đường thẳng cho dễ xây nhưng đối với ông Gaudi lập dị cho khác người, ông đã dùng những đường cong. Du khách tập trung ở đây khá đông đứng bên kia đường nhìn ngắm, bình phẩm và chụp hình. Có bán vé vào xem bên trong để nhìn thấy cách bày biện trang trí nội thất như thế nào và lên sân thượng để nhìn cảnh thành phố. Tôi đã xem phim video clip trên Youtube thấy bàn ghế giường tủ căn nhà như thế nào nên không cần phải vào xem bên trong vừa phí tiền vừa mất thời giờ. Chúng tôi đi vào tiệm thuốc Tây đối diện ngôi nhà, đi du lịch xa anh em chúng tôi người thì ho, người thì táo bón, tôi thì hỏi thuốc thoa cho đầu gối đau nhức vì đi bộ qúa nhiều trong mấy ngày nay. Cô bán thuốc tiếng Anh không nhiều nhưng nhờ đau đâu chỉ đó và làm bộ ho nên cũng hiểu. Khó nhất là táo bón làm sao cho cô ta hiểu? Ra dấu thì kỳ nên tôi nói là  “3, 4 days no toilet!” thế là cô ta hiểu ngay!

Xong đâu đó chúng tôi rẽ trái vào đại lộ Passeig de Gracia là con đường có nhiều cửa hiệu bán hàng thời trang cao cấp sang trọng. Đại khái là quần áo, đồ da, nước hoa, mỹ phẩm, các cửa hàng ở đây bên Mỹ đều có với giá cả xê xích nhau không nhiều. Thấy tiệm thức ăn nhanh Burger King chúng tôi vào trước là ăn trưa, sau là giải quyết vấn đề vệ sinh (ở Âu Châu đi vệ sinh phải trả tiền nhưng các tiệm McDonald’s hay Burger King thì khỏi). So với ở Mỹ thức ăn tiệm này cũng không mắc hơn bao nhiêu và phẩm chất cũng vậy.

CÔNG VIÊN PARK GUELL XANH MÁT

Trở ra đại lộ Passeig de Garcia tìm đến bến taxi, chúng tôi đi lên công viên Park Guell (người địa phương đọc là “Park Well”) nằm trên triền núi hướng Bắc. Taxi đỗ ngay trước cửa công viên trong lúc du khách nườm nượp ra vào công viên như ngày hội mặc dù hôm nay là ngày Thứ 5 không phải cuối tuần. Đặc biệt là không phải mua vé vào công viên mặc dù nơi đây rất đẹp vừa là vườn cây nằm trên triền núi vừa là những kiến trúc kỳ công lạ mắt.



Lối vào là hai thềm bậc thang dẫn lên toà nhà to lớn nhiều cột to (có tất cả 86 cây cột). Nói là nhà nhưng không có vách, trên trần chi chít những hoa văn lạ mắt. Phía trên “nóc” nhà là một khoảng sân rộng lớn trải cát để mọi người tụ tập vui chơi và ngắm cảnh thành phố Barcelona phía dưới chạy dài ra tận biển xanh bát ngát. Lại một lần nữa kiến trúc ở đây cũng của ông Gaudi nên rất lạ mắt, ngoài toà nhà chính nhiều cột, hai bên như những hang động, có lối đi dọc theo những hàng cột nhưng những cột này không thẳng đứng mà xiên. Những hàng cột này để chống đỡ cho phần đất phía bên trên là công viên trồng cây cối và những lối đi quanh co lên cao trên núi.

