Pages

Powered By Blogger

Friday, August 5, 2016




CHƯƠNG 23

CỔ THÀNH TÂY AN









Rời chùa Từ Ân là nơi Ðường tăng Tam Tạng trụ trì dịch kinh Phật sau khi thỉnh về từ Ấn Độ, chúng tôi đến khách sạn Orient Hotel Xian để ăn trưa. Khách sạn là một cao ốc hàng chục tầng tọa lạc trong khu vực ngân hàng, văn phòng các hãng ngoại quốc. Nhà hàng hình tròn ở tầng cao nhất của khách sạn, từ nơi đây có thể nhìn bao quát thành phố Tây An (Xian) thủ phủ tỉnh Thiểm Tây. Ban đầu tôi tưởng nhà hàng xoay vòng quanh trục giữa nhưng ngồi ăn một hồi thấy cảnh phiá dưới vẫn vậy không có gì thay đổi mới biết nhà hàng không xoay. Ăn uống ở nhà hàng trên tháp xoay vòng cũng thích vì cảnh phiá dưới thay đổi, lúc nhìn núi, lúc nhìn biển với những du thuyền khổng lồ đèn đóm sáng rực ở ngoài khơi nhưng cũng làm thực khách bối rối khi đi lấy thức ăn. Món mình thích vừa mới nằm ở đây, ăn xong dĩa định trở lại lấy thêm thì nó lại di chuyển sang chỗ khác! (Khu các bàn ăn phiá vòng ngoài xoay, nhưng chỗ để món ăn ở giữa cố định không xoay) Lấy thức ăn xong tìm bàn của mình ngồi cũng khó, phải đi trở lại gần hết một vòng tròn nhà hàng. Đi xong nhìn lại thì bàn mình ngồi chỉ cách nơi vừa lấy món ăn...chỉ vài bước! Nhà hàng Buffet của Orient Hotel Xian chỗ ngồi tốt vì có cảnh thành phố nhưng thức ăn không có gì đặc biệt, tôi chỉ chấm món súp hoành thánh nóng và trái cây còn những món khác cũng là những món Trung Hoa nhiều dầu mỡ.



Ăn trưa xong xe đưa chúng tôi ra khu cổ thành Tây An ở khu trung tâm thành phố để xem những bức tường thành quách ngày xưa và đi dạo phố mua sắm vì khu chung quanh đó có rất nhiều cửa hàng Department Stores. Xe đi vào cửa thành phía Nam là cổng chính. Sau khi ngừng lại mua vé cho cả đoàn (10 yuan mỗi người), xe chui qua tường vào đậu bên trong thành, sân này khá lớn bốn bề vây kín bởi tường cao, là một thành nhỏ trong thành lớn. Ngày xưa nơi đây gọi là “Wong Cheng” để binh sĩ cắm trại đồn trú, thành lớn bên ngoài có mất vào tay giặc thi binh lính vào bên trong này cố thủ chờ viện binh kéo về tiếp cứu. Nơi đây có đường bậc thang rất rộng để lên sân trên tường thành, ngày xưa là đường dốc không có bậc thang để kỵ binh đem ngựa lên. Chúng tôi leo bậc thang để lên phiá trên thành. Bên trên có một ngôi tháp 2 tầng rất cổ, kèo cột chạm trổ hoa văn cầu kỳ sơn xanh đỏ, mái ngói tháp phủ rêu xanh. Cả hai tầng ngôi tháp làm phòng trưng bày đồ gỗ và bán những món hàng thủ công nhưng không thấy ai mua. Hai ông công nhân viên bán hàng ngồi uống trà, chúng tôi vào xem cũng không buồn chào hỏi câu nào. Một nhóm binh lính hải quân đi phép, mặc quần áo đại lễ, đi tới lui nhìn ngắm, bàn tán và chuyện trò cười giỡn.



Trên tường thành sân rộng chạy dọc theo tường như một con đường, hai bên treo cờ đuôi nheo ngủ sắc và lồng đèn đỏ phất phới trong gió nổi bật trên nền trời thu xanh ngát. Ở đây có cho mướn xe đạp để du khách đạp vòng quanh cổ thành và những gian hàng cho mướn long bào, vương miện, nhung y hoàng hậu, lộng che để du khách chụp hình. Từ trên cổng thành nhìn lên phiá Bắc là một đại lộ thẳng tấp, xe cộ nối đuôi, hai bên là những dãy cao ốc cửa hàng thương mại người ta đi dập diù. Chúng tôi có hơn 2 tiếng đồng hồ ở đây nên xuống thành đi dạo phố xem Trường An kinh đô nhà Ðường bán thứ gì và phụ nữ có đẹp như  Dương Qúy Phi hay không?



Thành Trường An được xây từ đời Bắc Triều, năm thứ hai vua Sui Wendi (520 sau Công Nguyên) có hình chữ nhật, chu vi 4 mặt dài tổng cộng 13.74 km (8.5miles), cao 12 mét (40 feet), phiá trên tường dầy từ 12 đến 14 mét (40-46 feet) và chân tường từ 15 đến 18 mét (50-60 feet). Cứ cách nhau 120 mét có một tháp canh nhô cao lên, tổng cộng có tất cả 98 tháp canh, trong tháp canh binh sĩ được che chắn an toàn, có thể dùng cung nỏ để bắn địch quân ở phiá dưới. Khoảng cách 120 mét là tầm bắn của cung nỏ. Thành Trường An xây để bảo vệ dân chúng sống trong thành gọi là nội thành, có 4 cửa lớn ở 4 mặt Nam Bắc Ðông Tây và hào sâu đào dọc bên ngoài tường thành. Thành được xây lại năm 1568 thời nhà Minh do quan tổng đốc Zhang Zhi trách nhiệm xây bằng gạch đen. Năm 1781 thời nhà Thanh, tổng đốc Bi Yuan đại tu bổ và xây thêm những ngôi tháp ở 4 cửa. Gần đây nhất là năm 1983, chính quyền tỉnh Thiểm Tây tu bổ tường thành, đào sâu hào nước dọc theo tường và trồng cây, xây các công viên làm đẹp thêm diện mạo thành phố Tây An. Hiện nay khi chúng tôi đến đang xây lại khu phố cổ bên trong thành kế cận cửa Nam, khu này tôi thấy bán nhiều các sản phẩm văn hoá như bút lông, mực tàu, tranh thư họa v.v...mà khách hàng là người trong nước. Dù sống trong thời đại tin học, mọi việc đều dùng vi tính nhưng người Trung Hoa vẫn trọng chữ nghĩa, chuộng thư họa (nghệ thuật viết chữ), họ rất ham mê đọc sách, những quán sách báo mọc lên khắp nơi, đường phố nào cũng có.



