KÝ SỰ DU LỊCH TÂY ÂU (BÀI 12)
LÀNG BIỂN CASSIS GẦN MARSEILLE
Bài và hình: TRỊNH HẢO TÂM
Cách Marseille 20 km (12.4 miles)
về hướng Đông, Cassis là địa điểm du lịch khá nổi tiếng ở miền Nam nước Pháp có
những vịnh nước sâu, trong vắt chung quanh là vách đá trắng mà người Pháp gọi là
những “Calanques”. Du khách từ trên ghềnh đá cao có thể phóng mình xuống nước hoặc
chèo thuyền ngắm từng đàn cá dưới đáy nước. Ngoài những vịnh nước trong nơi đây
còn có những bãi biển cát trắng thu hút rất đông du khách về đây tắm nắng, bơi
lội trong những tháng Hè. Cassis còn là một bình nguyên hoa lá xanh tươi với
những vườn nho làm rượu vang rất nổi tiếng, những ruộng rau cải hoa mầu và
những đồi Olive trên sườn núi.
Gần Cassis có mũi Cap Canaille cao
394 mét (1,203 ft) là một trong những mỏm núi mà hàng ngàn năm trước các nhà
hàng hải vẫn dùng làm điểm mốc để định hướng hải hành. Cũng như Cap Saint
Jacques tức Mũi Vũng Tàu ở Việt Nam với hai núi lớn và nhỏ cùng với ngọn hải
đăng, các nhà hàng hải định hướng để vào cảng Sài Gòn.
Sau khi ăn trưa ở Cảng Cũ (Vieux
Port) thành phố Marseille chúng tôi sáu người lên xe đi về hướng Đông bằng xa
lộ A50, sau đó rẽ vào đường làng để tới thị trấn Cassis. Đây là một làng quê
hẻo lánh có từ xa xưa nên đường phố rất chật hẹp, khúc khuỷu vì dốc núi, đến
nơi rất khó tìm chỗ đậu xe. Cuối cùng Julian bạn trai của cháu gái chúng tôi là
Kim Chi cũng tìm được nơi đậu ngay trong nhà đậu xe của sòng bạc (casino) cách
bờ biển vài trăm thước. Chúng tôi đi bộ xuống bến tàu, buổi trưa du khách cũng
khá đông ngồi trong những nhà hàng quán nước cạnh bờ biển. Những nhà hàng này
cũng chuyên về hải sản, cũng có món súp cá Bouillabaisse nhưng qua những hình
ảnh trưng trước cửa tiệm, thấy món ăn nhỏ hơn và chỉ vài ba thứ cá điểm thêm
vài ba con chem chép (mussels) vỏ đen. Lòng vòng các khu phố thấy có nhà hàng
đề bảng hiệu tiếng Việt: Restaurant “Nguyễn Ngọc Sơn”.
Cassis hiện nay có dân số 7,793
người (2008), về lịch sử nơi này đã có người Ligures từ miền Tây Bắc Ý đến sinh
sống vào khoảng 500 đến 600 năm trước Công Nguyên. Họ xây cất thành trì ở trên
chóp núi Baou Redon và sinh sống bằng bắt cá, săn thú và trồng trọt. Sau đó
cũng như Marseille, làng Cassis cũng có người Phoceans (Hy Lạp) đến cư ngụ và
trong thời La Mã cai trị nơi đây là hải cảng tàu bè ghé bến trên tuyến đường Âu
Châu sang Trung Đông và Bắc Phi. Từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ thứ 10, giặc rợ từ
phương Bắc xăm lăng cướp phá, dân chúng phải bỏ lên núi lánh nạn và xây thành
trì chống giặc. Từ 1223 thành trì trên núi trở thành lâu đài của lãnh chúa vùng
Les Baux-de-Provence tức vùng Nam
nước Pháp hiện nay. Hiện nay vết tích thành lũy lâu đài Cassis còn trên núi và
trở thành khách sạn, đứng dưới bến cảng nhìn lên thấy rất rõ. Thế kỷ 15 Cassis
thuộc lãnh thổ Counts of Provence
và lãnh chúa René of Anjou hiến làng cho thành phố Marseille cai trị quản lý
cho đến Cách Mạng Pháp 1789. Về kinh tế kỹ nghệ làng Cassis sản xuất khô cá,
dầu olive, vải vóc, rượu vang và xi măng, đá vôi như đá dưới chân tượng Nữ Thần
Tự Do ở New York cũng là đá lấy từ Cassis. Hiện nay Cassis chỉ thuần là một địa
điểm du lịch với nhiều khách sạn, nhà hàng rất đông khách đến nghỉ mát trong những
tháng Hè ngoài ra còn sản xuất rượu nho rất nổi tiếng.