Dập dìu du khách dạo chơi cười đùa kêu réo, lại có những nghệ nhân đường phố chơi đàn réo rắc, thổi trompet áo nảo ngậm ngùi. Lại có cả ban nhạc cùng hòa tấu với kèn trống rộn rã tưng bừng tạo một khung cảnh vui tươi, sống động lẫn lãng mạn trữ tình. Đặc biệt trong công viên rất sạch sẽ, không thấy người ta bày bán qùa bánh, nước nôi mặc dù trời hôm nay trên núi cũng khá nóng với ánh mặt trời gay gắt của vùng Địa Trung Hải. Hàng quán giải khát được sắp xếp nằm trong những hang động phía dưới, còn quán ăn nhẹ ở hai ngôi nhà phía dưới gần cổng vào. Vài người bán đồ kỷ niệm, họ phải trốn tránh cảnh sát, khi nào vắng cảnh sát họ lại bày hàng ra dưới đất. Có nhiều anh chàng gắn đồ kỷ niệm là những vật cài áo trang sức trên cây dù, khi êm không có cảnh sát họ bày hàng bằng cách đặt cây dù xuống đất, khi động tịnh họ xếp dù lại và…dạo chơi. Tôi thấy có một ông “du khách” đứng canh cho người bán hàng trên cao, khi thấy cảnh sát lên, ông ta gọi điện thoại cho người bán hàng để thu dọn. Đồ kỷ niệm ở đây làm khá xinh xắn (chắc là Made in China) gồm những thắng cảnh của Barcelona như nhà thờ Familia, ngôi nhà của Gaudi, những con thú như thằn lằn, chim chóc, cá tôm của vùng biển nhiệt đới.



Cây cối trong công viên là những loại cây vùng Địa Trung Hải tương tự như ở Miền Nam California, có phượng tím Jacaranda, có cây palm, xương rồng, California Pepper lá có mùi hạt tiêu. Nguyên thủy nơi đây là một dự án xây cất nhà để bán cho dân chúng của ông Eusebi Guell khoảng năm 1900 đến 1904. Thiết kế nhà cửa do ông Antoni Gaudi đảm trách nhưng dự án không thành công vì không ai mua (kiểu nhà của Gaudi qúa lập dị nên thất bại là phải). Sau này thành phố Barcelona mua lại biến thành công viên cho dân chúng vào chơi thư giãn và lại thành công, công viên trở thành thắng cảnh, địa điểm du lịch nổi tiếng của Barcelona. Ngày nay công viên Park Guell được Liên  Hiệp Quốc công nhận là di sản văn hóa thế giới, một nơi cần phải đến mỗi khi ghé thăm Barcelona. Chúng tôi lưu lại Barcelona 2 ngày cũng đủ thăm viếng các thắng cảnh của thành phố.


Barcelona là một thành phố sinh động nhưng duyên dáng, hiền hoà đáng yêu, là nơi có những món ăn đặc sản tươi ngon, có những kiến trúc kiểu dáng kỳ lạ. Thành phố văn minh hiện đại với hệ thống giao thông tân tiến bên cạnh những con phố cổ, những giáo đường ngàn năm lich sử. Barcelona lại có đội banh bóng tròn lừng danh thế giới và là nơi từng tổ chức thành công Thế Vận Hội 1992. Ngày nay Barcelona là bến cảng của nhiều hãng du thuyền Cruise lộng lẫy để du khách vui chơi khám phá vùng Địa Trung Hải.
KÝ SỰ DU LỊCH TÂY ÂU 2013 (Bài 6)
BARCELONA, THÀNH PHỐ TÂY BAN NHA BÊN BỜ ĐỊA TRUNG HẢI
Bài và hình: TRỊNH HẢO TÂM

Barcelona là thành phố lớn thứ nhì ở Tây Ban Nha sau thủ đô Madrid với dân số gần một triệu rưỡi người nếu kể luôn vùng ngoại ô phụ cận lên đến 5 triệu người và là thành phố lớn nhất của tỉnh bang Catalonia (tên cổ là Catalunya). Thành phố nằm trong vùng Đông Bắc nước Tây Ban Nha cạnh biển Địa Trung Hải với một chiều dài lịch sử hơn 2,000 năm khi giành độc lập từ đế quốc La Mã với tên ngày xưa là Barcino.