Chúng tôi đi trên con đường chính lên hướng Bắc, chiều thứ bảy người ta dạo phố rất đông, tôi có cảm giác như đi trên phố Ðông Kinh Nhật Bản năm 1974 khi sang tu nghiệp Đo Đạc Thủy Đạo (Hydrographic Survey) nửa năm bên đó. Vào tiệm KFC (Kentucky Fried Chicken) mua một cốc cà phê xem ngon dở thế nào? Nhưng thất vọng vì cà phê ở đây nhạt quá như cà phê instant trong gói nhỏ! Tới công trường Tháp Chuông nhìn thấy Tháp Trống gần đó về hướng Tây, cả hai tháp có kiến trúc như ngôi đền cổ. Xuống hầm băng qua con đường chính để vào một Department Store ở hướng Ðông. Thương xá nhộn nhịp đông người nhất là giới trẻ, có nhiều tầng, mỗi tầng bán một mặt hàng riêng. Tầng bán nữ trang đèn sáng choang, các cô bán hàng đồng phục mời chào. Vợ tôi muốn xem ngọc trai, các cô chìu khách đem ra đủ các loại khác nhau nhưng chúng tôi thấy giá đắt mà không biết có trả giá được hay không nên không mua. Ra khỏi thương xá thì bên ngoài vĩa hè thấy một đám đông vây quanh, bên trong đám đông có hai bé gái, một đứa ốm yếu đang nằm bất động trên vĩa hè, còn đứa chị độ 14, 15 tuổi thì qùy, trên đầu chít khăn tang và cầm một bức ảnh của một người đàn ông có lẽ là cha hai đứa bé. Dưới bức ảnh có ghi những dòng chữ Tàu chắc kể hoàn cảnh gia đình của chúng: có thể là cha làm công nhân hầm mỏ tử nạn, em bịnh kinh niên cần được giúp đỡ. Có vài người cũng cho tiền. Có thể hai bé này là ăn mày chuyên nghiệp, dàn cảnh để đánh động lòng từ tâm của mọi người. Nhưng có thể hoàn cảnh hoạn nạn thật sự, không ai biết được? Trên đường phố còn có nhiều nghệ sĩ lang thang, có hai người mù kết hợp với nhau thành một ban nhạc cổ truyền, họ chơi đàn gáo, ca hát để xin tiền. Cũng có micro, loa điện nhưng cột dây vá víu chằng chịt trông rất thảm nảo!



Kinh đô Tràng An dưới thời Ðường đã được Nguyễn Hiến Lê mô tả như sau trong Sử Trung Quốc do nhà Văn Nghệ xuất bản ở hải ngoại: “Thị trấn lớn nhất đời Đường là Tây Kinh Tràng An. Theo Eberhard thì kinh đô đó có thời đông tới 2 triệu. Thị trấn chiếm một khu hình chữ nhật, một chiều 9.7 cây số, một chiều 8.6 cây số, ở phía Đông Nam kinh đô đời Hán. Những chi tiết đó hợp với bản đồ Trường An in trong cuốn Li Che Min của Fitzgerald. Chắc chắn thị trấn đó lớn nhất Đông Á, có thể lớn nhất thế giới thời đó nữa.

 
Nó nằm ở bờ phía Nam sông Vị, gồm ba phần: Phía Bắc là cung điện với khu thành nội, phía Nam là khu của dân chúng. Chung quanh có lũy bằng đất. Khu dân chúng có 11 đại lộ từ Đông qua Tây và 14 đại lộ từ Bắc tới Nam, tất cả đều thẳng góc với nhau, chia thành 108 xóm, mỗi xóm lại có một lũy tre đất bao chung quanh với 2 hay 4 cổng, ban đêm đóng. Những nơi đông đúc nhất là dọc theo đại lộ chính giữa đưa từ Bắc xuống Nam, và xóm chợ Đông và Tây, chỗ có cửa hàng và nhà của các thương nhân ngoại quốc. Có trên ba chục ngôi đền, chùa lớn.

 
Phía Bắc, ngay trên bờ sông Vị là một vườn thượng uyển mênh mông, trong đó năm 634 cất thêm một cung nữa, cung Đại Minh, nơi ở của vua, gồm ba chục lâu đài cách biệt nhau, rải rác trong vườn. Lâu đài rộng nhất (77.6 mét x 130.4 mét) có một cái nóc lớn chống bằng 164 cột. Trong một góc vườn có sân chơi polo (mã cầu: cưỡi ngựa mà đánh cầu), trò chơi này người Trung Hoa bắt chước của người Ba Tư.



Phía Bắc sông Vị có khu mộ địa của hoàng tộc. Mỗi ông vua khi còn sống cho xây trước một cái lăng cho mình. Những vật khai quật được gần đây (gương đồng, cây trâm cài tóc, đĩa chén, tượng nhỏ bằng ngọc, đồng...) cho ta biết được đời sống xa hoa của mỗi hạng người sống trong cung thời đó, từ các cung phi bó chân (cuối đời Đường tục bó chân đã bắt đầu lan rồi), các vũ nữ, nhạc công, tới bọn người chơi polo, bọn tôi tớ, bọn giữ ngựa đi những cái ủng thật rộng, mũi quặm, râu quặm, rõ ràng là gốc ở Tây Vực.
Tràng An thời đó là nơi tụ họp của đủ các giống người: Nhà sư Ấn Độ, tu sĩ đạo Cảnh giáo, con buôn Samarcande, quân lính Đột Quyết, sinh viên Nhật Bản…Dân bốn phương tụ lại: Thư sinh lên kinh để thi tiến sĩ, người đậu rồi thì đợi bổ dụng,; bọn hảo hán đi tìm nhà quyền quý biết dùng mình; thương gia buôn muối, trà, thuốc bắc, quan lớn ở tỉnh về kinh để bệ kiến... Cao lâu, tửu điếm, trà thất, kĩ viện mọc lên như nấm, ồn ào suốt đêm tiếng ca tiếng nhạc. Cả một xã hội thích ca nhạc, mĩ nhân và thơ. Con buôn cũng biết làm thơ. Mê thơ nhất có lẽ là kĩ nữ. Một số ít có thanh, có sắc lại biết làm thơ thì nổi danh khắp nước; không biết làm thơ thì ít nhất cũng thuộc thơ của danh sĩ thời ấy.”



Gần 1,500 năm sau với biết bao nhiêu biến đổi thăng trầm, chúng tôi đến thăm Tràng An (nay gọi là Tây An nhưng dân địa phương vẫn thích cái tên Trường An ngày xưa), thành phố vẫn là một trung tâm văn hoá cho cả nước, là cái nôi phát sinh nền văn minh Trung Hoa với những di tích văn hóa lâu đời cả 3 ngàn năm như viện bảo tàng bia đá có khắc chữ cổ, những ngôi chùa cổ chứa kinh sách, những hầm chôn tượng người với nét điêu khắc sống động và cung điện mùa Ðông của Ðường Minh Hoàng nơi phát triển các bộ môn thi, ca, vũ, nhạc mà nền văn hóa Trung Hoa ngày nay vẫn còn vay mượn.



Bốn giờ chiều đoàn chúng tôi lên xe để ra phi trường Tây An đáp chuyến máy bay hãng China Eastern Airlines lúc 6 giờ 30 để đi Quế Lâm (Guilin) thuộc tỉnh Quảng Tây. Phi trường nằm ở hướng Tây Bắc và cách trung tâm Tây An khoảng 20 miles tuy có xa lộ nhưng cũng phải mất hơn nửa giờ. Qua cầu trên sông Vị thì cảnh đồng quê hiện ra, những ruộng bắp đã hái trái, còn lại thân cây khô người ta đốt cả ruộng, khói bay lên. Ngồi trên xe nhìn thấy rải rác đó đây từng đám khói bốc cao lên trên bầu trời chiều. Hướng dẫn viên địa phương là cô Ngô Nghị cho biết chính quyền ra lịnh cấm đốt ruộng nhưng nông dân vẫn đốt để lấy tro làm phân bón cho mùa năm tới. Trên những cánh đồng có rất nhiều đồi nhỏ, cô cho biết là những nấm mồ đời xưa của những quan lại, phú hào. Nhà cửa ở đây cất xa con lộ mới mở và họ tập trung lại thành làng nhỏ chung quanh có trồng cây che gió. Xe rẽ phải để vào phi trường và nhà ga phi trường Tây An cũng mới xây và hàng ngày cũng hơn 50 chuyến bay lên xuống. Ngô Nghị từ giã mọi người và nhận tiền tip, cô chúc: “Có những ngày tuyệt đẹp ở Quế Lâm và ở nơi đó mùa Thu hoa nở rất đẹp”. Phi cơ A 320 cất cánh thì trời cũng đã tối, bên dưới Tây An còn lại lấp lánh những ánh đèn và lập loè những đốm lửa đốt rẫy bắp. Hình ảnh hai em bé gái xin tiền và hai ông nghệ sĩ mù rách rưới khiến tôi xót xa và cay mắt như có hạt bụi lọt vào! Trung Quốc ngày càng phát triển, nhiều người giàu có nhưng đa số dân quê vẫn còn nghèo đói, cơ cực. Nhiều người lang thang về thành phố làm đủ mọi nghề sinh sống nhưng chỉ kiếm được vài đô la mỗi ngày!