Chúng tôi lang thang xuống bến
tàu, trời đã trưa nắng nóng nên các gian hàng bán hải sản đã dọn dẹp chỉ còn
lại bán trái cây và các đồ kỷ niệm. Thấy các tàu đậu dưới bến chở người ra biển
câu cá hay du ngoạn với bảng giá đi thăm các vịnh đá như: 3 Calanques 45 phút 15
Euros mỗi người, 5 Calanques 1 giờ 18.5 Euros và 7 Calanques 1 giờ rưỡi 30
Euros. Có nghĩa càng đi nhiều vịnh giá càng rẻ. Chúng tôi không có thời giờ để
đi thăm các vịnh vì 6 giờ 30 phải trở về tàu mặc dù trên mạng du lịch bảo rằng nếu
tới Cassis mà không đi thăm các Calanques thì quả là đều đáng tiếc. Có thể đi
thăm thú các vịnh nước xanh từ bến Cassis hay Marseille, hoặc có thể tới thăm
bằng xe hơi hay cả xe lửa đến Cassis rồi đi bộ.
Phía Nam bến tàu Cassis là bãi tắm nước
xanh cát trắng rất thơ mộng hữu tình, hôm nay mùa Xuân tiết trời và nước biển
còn hơi lạnh nên không thấy ai xuống tắm mặc dù trên bãi cát rất nhiều người
nằm phơi nắng. Tháng Hè như tháng 7 và 8 bãi tắm rất đông người bơi lội, tắm nắng
và chắc không thiếu những phụ nữ ngực trần cũng như ở những bãi biển Cannes và
Nice. Từ bãi biển nhìn lên đỉnh núi gần đó sẽ thấy lâu đài Cassis sừng sững bên
những hàng cọ xanh tươi và hoa giấy đỏ rực.
Thăm Cassis là một trong những tua
phải trả tiền thêm của du thuyền MSC Preziosa khi tàu ghé bến Marseille, còn 3
tua khác nữa là: Marseille City Tour, Marseille và thành phố Avignon
và tua đi Aix-en provence .
Những tua này giá từ 60 Euros trở lên và đi thường mất cả ngày. Tôi chưa biết
Marseille nên lên bờ là thăm Marseille chứ không bỏ thành phố lịch sử có nhiều
liên hệ đến người Việt mà đi thăm nơi khác. May mà có cháu Phùng Kim Chi từ
Genève xuống đưa đi chơi một ngày, ăn những món đặc sản của Marseille mà khi
trở về Mỹ không làm sao tìm được. Thế là tôi đã nếm qua món cá Bouillabaisse,
gan ngỗng và hương vị nấm Truffles, nói là hương vị vì trong món ăn tôi không
nhìn thấy hình thù nó ra làm sao cả! Chắc chỉ là bột nấm mà thôi!
NGƯỜI VIỆT Ở MARSEILLE
Rời làng biển Cassis chúng tôi lên
xe trở về Marseille. Ngày xưa từ Việt Nam sang Pháp phải đi bằng tàu biển
nên thành phố cảng Marseille là một trong những nơi đầu tiên có cộng đồng người
Việt sinh sống. Mặc dù chính phủ Pháp không thống kê con số người Pháp gốc Việt
tại Marseille là bao nhiêu nhưng theo ước tính có khoảng 10,000 người Việt sinh
sống tại Marseille. Là nơi có cộng đồng Việt Nam
đông thứ nhì tại Pháp sau thủ đô Paris .
Toàn nước Pháp theo ước tính có khoảng 250,000 người Việt sinh sống, họ di cư
sang thành nhiều đợt khác nhau nhưng đông nhất là số thuyền nhân vượt biển sau
biến cố 1975.
Theo lịch sử có ghi chép, người
Việt đến Marseille vào cuối thế kỷ 18 là Hoàng tử Nguyễn Phước Cảnh con của vua
Gia Long khi theo Giám mục Bá Đa Lộc cầm đầu phái đoàn sang Pháp cầu viện để
chống lại nhà Tây Sơn. Cậu bé 3 tuổi này chỉ ở lại Pháp vài năm nhưng để lại ấn
tượng tốt trong dư luận Pháp. Sau đó Pháp thôn tính Việt Nam và người
Việt bắt đầu sang định cư tại Pháp. Sứ bộ do ông Phan Thanh Giản cầm đầu trong
chuyến Tây du để chuộc lại Nam Kỳ đã ghi nhận sự có mặt của người Việt tại
Pháp, số đó chỉ là những người có quan hệ gia đình với người Pháp.