Năm 1992 đã tổ chức thành công Thế Vận Hội được quốc tế chú ý và kể từ đó thành phố vươn lên, phát triển, nhất là trong kỹ nghệ du lịch. Đối với du khách thành phố đã chuyển mình thành một đô thị tân tiến với hệ thống xe điện ngầm, phi trường hiện đại, đường phố rộng rãi sạch sẽ nhưng bên cạnh đó còn bảo tồn được di tích lịch sử với những khu phố cổ đường hẹp lát đá tảng, những ngôi nhà thờ hàng bao thế kỷ.

Sáng ngày Thứ Tư 22-5-2013 lúc 4 giờ 30 sáng dưới cơn mưa Xuân lất phất chúng tôi lái xe ra phi trường Bremen để đáp chuyến bay Lufthansa LH 35 cất cánh lúc 6 giờ để đi Frankfurt. Ngày hôm kia dự Đại Hội Công Giáo ở Frankfurt, hôm nay lại phải bay xuống đó thật là “đi loanh quanh cho đời mỏi mệt”! Em rể tôi Phùng Khải Tuấn đậu xe trong phi trường vì em gái tôi mặc dù vừa về hưu nhưng thẻ đậu xe của nhân viên Lufthansa vẫn chưa…hết hạn! Chuyến bay sớm toàn là công tư chức đi Frankfurt vì công việc, áo vest cà vạt mang theo laptop. Lên xe shuttle ra phi cơ dưới cơn mưa lất phất và gió rất lạnh. Phi cơ nhỏ độ 75 ghế ngồi cho cà phê, miếng sandwich và đáp xuống Frankfurt lúc 7 giờ 05. Ngồi chờ ở phi trường lớn Frankfurt, Lufthansa có quày cà phê và hệ thống Wifi miễn phí nửa giờ cho Internet nhưng phải ghi danh bằng cách cho biết địa chỉ Email của mình, chỉ được miễn phí nửa giờ trong một ngày. Chuyến đi này tôi mang theo một Mini Ipad để có thể vào mạng xem và gởi Email, lại có thể quay phim và chụp hình bằng Ipad và gởi đi rất tiện. Từ Frankfurt lên chuyến bay Lufthansa LH 1126 cất cánh lúc 9 giờ 40 để đi Barcelona, chuyến bay này phi cơ lớn hơn là Airbus 320 cũng lại cà phê và sandwich nữa. Phía dưới mây mù bao phủ không thấy đâu là đâu. Độ một tiếng rưỡi sau, trời quang mây tạnh, bên dưới là Địa Trung Hải biển xanh sóng bạc lấp lánh dưới ánh mặt trời, vài con tàu đơn côi rẽ sóng không biết đi về đâu?



Một lát sau thành phố Barcelona hiện ra, nhà cửa chi chít kéo dài lên tận dãy núi bên trong đất liền hướng Bắc. Phía Nam là hải cảng với vài chiếc du thuyền Cruise to lớn đang neo đậu và phi trường ở dưới hướng Nam xa hơn nữa. Phi cơ hạ dần và đáp xuống lúc 11 giờ 40.

Phi trường Barcelone to lớn hiện đại, phi cơ nhiều hãng tấp nập nhưng thấy nhiều nhất là hãng Vueling là hãng máy bay giá rẻ, chắc là bay nội địa trong Tây Ban Nha. Phi trường có tên là Barcelona-El Prat International Airport (ký hiệu: BCN). Trong nhà ga nền đá bóng loáng, các cửa hàng trang trí đẹp mắt, đèn đuốc sáng choang rất mỹ thuật. Lấy hành lý rất nhanh và theo bảng “Exit To Ground Transportation” ra ngoài. Thấy bảng “Taxi Only” theo thang cuốn xuống phía dưới, hóa ra một dãy taxi đang đậu chờ khách. Bốn người chúng tôi lên chiếc Taxi đầu tiên, bác tài là một ông Tây Ban Nha gần 60. Ông ta vui tính nói năng huyên thuyên với tiếng Anh hạn chế. Ông ta hỏi chúng tôi người nước nào? Em rể tôi nói là người Việt Nam, hai em tôi ở Đức còn vợ chồng tôi ở Los Angeles. Tôi chào ông bằng tiếng Tây Ban Nha thường nghe ở Los Angeles “Que Paso Senor?” Ông tài nói rằng đó là câu nói của người Mễ Tây Cơ chứ không phải của người Tây Ban Nha. Hóa ra cũng nói tiếng Tây Ban Nha nhưng mỗi dân tộc mỗi khác. Hỏi về đâu? Chúng tôi đưa địa chỉ khách sạn và ông nói biết nơi đó.