CAPTIONS:

5955 Con đường chính trong thành Tây An nhìn từ tháp cửa Nam

5965 Cờ đuôi nheo, lồng đèn đỏ treo trên tường thành phiá nam

5976 Tháp chuông điểm giờ và tháp trống báo động khi giặc về

5977 Tầng bán nữ trang trong thương xá

5975 Hai bé gái ăn xin trên hè phố

5982 Hai nghệ sĩ mù rong ca trên hè phố





CHƯƠNG 22

CHÙA TỪ ÂN NƠI TAM TẠNG TRỤ TRÌ Ở TÂY AN

 








Tọa lạc về phiá Nam Tây An (Xian) và cách trung tâm thành phố khoảng 4 km (2.49 miles), chùa Từ Ân khởi thủy được xây từ năm 648 sau Công Nguyên là nơi tàng trữ kinh Phật do nhà sư  Huyền Trang (Tam Tạng) thỉnh về từ Ấn Ðộ. Năm 629 nhà sư Huyền Trang xuất phát từ Trường An (tên của Tây An ngày xưa) theo con đường Tơ Lụa (con đường các thương buôn đem lụa bán sang Tây Á) đi về hướng Tây xuyên qua sa mạc gian khổ mất 16 năm, qua hơn 100 vương quốc, cuối cùng đến được Ấn Ðộ là đất Phật sinh ra. Ông du khảo về đạo Phật, thuyết giãng, mang về được 657 bộ kinh nguyên bản bằng tiếng Sanskrit và một số ngọc xá lợi. Khi sư Huyền Trang trở về đã đến đời vua Ðường Cao Tông (Gaozong) (628-683), nhà vua xây chùa để ông làm nơi dịch thuật kinh sách và đặt tên chùa là Từ Ân để báo hiếu thái hậu mới vừa qua đời.



Sáng sớm ngày 15-10-05 chúng tôi di chuyển hành lý ra khỏi phòng để nhân viên khách sạn đưa xuống xe buýt vì chương trình hôm nay sau khi viếng chùa Từ Ân, bức tường cổ thành Tây An ở trung tâm thành phố đoàn du lịch chúng tôi sẽ ra phi trường Tây An để bay xuống miền Nam thăm thành phố Quế Lâm tỉnh Quảng Ðông. Ăn sáng xong là chúng tôi khởi hành vào lúc 8 giờ, cô hướng dẫn viên địa phương nói còn sớm qúa chùa chưa mở cửa nên chúng tôi lại đi...mua ngọc thạch! Ðây là lần thứ ba được đưa tới cửa hàng bán ngọc thạch. Các bà các cô thì thích, còn bọn đàn ông chúng tôi chỉ đi theo cho vui và thường “bàn ra” để các bà không mua, đỡ tốn tiền. Có nhiều bà vàng trắng, hột xoàn, đá qúy xanh đỏ đeo đầy tay, không ngón nào được ở không mà vẫn còn thích mua thêm. Tôi “cà khịa” hỏi đeo ở đâu thì có bà cho biết là mua...cho con gái, cho con dâu. Ðây là chủ trương của nhà nước, hễ đến địa phương nào là du khách sẽ được đưa đi mua cẩm thạch. Vì có kinh nghiệm trong hai lần mua trước nên các bà cho biết lần này mua được rẻ lắm, lại nữa hàng ở đây là hàng..độc, chỗ trước không đẹp bằng! Lần nào tôi cũng thấy các bà vui mừng hớn hở cho rằng rẻ qúa nhưng sau đó đến nơi khác thì thấy lần trước mình mua hố cho nên ông Lương Kiện là hướng dẫn viên lâu năm cho AV Travel ở Trung Quốc mới nói: “Càng mua càng hố, càng hố lại càng mua!” Nhiều bà lên xe ngồi rồi, thấy tiếc không mua thì uổng, trở về Phước Lộc Thọ làm sao được giá đó, nên nhảy xuống xe đi vào trả giá thêm lên. Cô hướng dẫn viên không biết có được chia hoa hồng không nhưng cũng chìu các bà tới bến, sẵn sàng chờ đợi và hăng hái vào trong cửa hàng trả giá phụ!



Trên đường đến chùa Từ Ân tôi có dịp quan sát thành phố Tây An một thời là cố đô của nhiều triều đại trước Công Nguyên. Ðường lộ, công viên, cao ốc đang được xây dựng ở khắp mọi nơi, có những khu phố cổ mái ngói cong tường vách loang lỗ bên cạnh những cao ốc hiện đại mới vừa hoàn thành. Có một con đường chuyên bán những bộ phận của xe hơi như vỏ xe, bình điện, máy xe và trong một tiệm thay bánh, vá vỏ xe cũng trang bị máy nạy vỏ xe ra khỏi mâm cũng như ở Mỹ. Nhớ lại ở VN trước 1975 ở Hàng Xanh hay Phú Lâm nhiều tiệm vỏ xe phải nạy bằng những dầm sắt rất khó khăn nặng nhọc. Trước sân của một nhà hàng tôi thấy người ta tập trung nhân viên lại từ những tiếp viên chạy bàn mặc đồng phục cho đến những người nấu bếp mặc áo trắng, đội chụp trắng họp “giao ban” để ban giám đốc kiểm điểm hay phổ biến những lời dặn. Họ đứng rất kỷ luật có hàng ngủ như trong quân đội và cảnh này tôi thấy rất nhiều nơi ở Trung Quốc vào buổi sáng.



Phiá Bắc khu chùa Từ Ân là một quảng trường lớn, hôm nay thứ bảy cuối tuần người ta tập họp rất đông để giải trí vui chơi mà không phải tốn tiền. Có một hồ nước lớn với hàng chục vòi đang phun nước lên cao và ban đêm có đèn màu rọi vào những vòi nước nhảy múa theo điệu nhạc. Xe chỉ ngang qua chứ chúng tôi không viếng nơi đây và theo tài liệu thì đây là công viên văn hoá đời Ðường rộng 110,000 mét vuông thêm 20,000 mét vuông là “vườn cảnh bằng nước” (waterscape) trong đó có một khu trưng bày những tượng điêu khắc chạy dài đến 200 mét. Phiá sau quảng trường là tháp Ðại Nhạn 7 tầng của chùa Từ Ân cao vút lên trên không.