Đến khi Thế Chiến Thứ Nhất
(1914-1918) xảy ra, thanh niên Pháp phải động viên và chính phủ Pháp phải tìm
nhân công để bổ xung vào các hãng xưởng sản xuất. Pháp tuyển lính thợ tại Đông
Dương, khi đình chiến đã có 48,922 lính gốc Đông Dương và 51,000 lính thợ gốc
Việt trong các công xưởng của Pháp. Tuy nhiên sau chiến tranh đa số đã hồi
hương chỉ còn ở lại khoảng 3,000 người. Khi Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945) sắp
bùng nổ thì chính quốc Pháp lại có lịnh tuyển mộ người Việt sang làm lao công
thuộc địa nhưng lần này dưới dạng cưỡng bách. Đợt này đưa sang Pháp 93,000
người cả lính thợ lẫn lính chiến đấu. Kế đến sau khi thắng trận Đệ Nhị Thế
Chiến, Pháp trở lại Việt Nam cho tới Hiệp Định Genève, trong thời gian này số
sinh viên Việt Nam sang du học rất đông, cộng thêm số người Việt lập gia đình
với người Pháp hồi hương sau hiệp định (khoảng 50,000 người). Tính đến đầu năm
1975 cộng đồng Việt Nam
ở Pháp là cộng đồng người Việt lớn nhất hải ngoại.
Làn sóng người Việt sang định cư
đông nhất là sau 1975, cho tới năm 1989 Pháp đón nhận khoảng 150,000 người tỵ
nạn, là quốc gia đứng thứ ba sau Hoa Kỳ và Úc về số luợng tiếp nhận người tỵ
nạn. Ngoài chính sách của chính phủ cho người Việt nhập cư, giới nhân sĩ Pháp
như triết gia Jean-Paul Sartre, Michel Foucault, Raymond Aron còn tổ chức chiến
dịch “Một con tàu cho Việt Nam”, hội Y Sĩ Không Biên Giới tài trợ cho con tàu
ra khơi cứu vớt người vượt biên.
Người Việt tại Pháp định cư khắp
nơi nhưng đông nhất là hai thành phố lớn Paris
và Marseille, tại Marseille có nhiều chợ thực phẩm Việt Nam , nhà hàng
và các văn phòng dịch vụ. Có 5 chùa Phật giáo sinh hoạt tôn giáo, văn hoá và
cộng đoàn Công Giáo có thánh lễ tiếng Việt hàng tuần, lớp dạy Việt ngữ v.v…
Một trong những người Việt nổi
tiếng nhất ở Marseille phải kể đến ông Georges Nguyễn Văn Lộc là một cảnh sát
trưởng người Pháp gốc Việt. Ông sinh năm 1933 tại thành phố Marseille trong gia
đình cha mẹ là người Việt sang Pháp từ 1914 (có thể cha là lính thợ sang thời
Đệ Nhất Thế Chiến). Học xong trung học, Nguyễn Văn Lộc gia nhập vào lực luợng
cảnh sát thành phố Marseille. Sau đó ông theo khoá chuyên môn ở Trưòng Quốc Gia
Cảnh Sát Saint-Cyr-au-Mont-d’Or, thành
phố Lyon . Tốt nghiệp ông trở về phục vụ trong
ngành cảnh sát ở quê nhà Marseille
Năm 1972, Nguyễn Văn Lộc được
bổ nhiệm làm cảnh sát trưởng quận 7 ở thành phố Marseille.
Sau một thời gian nhậm chức, với biệt danh Le Chinois (người Trung Hoa), Nguyễn Văn Lộc đã góp phần làm tình
hình mất an ninh ở thành phố Marseille giảm hẳn. Tháng 10 năm 1972, vì xảy ra nhiều vụ
bắt cóc con tin, cảnh sát trưởng thành phố Marseille yêu cầu Nguyễn Văn Lộc thành lập một
nhóm giải cứu đặc biệt chuyên tham gia can thiệp các vụ khủng bố để cứu thoát
con tin. Nhóm giải cứu này mang tên Groupes
d'intervention de la police nationale được
viết tắt là GIPN, với 15 cảnh sát và Nguyễn Văn Lộc làm đội trưởng, đã
lập được nhiều thành tích chống tội phạm, khủng bố.
Nhiều lần chính ông nhận thay thế cho các con tin để giải cứu họ. Nguyễn Văn
Lộc còn được giao nhiệm vụ bảo vệ nhiều phái đoàn, nguyên thủ quốc gia khi họ tới thăm thành phố Marseille.
Năm 1987, Nguyễn Văn Lộc được
vinh dự trao huân chương Bắc Ðẩu Bội Tinh. Tên ông xuất hiện trên nhiều
tờ báo, tạp chí. Sau đó ông về
hưu. Từ năm 1992, hãng phim Pháp France Films Production đã sản xuất một bộ phim truyền
hình gồm 6 phần mà Nguyễn Văn Lộc là nhân vật kiêm diễn viên chính. Ông mất
ngày 7 tháng 12 năm 2008 tại thành phố Cannes.