Đến khách sạn ở trung tâm thành phố cách phi trường khoảng 15 miles, thấy đồng hồ Taxi chỉ 28 Euros nhưng ông tài nói 40 Euros vì 4 va li hành lý và thuế phi trường. Chúng tôi thấy cũng phải chăng nên vui vẻ trả tiền và cám ơn ông ta.

Khách sạn đã đặt phòng trước là Market Hotel địa chỉ là Passatge Sant Antonie Abat, 10 Barcelona số điện thoại 93 325 12 05 gần ngôi chợ chính Sant Antonie ngay trung tâm thành phố mà chúng tôi gọi là chợ Bến Thành. Hôm nay khi chúng tôi tới, ngôi chợ xưa cũ đóng cửa để trùng tu, các gian hàng buôn bán di dời ra con đường Ronda Sant Antonie cạnh đó và buôn bán trong ngôi nhà dài đặt ở giữa con đường. Tuy là ngôi chợ tạm thời nhưng bên trong tươm tất, đèn điện sáng choang, các cửa hàng thức ăn, quần áo, đồ gia dụng bày biện đẹp mắt.

Sau khi lấy phòng, bỏ hành lý vào khách sạn chúng tôi ra phố ăn trưa thì gặp ngay ngôi chợ tạm vừa nói trên. Vì đói bụng tìm nơi ăn trước, còn ngôi chợ tham quan sau cũng không muộn. Đang tìm nhà hàng thì chúng tôi gặp Buffet Nhật tên Wok Dao, nói là Nhật nhưng nhìn nhân viên phục vụ biết ngay là của người “nước lạ” Trung Quốc. Bữa ăn trưa 10 Euros giá nhẹ nhàng nhưng thức ăn ngon lành nhiều hải sản đặc biệt như tôm to, nghêu sò ốc hến đều có, nhiều loại sò ốc rất lạ tôi chưa thấy bao giờ. Ăn quá no nên phải trở về khách sạn nghỉ, chiều sẽ ra phố khám phá hoa thơm cỏ lạ (cỏ đuôi chồn) thành phố xứ Tây Ban Nha này.



ĐẠI LỘ RAMBA

Năm giờ chiều chúng tôi đi bộ ra phố Ramba ở về phía Đông của khách sạn sau khi len lỏi trong những con đường nhỏ lát đá có từ xưa cách nay hơn ngàn năm. Đại lộ Ramba là con đường dạo chơi, mua sắm lớn nhất ở đây dài chừng 1.3 km bắt đầu từ quảng trường Catalunya ở phía Bắc đi xuống hướng Nam và chấm dứt khi đụng bờ biển, nơi đây có tượng ông Columbus đứng trên cột cao và chỉ tay ra biển khơi giống như tượng ông Trần Hưng Đạo ở Bến Bạch Đằng Sài Gòn. Chắc là ngày trước Columbus từ bến này đã ra đi khám phá Mỹ Châu. Trên đại lộ Ramba cây cao bóng mát, hai bên là đường dành cho xe hơi và xe gắn máy, khoảng trống rộng lớn giữa đại lộ tráng xi măng dành riêng cho khách bộ hành. Buổi chiều trời mát lũ lượt người đi, dân địa phương thì ít mà du khách nước ngoài hơi bị nhiều. Nơi đây có những kiosk bán hoa tươi, sách báo, đồ kỷ niệm, chen lẫn có những quán cà phê hay quán bia với đồ nhấm là món ăn chơi Tapas gồm thịt hay hải sản là món đặc sản của người Tây Ban Nha.