Xe buýt chúng tôi đậu trước cổng chùa, cũng giống như những đền đài khác ở Trung Quốc, chùa Từ Ân cũng có cửa chính hướng về phiá Nam. Giá vé vào thăm chùa là 25 yuan và muốn lên tháp Ðại Nhạn phải mua vé loại 30 yuan. Sau cổng là khoảng sân rộng trồng nhiều bông hoa, cây cảnh với nhiều cây tùng Cypress và những cây hồng trái chín vàng, nơi đây có quán giải khát, nhà bán sách vở, kinh kệ, xâu chuỗi hạt bồ đề, nhang đèn, nhà vệ sinh công cộng. Nhiều người đứng chụp hình tháp Ðại Nhạn ở trên sân này vì đến gần qúa sẽ không thấy được hết 7 tầng và ngọn tháp. Tháp Ðại Nhạn (Big Wild Goose Pagoda) lần đầu được xây vào năm 652 do lệnh của vua Ðường Cao Tôn sau khi xây chùa Từ Ân được 4  năm. Một buổi sáng một đàn chim thiên di ngỗng trời bay ngang qua chùa và một con rơi xuống chết, tin là do Phật trên trời gởi tín hiệu là đừng sát sinh nữa nên các nhà sư trong chùa từ đó không ăn thịt nữa mà chỉ chay trường bằng rau cỏ. Tháp được xây ngay tại nơi con ngỗng chết và được đặt tên là tháp Ðại Nhạn. Tháp xây bằng gạch có hình vuông, nguyên thủy có 5 tầng và sau xây thêm 2 tầng nữa, mỗi tầng có một cửa sổ nhỏ cho mỗi mặt, hiện nay tháp cao 64.5 mét (211.6 feet). Bên trong có tất cả 245 bậc thang để lên tháp. Muốn lên tháp phải gởi đồ đạc, túi xách lại có người giữ vì cho rằng tháp yếu, chỉ được đem theo máy ảnh và máy quay phim mà thôi. Từ tầng cao nhất du khách có thể ngắm cảnh bao quát thành phố Tây An.



Qua khỏi tháp Ðại Nhạn là đến khu chùa Từ Ân là những dãy kiến trúc cũ có, mới xây cũng có, hai bên có Tháp Chuông ở phiá Ðông và Tháp Trống phiá Tây. Trong Tháp Chuông có quả đồng chung nặng 15 tấn được đúc năm 1548 dưới thời nhà Minh. Ngôi chánh điện là điện Mahavira có 3 tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bằng gỗ và 18 nhà sư trong đó có sư Huyền Trang. Những điện bên cạnh trưng bày những bộ kinh Phật, những bức tranh khắc trên gỗ ghi lại những hình ảnh nhà sư Huyền Trang đi Tây Tạng, Ấn Ðộ thỉnh kinh.



Trong Sử Trung Quốc của học giả Nguyễn Hiến Lê đã mô tả chuyến đi của thầy Tam Tạng Huyền Trang như sau:



“Huyền Trang sinh năm 602 ở Hà Nam, năm thứ 3 đời Thái Tôn (629), một mình qua sa mạc Qua Bích dài non 500 cây số, tới nước Cao Xương, được vua nước đó rất trọng, rồi leo núi Thông Lãnh cao 7.200 thước trong dãy Thiên Sơn, tiến theo đường chở lụa tới Thiết Môn Sơn một nơi vô cùng hiểm trở. Từ đây ông theo hướng Đông Nam qua nhiều nước nhỏ, vòng qua Đại Tuyết Sơn rồi vào Tây Trúc.

 
Ông thật là một nhà mạo hiểm, đời sau không chắc có ai hơn; lại có tinh thần nhận xét của nhà khoa học, ghi rất kỹ và rất đúng những điều mắt thấy tai nghe ở các nơi ông đi qua. Ông đi một vòng nước Tây Trúc, coi hết các nơi có di tích của Thích Ca, lại ở hơn một năm tại chùa Nalanda, một ngôi chùa lớn nhất, đẹp nhất mà cũng là một trường đại học cổ nhất. Ông tả cảnh chùa đó, giọng bóng bảy như giọng thi sĩ Tràng An. Ông học hết bộ Du Già Luận, học thêm triết lý Bà La Môn và Phạn Ngữ, rồi đi chu du Tây Trúc tìm hiểu thêm các giáo phái khác: Thăm xứ Bengale, tính qua đảo Tích Lan mà không qua được. Tới đâu ông cũng thuyết pháp, được hoan nghênh, ai cũng muốn lưu ông lại. Lần về ông theo một con đường khác, ghé nhiều nơi để giảng đạo.
Năm 645 ông tới Tràng An sau khi xa quê 16 năm, đi gần 30.000 cây số, qua 128 nước, đem về được 657 bộ kinh, không kể nhiều vật quý khác.


Mới về nước được hơn một tháng, ông bắt đầu ngay công việc dịch kinh đại quy mô và mải miết làm luôn 19 năm cho tới khi tắt thở. Ông tổ chức một ban dịch thuật, mời các vị cao tăng thông cả Hoa ngữ lẫn Phạn ngữ hợp tác. Công việc làm rất có phương pháp và kỹ lưỡng, soát đi soát lại nhiều lần. Ông dịch những kinh khó nhất và chỉ huy việc dịch những kinh khác. Tới năm 663 ông dịch được 600 quyển.
Ngoài ra ông còn cho hậu thế:
- Bản dịch Đạo Đức kinh ra tiếng Phạn để giới thiệu triết học Trung Hoa với Ấn Độ.
- Bản dịch Đại thừa khởi tín luận từ Hoa ngữ ngược về Phạn ngữ. Nguyên bản chữ Phạn của Ấn Độ đã thất lạc từ lâu, nhưng ở Trung Hoa còn giữ lại được bản chữ Hán. Làm công việc đó ông muốn đền ơn những tôn sư và bạn thân Ấn đã niềm nở dạy bảo, tiếp đón ông.

-Soạn một cuốn ngữ pháp Phạn, giản lược mà sáng sủa và đúng.
- Viết bộ Đại Đường Tây Vực Ký gồm 12 quyển chép những điều mắt thấy tai nghe trong chuyến đi thỉnh kinh. Bộ này chứa những tài liệu rất quý cho các nhà khảo cổ Ấn Độ và Trung Á sau này, được dịch ra nhiều thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Nhật, Đức... và đã giúp các học giả Ấn sửa lại nhiều điều sai lầm trong lích sử của họ về thế kỉ VII.
- Công việc dịch kinh của ông chẳng những làm cho đạo Phật phát triển mạnh ở Đông Á mà còn ảnh hưởng lớn đến ngôn ngữ và văn học Trung Hoa.
- Từ ngữ Trung Hoa đã giàu thêm được 3,5 vạn tiếng, căn cứ vào bộ Phật giáo đại từ điển, có tiếng dịch âm tiếng Phạn như Nát bàn, sát na, phù đồ; có tiếng dịch nghĩa tiếng Phạn như vô minh, nhân duyên, chân nhu... Mà thêm được 3,5 vạn tiếng là thêm được 3,5 vạn ý niệm.
- Văn bạch thoại phát đạt vì lẽ khi dịch, người ta lựa những tiếng bình dị cho dễ hiểu, do đó dùng bạch thoại xen với cổ văn; lại thêm vì là kinh để tụng, cho nên phải chú trọng đến âm vận, và thứ văn đặc biệt đó gọi là biến văn. Do ảnh hưởng của Phạn ngữ, biến văn không dùng hư từ, đối ngẫu mà rất hay đảo trang.
- Văn nhân Trung Hoa ít tưởng tượng mà hay thuyết li, nhờ những truyện tân kỳ trong kinh Phật mà bắt chước viết những truyện thần quái. Như bộ Sưu thần ký, và những truyện Thủy Hử, Hồng Lâu Mộng sau này đều chịu ảnh hưởng của các kinh Đại trang nghiêm, Hoa nghiêm, Niết bàn...
Huyền Trang tịch năm 664, một triệu người ở Tràng An và tứ xứ đi đưa linh cữu ông.” (Ngưng trích dẫn)