SINH HOẠT TỐI TRÊN TÀU
Chúng tôi lái xe về bến tàu MSC ở
phía Bắc thành phố có chiếc Preziosa sừng sững đậu vào lúc 5 giờ 30 và cháu Kim
Chi cùng bạn trai Julian từ giã để ngày mai lên đường trở lại Genève làm việc.
Chúng tôi bốn người trở về phòng Cabin tắm rữa nghỉ ngơi để 7 giờ xuống nhà
hàng L’Arabesque ở tầng 6 về phía cuối tàu ăn tối, hôm nay vói những món Pháp.
Thường tàu ghé bến cảng nào thì thực đơn hôm ấy là những món đặc sản của địa
phương đó. Nên nhớ ăn thì đã tính trong tiền tàu còn uống dù nước lạnh hay rượu
phải trả thêm. Chúng tôi đã mua 12 chai nước suối nên mỗi bữa ăn tối là họ đem
ra và trừ lần trong trương mục.
Sau đó đi loanh quanh trên tàu xem
họ buôn bán, ca hát bên cạnh dương cầm ở ba rượu hoặc lên nhà hàng Buffet (tầng
14) uống cà phê ngắm cảnh biển lúc hoàng hôn hay ra trước boong tàu quay phim
chụp hình cảnh mặt trời lặn trên biển (lúc 9 giờ). Chờ tới 10 giờ đến rạp
Platinum Theatre xem chương trình ca vũ nhạc, đây là chương trình văn nghệ đặc
sắc nhất trên tàu, mỗi đêm có hai xuất 8
giờ và 10 giờ. Đêm nay chương trình có tên là “The Witches of Paris” được giới
thiệu trên tờ “Daily Program” là những vũ khúc tân kỳ và xiếc ngoạn mục với màn
vũ Cancan gồm một hàng mỹ nhân chân dài, mặc Tuxido nhưng không mặc…quần, đội
nón qủa dưa Charlot và vừa ca hát vừa đá chân cái nào cái nấy thật cao. Kiểu
múa này theo lối rạp hát Moulin Rouge ở khu Montmartre Paris. Tôi nghĩ là họ
hát nhép với nền nhạc đã được thu sẵn và chương trình thường kéo dài khoảng
tiếng rưỡi đồng hồ. Công nhận là cảnh trí ánh sáng tân kỳ và âm thanh sống
động, lời ca rõ nét. Trước chương trình trong lúc chờ đợi có 3, 4 anh chàng
hoạt náo viên làm hề cho khán giả cười. Chẳng hạn như khi có một ông khán giả
từ cửa bước vào rạp, bốn anh chàng đi theo sau, ông khán giả làm gì, vuốt tóc,
sửa cà vạt, nhìn lại tìm thân nhân, bốn anh chàng bắt chước làm theo với điệu
bộ khôi hài hóa với dèm ý cho rằng ông khán giả khó tánh, lẩm cẩm. Những khán
giả mới vào các anh chàng làm khán giả cả rạp cười và khi ông ta ngồi xuống ghế
mới biết mình đã bị bắt chước. Sau cùng có một ông khán giả vào dẫn theo một bé
gái 6, 7 tuổi. Đi được vài bước ông ta biết mình bị bắt chước làm trò cười cho
cả rạp nên ông ta chơi khăm bồng bé gái lên. Anh chàng bắt chước phải bồng anh
bạn đồng nghiệp của mình lên. Chàng này to con nên rất nặng, anh ta ẵm không
nỗi, đi ngã nghiêng xiêu vẹo làm khán giả tức cười. Ông khán giả tiếp tục chơi
khăm cho bé gái ngồi trên cổ của mình mà vác đi. Anh chàng làm không được cùng
kéo nhau lắc đầu bỏ chạy ra khỏi rạp! Mỗi đêm chương trình ca vũ nhạc thay đổi
các sắc thái khác nhau, đêm hát giọng cao ténor, opéra tiếng Ý, đêm Wonderland với
xiếc cho trẻ con, đêm Pandora với các dân tộc cổ Nam Mỹ, đêm cuối với âm nhạc
Anh Cát Lợi vui tươi hùng tráng…Nhưng trong một tuần có một đêm rạp nghỉ không
có hát. Trên bờ có báo chí, dưới du thuyền mỗi ngày phân phối tận phòng tờ
“Daily Program” để phổ biến những chương trình vui chơi và căn dặn những điều
cần thiết.
No comments:
Post a Comment