Chúng tôi vào ngôi chợ nổi tiếng La Boqueria de San Jose ở về phía Tây đường Ramba, phía đầu chợ bán đủ loại trái cây. Ngoài loại trái cây xứ lạnh vùng ôn đới như nho, táo, lê, đào, mận, hồng còn có nhiều loại trái cây vùng nhiệt đới như xoài, chuối, đu đủ, mãng cầu, thanh long, dứa v.v…không biết nhập cảng từ đâu? Những ly trái cây thập cẫm (cocktail) màu sắc rất bắt mắt phía ngoài đầu chợ đề giá 2 Euros nhưng vào sâu bên trong giảm lần, khi muốn bán cho hết về sớm chỉ còn 1 Euro. Bên trong chợ những gian hàng thịt nguội, thịt tươi, trứng, phó mát, hải sản, rau cải, đặc biệt treo rất nhiều đùi heo ướp muối và hong cho khô giá mỗi đùi từ 100 đến 300 Euros tùy theo phẩm chất của thịt. Khi ăn lấy dao bén lạng từng lát mỏng. Đây là món  đặc sản Địa Trung Hải kéo dài từ Ý, miền Nam nước Pháp sang Barcelona. Hàng hóa trong chợ trình bày rất bắt mắt, người bán cũng vui tính không chèo kéo khách hàng. Hỏi họ vui vẻ trả lời, không mua cũng chẳng sao (không đốt phông lông, có lẽ vì sợ cảnh sát phạt) và sẵn sàng tạo dáng khi du khách muốn chụp hình.



Đối diện với chợ Boqueria, băng qua đường Ramba có con hẻm nhỏ đi về hướng Đông là vương cung thánh đường cũ. Phía trước nhà thờ có quảng trường nhỏ lát đá chung quanh là những tiệm buôn, quán ăn, có cửa hàng Solingen Paris nổi tiếng sản xuất dao, kéo rất bén và bền (không biết bà Kiều ở Bolsa có mua kéo ở đây không?). Phía bên này có quảng trường La Placa Reial trồng những cây cọ và xung quanh là những tòa nhà lầu cổ nơi đây có những quán cà phê, quán Tapas, ba rượu bày bàn ghế ra sân quảng trường. Nhiều du khách ngồi nghỉ ngơi thư giản cho đỡ mỏi chân trước khi tiếp tục dạo phố Ramba.

Theo những trang mạng du lịch báo động rằng trên đường Ramba du khách hay bị móc túi hoặc cướp giật ví bóp, điện thoại di động Iphone, máy tablet Ipad mặc dù thấy rất nhiều cảnh sát sắc phục đi tuần tra. Có những nhóm người bu xung quanh những chiếc bàn để đoán bài ba lá ăn tiền, du khách được khuyên đừng bao giờ tham dự trò tráo bài này. Phía cuối đường gần bờ biển có những nghệ sĩ hè phố chơi kèn, ca hát hay làm tượng đồng đứng im để du khách chụp hình. Có một anh chàng lực lưỡng mình sơn màu chì và mang cặp cánh dơi to lớn, tuy có cặp cánh lớn nhưng chắc bay không nỗi vì đứng lên còn không xong luôn luôn phải ngồi trên ghế vì cặp cánh qúa nặng. Theo các trang du lịch, thức ăn bày bán trên đường Ramba phẩm chất kém mà giá lại cao, có ăn uống mua sắm đi vào bên trong vài con phố giá cả rẻ hơn nhiều mà lại sạch và ngon. Vì trưa ăn qúa no nên buổi tối sau khi rong chơi chúng tôi ghé quán Tapas ăn nhẹ nhàng và về khách sạn nghỉ.