Sau khi viếng chùa, xem qua những bộ kinh để trong tủ kính, thấy đa số bộ kinh đều có vẻ mới, bộ kinh nguyên thủy do Tam Tạng mang về cách nay hơn 1,300 năm trải qua nhiều thăng trầm chùa chiền bị đốt phá nên đã thất tán. Phật giáo cực thịnh trong đời Đường do các vua sùng đạo nhưng cũng có một ông vua cấm đạo là Võ Tôn đã ra lịnh cấm đạo từ năm 842 cho là có hại cho văn hóa, quốc gia. Võ Tôn có thái độ cương quyết sau nhiều triều đại chùa chiền khuynh đảo triều đình, là nơi các thương buôn, quan lại giàu có cất giấu tài sản, cấu kết với tăng lữ mua một số lớn đất đai (có sách nói bằng 2/3 tài sản quốc gia), nhiều chùa qúa giàu còn cho vua vay tiền lại dung chứa một số người trốn lính đi ở chùa khiến triều đình thu thuế không được mà bắt lính cũng không được. Theo Sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê: “Từ năm 842 Võ Tôn đã cấm một số chùa và một số tăng ni, năm 844 lại cấm nghiêm hơn, gắt gao nhất là năm 845 hạ lệnh trong hai kinh thành Tràng An và Lạc Dương mỗi nơi chỉ để lại 4 ngôi chùa và 30 vị tăng ni, các châu quận mỗi nơi một ngôi chùa và từ 6 đến 20 tăng ni, ngoài ra hết thảy đều bị phá hủy, tăng ni đều phải hoàn tục. Kết quả có 44,600 ngôi chùa bị phá, tượng Phật bằng đồng bị nấu ra để đúc tiền và có 260,500 tăng ni hoàn tục. Nhưng khi Võ Tôn băng, Tuyên Tôn kế vị lại lập tức phục hưng Phật Giáo”. Lịch sử có những sự kiện hay lập lại như đến thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa, chùa chiền cũng lại bị đốt phá vì cho rằng tàng tích phong kiến, mê tín, lạc hậu...Sau đó đến thời kỳ mở cửa đổi mới các chùa chiền bên Trung Quốc lại được phục hồi tu bổ, Phật giáo được nhà nước tổ chức trở lại và dân chúng tự do đi chùa, cúng tế, các lễ hội tôn giáo được tổ chức rầm rộ vừa mang màu sắc văn hóa dân tộc vừa thu hút khách du lịch, hành hương mang về ngoại tệ.



CAPTIONS:

5925 Tháp Đại Nhạn trong chùa Từ Ân

5937 Tháp Đại Nhạn hình vuông cao 7 tầng xây năm 652 AD

5930 Khuôn viên chùa Từ Ân ở Tây An

5941 Một góc vườn trong sân chùa

5921 Nhân viên nhà hàng tập họp mỗi sáng nghe nhật lệnh

5922 Nhân viên tiếp thị cửa hàng cẩm thạch giới thiệu chén hồng ngọc





CHƯƠNG 21

TIỆC CUNG ÐÌNH ÐƯỜNG NHẠC Ở TÂY AN

 







Ðêm 14-10-05 là đêm thứ hai cũng là đêm cuối cùng ở thành phố Tây An (Xian) tỉnh Thiểm Tây (Shaanxi). Buổi sáng chúng tôi đi xem Lăng Mộ Tần Thủy Hoàng, buổi chiều viếng suối nước nóng Hoa Thanh Trì có cung điện nghỉ mát của Dương Qúy Phi và vua Huyền Tôn (Ðường Minh Hoàng). Sau khi trở về khách sạn tắm rữa, nghỉ ngơi chúng tôi gặp nhau dưới quày tiếp tân để cùng đi xe buýt đến hí viện để xem buổi trình diễn có tên là “The Tang Dynasty Dinner Show”. Ðã nói là “Dinner Show” có nghĩa là vừa ăn tối vừa xem ca vũ nhạc thời vương triều đời Ðường, vừa thưởng thức những món ăn mà hí viện cho rằng...Ðường Minh Hoàng thường ăn có nghĩa là tiệc cung đình nhà Ðường và sau đó xem những màn vũ nhạc trong đó có vũ khúc Nghê Thường do chính người đẹp Dương Qúy Phi làm biên đạo sáng chế để làm vui Huyền Tôn.



Hí viện tọa lạc trên một con đường lớn sầm uất chỉ cách khách sạn Xian chúng tôi ở vài khu phố. Mỗi đêm có hai xuất diễn, chúng tôi đi xem xuất đầu tiên lúc 6 giờ 30 với giá mỗi người là 300 yuan (37.5 USD) bao gồm bữa ăn tối lịch sự sang trọng. Chi phí xem show này AV Travel bao luôn chứ không có “optional” phải trả tiền thêm. Khi chúng tôi vào thì rạp hát đã đầy phân nửa, trên sân khấu để đèn sáng và người ta đang trình tấu bằng những nhạc cụ cổ truyền như đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn nguyệt, đàn cò, tiêu sáo...Trên bàn trải khăn bày những chậu hoa nhỏ có cánh hoa sen cắm rất mỹ thuật, chén dĩa men sứ bóng loáng, muỗng dao nĩa bằng bạc lấp lánh và mỗi người một thực đơn to lớn in màu rất đẹp. Nhân viên hí viện đồng phục đến hỏi khách uống gì như các loại nước ngọt, bia để họ mang đến, ngoài ra trên bàn còn để những hủ rượu nhỏ giống như rượu sa kê của Nhật mà họ cho biết đó là rượu nếp cổ truyền từ thời Ðường có hương vị ngọt ngọt như rượu sa kê. Sau đó họ dọn ăn từ món một, tuần tự hết món này đến món khác trong lúc ăn uống thì trên sân khấu hòa nhạc cổ truyền hay những nữ ca viên mặc áo sường xám trình bày những bài ca cổ bằng giọng mũi ở VN ngày trước gọi là hát Tiều hay hát xẩm. Thực đơn thì mọi người đều giống nhau, ai ăn chay thì có thực đơn món chay không thịt cá. Thực đơn tiệc cung đình (Dynasty Dinner Menu) gồm có:



-Ðầu tiên là món khai vị “finger food” ăn lai rai để uống bia hay rượu có tên là “Pearls of Cathay” (Ngọc trai Quốc Thái) tên nghe dữ dội nhưng chỉ là thịt ức gà rô ti với thứ sốt chua ngọt ăn với hạnh nhân (walnut).

-Món kế đến là “The Royal Marriage” (Hôn lễ hoàng cung) là nấm đông cô xào với tương đen.

-Món thứ ba là “Heart of The Dragon” (Tim Rồng) gồm có tép tươi 4 con lớn hấp với một loại sốt có tên là “GouTie” có mùi vị lạ miệng.

-Món thứ tư  có tên là “The Princess’s Pin” (Chiếc trâm công chúa) là món chính gồm thịt bò non mềm (tenderloin) nướng với sốt nấm ăn với chút cơm chiên gói trong lá sen và sà lách.

-Món cuối cùng là món ngọt tráng miệng với trái cây, sơn sa và bánh ngọt uống với trà Jasmine. Trước kia trà là một thức uống chỉ có triều đình và quan lại mới được thưởng thức vì qúy hiếm chỉ trồng ở Hàng Châu miền Ðông gần biển. Ðến thời nhà Ðường trà khá phổ biến vì được trồng nhiều nơi và uống trà trở thành phong trào  trong giới thi văn.



Trong lúc ăn bánh uống trà thì trên sân khấu nhữ ng màn trình tấu nhạc cụ cổ truyền, hát Tiều, hát Quảng để câu giờ cũng đã chấm dứt. Bổng nhiên vang lên khúc nhạc “Happy Birthday to you” đánh theo điệu nhanh Techno với tiếng trống dồn dập. Ánh sáng “spot light” trên nóc rạp chiếu thẳng xuống bàn đó và bao nhiêu cặp mắt đổ dồn về chiếc bàn có người được chúc “Happy...Budday” . Một chiếc bánh sinh nhựt hình chỏm cầu màu vàng được các cô hầu bàn trong y phục tỳ nữ mang ra đặt trên bàn bên trên có một đoá sen hồng lớn mà mỗi cánh sen gắn một ngọn đèn cầy nhỏ. Nhụy hoa sen ở giữa là một ngọn lửa lớn rực cháy. Người được mừng sinh nhật phải phùng mang thổi tắt hết các ngọn đèn. Một võ quan mặc chiến bào đội mũ đứng phiá sau tiến lên trao cho người được mừng sinh nhật một cây... thiết long đao lớn và người đó phải cắt bánh sinh nhật bằng thanh long đao!



Trong đoàn du lịch AV Travel cũng có vài ba người có ngày sinh trong tuần này mà cô Simone Nga đã xem thấy ở sổ thông hành và kín đáo báo cho hí viện biết để làm nghi lễ chúc mừng trong đêm nay. Ðặc biệt nhà truyền thanh Vũ Chung ở Cam Quận không phải là ngày sinh nhựt mà là “20 Year Anniversary”, kỷ niệm “20 năm tình cũ” với người bạn đời đang bán nước...uống ở tiệm Good Water trong khu chợ Á Châu nơi góc đường Magnolia và Edinger thành phố Fountain Valley thuộc Cam Quận. Anniversary không chơi nhạc Happy Birthday được mà chơi bản đám cưới khi cha cô dâu dẫn cô dâu, đi một bước đứng lại một bước, từ từ tiến vào nhà thờ. 



Hết phần ăn bánh uống trà mừng sinh nhật thì tới phần ca vũ Ðường Nhạc. Các nhân viên nhà hàng dọn dẹp rất nhanh những dĩa bánh, muỗng nĩa còn trên bàn và chỉ chừa lại mỗi người một ly nước. Ánh sáng chuyển sang tối dần ở khu khán giả và một giọng nữ vang lên giới thiệu chương trình ca vũ nhạc bằng tiếng Anh giọng Trung Hoa: “Thưa qúy bà và qúy ông, hí viện và nhà hàng Ðường Vương Triều hân hạnh trình diễn hầu quý vị một chương trình vũ nhạc Trường An xuất phát cách đây hơn một ngàn năm tại Trường An thủ đô của nhà Ðường mà nay gọi là Tây An. Vương triều nhà Ðường kéo dài từ năm 618 đến năm 907 sau Công Nguyên. Trong giai đoạn này Trung Hoa đã từng phát sinh một nền văn hóa đầy bản sắc, nghệ thuật cũng như khoa học nhiều thành tựu. Cho đến ngày nay văn hóa Trung Hoa hiện đại vẫn còn vay mượn rất nhiều từ nền văn minh lịch sử nhà Ðường. Kính thưa qúy vị...xin hân hạnh gởi đến qúy vị nền văn hóa rực rỡ đó, phản ánh một thời đại huy hoàng và hùng tráng của nước Trung Hoa ngàn năm về trước.”

Tiếng vỗ tay của khán giả và màn nhung sân khấu từ từ được kéo ra. Chương trình được mở đầu bằng một màn trình tấu những nhạc cụ cổ điển mà nay không còn được dùng nữa và màn trình tấu này có tên là “The King Of Ever”. Màn này diễn lại nghi lễ dân chúng nói lên sự biết ơn của họ đối với những nhà lãnh đạo cai trị đã mang đến cho họ hòa bình, thịnh vượng và niềm thoãi mái, hoan lạc. Tại buổi yến tiệc triều đình có vua, hoàng hậu và các cung phi, ban nhạc triều đình đã hòa tấu những bản nhạc nhằm chúc cho vua trường sinh và hạnh phúc. Kết thúc màn này, tiếng nữ xướng ngôn viên lại tiếp: “Cũng mong qua màn trình diễn sống động này sẽ mang không khí hòa bình thịnh vuợng đời Ðường đến tất cả khán giả có mặt đêm nay.”



Kế tiếp là 4 màn vũ với 4 thể điệu và phong cách khác nhau. Ðầu tiên là vũ khúc “White Ramie Cloth Costume Dance” nhằm phô diễn nét đẹp của y phục may bằng lụa Ramie, một loại tơ lụa được người Trung Hoa chế tạo từ 1,500 năm về trước. Màn vũ thứ nhì có tên là “Dan Ou” là vũ điệu trừ tà, những vũ công mang mặt nạ để hù dọa tà ma không ám ảnh gia chủ, trả lại gia chủ một sức khoẻ thể chất dồi dào sinh lực và tâm trí an lạc. Vũ điệu này đời Ðường thường được trình diễn ở cung đình hay các gia trang phú hộ trong đêm giao thừa. Màn vũ thứ ba có tên là “Rainbow Costume Dance” diễn tả Ðường Minh Hoàng trong giấc chiêm bao thấy mình du nguyệt điện rồi gặp Hằng Nga trong áo lông ngỗng vây quanh là những áng mây hình hoa hồng trắng cùng nhảy múa trên trời. Khi Đường Minh Hoàng tỉnh giấc kể lại cho nàng cung phi được ông sủng ái nhất là Dương Quý Phi, một trong bốn người đàn bà đẹp nhất Trung Hoa, Dương Qúy Phi ghi chép lại và sáng tác vũ khúc Nghê Thường mà các nữ vũ công mặc áo sặc sỡ như cầu vòng trên trời.



Vũ khúc cuối cùng là “Warriors Triumphal Dance” (Chiến sĩ mừng khải hoàn), người giới thiệu chương trình cho biết: “Lý Thái Tôn trước khi trở thành hoàng đế nhà Đường (627- 649) ông ta mang tên Thái Tử Qin là một nghệ nhân giỏi cả vũ nhạc lẫn binh bị. Ông đã sáng tác vũ khúc mừng chiến thắng nói trên để diễn đạt niềm tự hào về quân đội của mình”. Trong một nền nhạc hùng tráng vang mạnh các nam diễn viên trong chiến bào tay cầm long đao, thiết trượng và cờ quạt diễn tả lúc trở về thành Trường An trong chiến thắng được các thiếu nữ mang hoa nghênh đón.



Hết 4 màn vũ sôi động và ngoạn mục, chương trình chuyển trở lại phần trình tấu nhạc cụ có phụ diễn bởi các vũ công. Đầu tiên là màn biểu diễn “Happy Spring Outing” (Hạnh Phúc Đầu Xuân) gồm có những thiếu nữ chơi đàn giây (tỳ bà, nhị, nguyệt), đàn kéo và sáo trúc diễn tả cảnh giới qúy tộc ra bờ sông Vị (Qujiang) bên ngoài cổ thành Trường An để đón ngày Tết Nguyên Đán. Sau đó là màn biểu diễn sáo trúc có nhiều ống đã có từ 3,000 năm trước có tên là Pai Xiao. Màn này có tên là “Spring Orioles Song” (Khúc Xuân Ca Chim Oanh) nói về trong buổi lễ đăng quang của Đường Cao Tông (Gao Zong) trong lúc nghi thức diễn ra trên cây có đàn chim hoàng oanh hót líu lo. Nhà vua vui thích tiếng chim may mắn này nên truyền ban nhạc triều đình sáng tác khúc nhạc bắt chước tiếng chim ca bằng tiếng sáo trúc Pai Xiao. Nhạc khúc này được biểu diễn bởi tiếng sáo Gao Ming là giám đốc chương trình Đường Nhạc. Nghệ sĩ sáo trúc này khoảng tuổi 50 thổi rất líu lo như tiếng chim kêu.