NGÔN NGỮ NGƯỜI BARCELONA DÙNG

Tôi tưởng ngôn ngữ chính thức ở Barcelona là tiếng Tây Ban Nha chứ gì? Nhưng không ngoài tiếng Tây Ban Nha còn có tiếng địa phương là tiếng Catalan. Tiếng Catalan ngày xưa được dùng trong xứ Catalonia (tiếng Catalan gọi là “Catalunya”) vùng đất bao gồm miền Tây Nam nước Pháp và vùng Đông Bắc Tây Ban Nha (hiện nay là ngôn ngữ chính thức của tiểu quốc Andorra nằm trên vùng núi Pyrénées). Catalan không phải là thổ ngữ (dialect), tránh không nên cho rằng Catalan là thổ ngữ vì người địa phương sẽ không bằng lòng. Tiếng Catalan âm hưởng giống như tiếng Ý, tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Pháp. Đa số dân chúng Barcelona đều nói và hiểu được 2 ngôn ngữ Tây Ban Nha và Catalan, có 60% người dân ở đây nói tiếng Tây Ban Nha và 40% còn lại dùng tiếng Catalan. Ở Barcelona những bảng chỉ dẫn và thông báo trong xe điện ngầm Métro chỉ dùng tiếng Catalan vì luật chỉ định là ngôn ngữ chính thức. Còn bảng hiệu lưu thông thường dùng chữ Tây Ban Nha. Nhưng là du khách ngoại quốc chớ lo, ở những khu du lịch, người bán trong các cửa hàng đều biết tiếng Anh, người nói tiếng Anh sẽ không gặp trở ngại ngôn ngữ nào khi đến du lịch ở Barcelona. Cờ của Catalonia là cờ vàng có 4 sọc đỏ được treo song song với cờ Tây Ban Nha.

MÓN ĐÙI HEO MUỐI HONG KHÔ (PROSCIUTTE)



Đây là món ăn thấy bán rất nhiều ở Barcelona, trong chợ và ở các quán Tapas, nhà hàng. Trưa nay ở nhà hàng hải sản Nhật cũng có món này. Tôi có ăn thử, người phục vụ thái cho vài lát thật mỏng có thịt và mỡ. Không mùi, vị mặn và thịt khô cứng nhưng không ngon bằng khô bò. Món này có tên là “Prosciutte” theo chiết tự tiếng La Tinh: “pro” là trước, “exsuctus” là rút cho khô (hơi ẩm). Cách làm món này là thịt đùi heo nhà hoặc heo rừng lau sạch đem ướp muối rồi để khô chừng hai tháng. Tất cả máu rỏ xuống và đùi heo teo nhỏ lại khô đi. Sau đó đem rữa cho sạch muối và treo lên chỗ tối nhưng lạnh và thoáng mát. Môi trường không khí này rất quan trọng để thịt ngon hay dở. Để thịt khô đi và tiếp tục để nơi thoáng mát chừng 18 tháng, đôi khi thịt bị nổi mốc xanh hay trắng nhưng đừng lo và trị bằng muối Nitrites (bằng Sodium hay Potassium). Khi ăn thái từng lát mỏng có thể ăn sống với thứ nước chấm hay chiên lên cùng với những thực phẩm khác. Người Tây Ban Nha buổi chiều thường hay ra quán nhậu dùng món thịt heo khô này để uống với rượu lúc trò chuyện với bạn bè. Những món nhậu khác gọi chung là Tapas hay còn gọi là Pinchos bởi chữ “Spike” là cây xiên hay cây tăm dùng để xiên những miếng thịt lại với nhau.


Barcelona hiện nay rất nổi tiếng về du lịch với nhiều hãng Cruise chọn làm bến đổ khách. Dân tình thân thiện, đường phố giống Pháp với nhiều quán ăn trên vĩa hè, ẩm thực phong phú với nhiều món nhất là hải sản tươi ngon. Giải trí có bóng tròn (đội Barcelona nổi tiếng thế giới), xem đấu bò, xem biểu diễn vũ điệu Tango trong những hộp đêm. Không lo thiếu chỗ đi chơi, chỉ lo mình có đủ sức hay không?