Kết thúc là màn vũ có tên là “The Tage” (?) được giới thiệu là một vũ khúc dân gian truyền thống có từ đời xưa. Màn vũ trình bày

cảnh dân chúng tụ tập trong một vùng xinh đẹp gần Hoa Thanh Cung dưới chân núi Ly Sơn để đón Tết Trung Thu. Trong lúc dân chúng ca hát nhảy múa vua Đường xuất hiện và tham gia lễ hội. Vào thời đó đối với dân chúng là một vinh hạnh lớn. Trong màn vũ này vua Đường cùng đi với những người quý tộc vào khu lễ hội Trung Thu và ban chúc lành đến thần dân. Cũng xin nhắc lại là vua Đường Minh Hoàng (Huyền Tôn) là người đặt ra tục ăn Tết Trung Thu sau khi nằm mơ thấy mình lên cung trăng gặp bầy tiên nữ và Hằng Nga. Trong Sử Trung Quốc ông Nguyễn Hiến Lê đã viết về Đường Minh Hoàng như sau: “Huyền Tôn là một ông vua tài hoa nhiều nghệ sĩ tính, ông sành âm nhạc, lập giáo phường để dạy tục nhạc, đặt ra lối múa Nghê thường vũ y, vũ nữ bận áo sặc sỡ như cầu vồng múa theo điệu nhạc. Ông lại lập ra một viện gọi là Lê viên (vườn lê), dạy 300 thanh niên múa hát (gọi là Lê viên tử đệ) để làm vui tai mắt cho ông và Dương Quí Phi. Có thể coi đó là bước đầu tiến tới ca”.



Chương trình ca vũ nhạc nhà Đường chấm dứt, đèn bật sáng khán giả đứng lên vỗ tay trong lúc các diễn viên đứng trên sân khấu vẩy tay chào từ giã. Sau đó khán giả lên chụp hình chung với đoàn nghệ sĩ có giám đốc chương trình là cây sáo Gao Ming và luôn cả nàng Dương Quý Phi và vua Đường Minh Hoàng. Người chụp ảnh là nhân viên của hí viện và họ sẽ gởi ảnh đến khách sạn sau.



CAPTIONS:

5914 Rạp hát Đường Nhạc ở Tây An

5889 Trình tấu nhạc cụ cổ truyền đời Đường

5899 Vua Đường Minh Hoàng và Dương Qúy Phi

5902 Vũ khúc “Nghê Thường” do Dương Qúy Phi sáng tác

5896 Múa Rồng Hội Xuân

5910 Các diễn viên chụp chung với hai khán giả từ Los Angeles


Wednesday, August 3, 2016


CHƯƠNG 20

HOA THANH TRÌ Ở TÂY AN








Tọa lạc ở chân núi phiá Bắc của ngọn Ly Sơn (Mt. Lishan) trong huyện Lâm Ðồng (Lintong) tỉnh Thiểm Tây và cách Tây An 30 km (18.6 miles), Hoa Thành Trì là một quần thể cung điện được xây từ thời Ðường Minh Hoàng (Tang Xuan Zong) (năm 685-762) cạnh dòng suối nước nóng Hoa Thanh là nơi nghỉ mát của Dương Qúy Phi (Yang Qui Fei), một cung phi nhan sắc tuyệt vời mà Ðường Minh Hoàng rất sủng ái. Vì say mê người đẹp mà vua Ðường ca hát đàn múa suốt ngày, bỏ bê việc nước, khiến dân chúng lầm than, quốc gia lụn bại. Cuối cùng ông bị phản tướng An Lộc Sơn rượt chạy vào đất Thục, triều thần cùng bôn tẩu với ông buộc tội Dương Qúy Phi và anh em nàng thao túng gây nên thảm cảnh này. Không cứu nàng được, ông đành nuốt lệ để Dương Qúy Phi treo cổ trên cành cây bằng một dãy lụa trắng.



Rời khu lăng mộ Tần Thủy Hoàng đã 3 giờ chiều, xe đưa chúng tôi đến Hoa Thanh Trì cách đó không xa. Trước cổng tam quan dùng làm nhà bán và soát vé là bãi đậu xe, những xe buýt đậu hàng dài và du khách ngoại quốc, du khách nội địa tấp nập tới lui, đông vui như ngày hội. Trên cổng tam quan có bảng đề 3 chữ  “Hoa Thanh Chi” do nét bút tài hoa của nhà thư pháp Trung Hoa là Guo Moruo vẽ, du khách sẽ được chào đón bằng  hai cây tùng Cedar tàn rộng hình chóp nón. Qua khỏi cổng tam quan, du khách sẽ bắt gặp một bức tranh khổng lồ điêu khắc trên đá bạch ngọc diễn tả lại cảnh vua Ðường Minh Hoàng đang tiếp kiến Dương Qúy Phi trong buổi yến tiệc với những cung tần mỹ nữ đang quây quần đàn hát ca múa vui chơi. Bức tranh này do nhà danh họa Zhang Yiqian thích thú với chuyện tình của vua Ðường mà cảm tác năm 1986 và được người ta phóng to trên đá bạch ngọc thành một bức điêu khắc có kích thước chiều dài 9.15 mét và cao 3.6 mét.



Qua khỏi vài ngôi điện du khách sẽ đến một sân rộng nhìn ra toàn cảnh một hồ nước và bên kia hồ là cung điện tường tím mái vàng và phía xa nữa hậu cảnh là ngọn núi Ly Sơn dốc cao thẳng đứng xum xê cây lá. Hồ có tên là Cửu Long Hồ do người đào rộng 5,300 mét vuông là diện mạo chính yếu của Hoa Thanh Trì. Bên kia hồ là điện Hoa Thanh Cung (Feishuang Hall) ở phiá Bắc, điện Yichun và Chenxiang ở cánh Ðông và Tây cũng như  hành lang chín khúc và chiếc thuyền rồng bằng đá trắng. Ðiện Feishuang huy hoàng là chốn khuê phòng của Dương Quý Phi và Ðường Minh Hoàng. Cảnh nơi đây rất đẹp vì có sơn thủy, lầu các, hoa lá hữu tình lại thêm tượng Dương Qúy Phi, một trong bốn người đẹp Trung Hoa thời cổ, phô bày thân thể ngọc ngà đứng bên bờ hồ miệng cười mời gọi. Dương Quý Phi ở đây bằng bạch ngọc là một phụ nữ đứng tuổi có hơi đẩy đà da thịt, tóc dài được vấn lên và hững hờ một dãy lụa mõng che phần thân thể cần che. Người ta chụp hình nơi đây rất đông nhất là bức tượng Dương Quý Phi, cạnh bờ hồ lại có những hàng liễu rũ và những chậu hoa cúc vàng.



 Ði thêm một đoạn nữa về phiá Nam qua Thạch Long Thuyền du khách sẽ thấy khu hồ tắm hoàng gia, hiện nay chỉ còn lại 5 hồ là hồ Hoa Sen, hồ Haitang, hồ Shangshi, hồ Tinh Ðẩu và hồ Hoàng Tử. Hồ Tinh Ðẩu không mái che và bốn bề trống trải người ta cho rằng là nơi tắm của nàng Dương Qúy Phi. Không biết ngày xưa bể tắm nước nóng xa hoa lộng lẫy như thế nào nhưng bây giờ trông giống như một lỗ cống khô cạn đen ngòm dưới đáy! Cạnh bể tắm Dương Quý Phi là hồ tắm của vua Ðường Minh Hoàng lớn hơn hình hoa sen nên gọi là hồ Hoa Sen có nước nhưng cũng thấy đen ngòm nước đọng ao tù!



Cạnh đó phiá bên ngoài nơi một bể nước có hình hoa sen là vòi nước nóng phun lên dẫn từ trên suối xuống, người ta sắp hàng mua vé 1 yuan để được rữa tay, rữa mặt bằng nước suối nóng có khoáng chất dưỡng da và trị nhiều thứ bịnh. Ai vào rữa mặt cũng hớn hở vui cười, có người còn uống một ngụm. Có tiếng người nói: “Biết đâu suối nước này Dương Quý Phi tắm rồi xả ra? ” Ai nói gì thì nói thiên hạ vẫn nối đuôi vào rữa mặt!



Hoa Thanh Trì là cung nghỉ mát của vua Ðường Minh Hoàng và Dương Quý Phi. Ðường Minh Hoàng là tên mà người đương thời tặng cho vua Huyền Tôn vì triều đại của ông rất sáng chói, rực rỡ nhất của Trung Hoa về văn thơ, ca nhạc, điêu khắc, họa đều đua nhau phát triển trong khoảng 40 năm. Thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị được dịch ra khắp các ngôn ngữ, những nét chữ tài hoa, tươi mạnh trên các bức hoành, bức tranh, những tranh sơn thủy màu sắc nhã, nét thật rõ, những tượng nhỏ bằng ngọc thạch... được trưng bày trong các tàng cổ viện, các thư viện và được coi là những di sản quí báu của nhân loại, tiêu biểu cho văn minh và văn hóa Trung Hoa. Tục lệ Tết Trung Thu là do ông đặt ra sau một giấc chiêm bao mà ông cho rằng mình lên cung trăng, vào nguyệt điện gặp Hằng Nga và xem các tiên nữ ca múa khúc nghê thường.

 
Ông lên ngôi năm 713, ở ngôi được 43 năm, là một vị hoàng đế rất tài hoa, yêu tất cả cái gì đẹp, có nhiều nghệ sĩ tính, biết làm thơ, đặt ra ca nhạc, vũ múa nhưng tầm thường về chính trị, có phần nhu nhược nên không được gọi là minh quân. Nghệ sĩ tính đó làm cho đời ông về già thật bi đát, dân chúng lầm than, quốc gia điêu tàn, và nhà Đường suy luôn, để rồi sau cùng bị diệt. Huyền Tôn thời gian đầu ông siêng năng, trừ bỏ những tệ chính đời Võ hậu, Vi hậu và được vài vị đại thần có tài giúp đỡ như Diêu Sùng, Tống Cảnh. Họ khống chế bọn quá nhiều quyền hành trong triều đình và thường can gián ông và ông cũng chịu nghe lời họ. Nhưng rồi ông hóa ra chơi bời xa xỉ, tên hoạn quan Cao Lực Sĩ được ông sủng ái, nắm hết quyền hành trong cung. Ở triều đình thì ông tin dùng Lý Lâm Phủ, một kẻ vô sở bất vi, tìm cách đưa nàng Dương Ngọc Hoàn vào hầu ông. Ngọc Hoàn vốn là dâu của ông, là vợ Thọ Vương Mạo, con trai ông. Nàng có sắc đẹp, thông minh, được sủng ái nhất trong cung, làm cho ông say đắm, mắc tội loạn luân, nặng gần bằng tội của Cao Tôn. Người ta gọi nàng là Dương Quí Phi và chép đời nàng rất nhiều trong truyện và tuồng, người thì thương cho cái chết của nàng, người thì trách nàng gây ra tất cả những cảnh khổ ở cuối đời Huyền Tôn. Điều đó chỉ đúng một phần. Nàng đưa anh ruột, Dương Quốc Trung, vô triều đình làm hữu tướng, cùng với Lý Lâm Phủ quyết định mọi việc trong nước. Ba người em gái nàng, đều đẹp, lanh lợi, khôn khéo, với hai người em trai nàng đều được phong tước, sống một cách đế vương, có dinh thự, ngựa xe.


Thời đó bộ lạc Thổ Phồn mạnh lắm, từ đời Võ Hậu thường vào cướp phá biên giới, có khi xâm lấn nữa, triều đình phải chinh phạt nhiều năm, tốn kém khá nhiều. Một tướng có tài  cầm quân dẹp giặc là An Lộc Sơn (mẹ là người Đột Quyết, cha là người Hồ) nên được kiêm chức tiết độ sứ (võ quan giữ một miền ở biên cương) hai nơi. Lúc đó triều đình có hai phe, một phe thân Đột Quyết gồm họ Lý (họ nhà vua), một phe của giới sĩ tộc, chống lại phe trên. Lộc Sơn đứng về phe họ Lý, đúng hơn là muốn lợi dụng phe đó để mưu đồ riêng cho mình. Hắn xin về làm quan ở triều để gây thế lực. Hắn khéo phụng sự Lý Lâm Phủ và Dương Quí Phi, xin làm con nuôi Quí Phi, tự do ra vào trong cung cấm, có nhiều hành động không tốt. Dương Quốc Trung ngờ hắn có ý làm phản, tâu với Huyền Tôn, ông không nghe. Khi Lý Lâm Phủ chết, Dương Quốc Trung mưu mô gạt phe họ Lý đi mà nắm hết quyền hành, như vậy là chống với An Lộc Sơn. Lộc Sơn bèn cử binh làm phản, đem bộ lạc và quân Khiết Đan, tất cả 15 vạn, từ Phạm Dương (nay ở Tây Nam Bắc Kinh) kéo về Nam, không gặp một sự kháng cự nào cả (vì quân đội các châu quận sau một thế kỷ hòa bình không biết chiến đấu nữa) chiếm Hà Bắc, Hà Nam, hãm thành Lạc Dương (755) tự xưng là Yên đế (hoàng đế nước Yên). Một đạo quân của triều đình do Quách Tử Nghi (người Trung Hoa) và một đạo nữa do một tướng Đột Quyết cầm đầu xông ra chặn An Lộc Sơn; đạo quân của Quách thắng, còn đạo quân kia có nhiệm vụ bảo vệ Tây Kinh (Tràng An) thì thua, viên chỉ huy bị bắt. Lộc Sơn chiếm luôn được Tràng An.



Huyền Tôn, Dương Quí Phi, Dương Quốc Trung với 1.000 cấm binh phải bỏ kinh đô chạy trốn vào đất Thục, miền Tứ Xuyên. Thái tử chạy về phía Tây bắc Thiểm Tây. Đường vô Thục hiểm trở, bọn cấm binh chán nản, tới Mã Ngôi, tướng sĩ đều ta oán, không chịu đi nữa. Họ nổi loạn, giết Dương Quốc Trung và hai người em gái của Quí Phi, rồi hăng máu, đòi chém luôn cả Quí Phi nữa, cho rằng mọi sự tại nàng và anh em nàng hết. Huyền Tôn đứt ruột mà không thể cứu nàng được, đành để cấm binh buộc nàng phải tự treo cổ trên một cành cây bằng một tấm khăn lụa trắng. Thật là một bi kịch chưa từng thấy trong lịch sử, được Bạch Cư Dị chép lại trong bài Trường hận ca, và các văn nhân thời sau đưa lên sân khấu. Đoàn vua tôi nhà Đường lủi thủi tiến vô Thành Đô (Tứ Xuyên). Từ đó Huyền Tôn nhường ngôi cho con mà làm Thái Thượng Hoàng, sống âm thầm cho tới chết.
 
Thái tử lúc đó ở Thiểm Tây, lên nối ngôi, tức vua Túc Tôn, cùng với hai tiết độ sứ trung quân là Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật, luyện binh để dẹp giặc. Ông sai sứ mượn binh của nước Hồi Hột, sai Quách và Lý điều khiển. May sao, phía giặc chẳng bao lâu có một nội loạn: Lộc Sơn bị con là Khánh Tự giết, quân của Quách, Lý đại thắng, thừa thế thu phục lại được hai kinh đô Tràng An và Lạc Dương. Một tướng của giặc là Sử Tư Minh về hàng, Khánh Tự như cua mất càng, chạy trốn. Sử Tư Minh được Túc Tôn cho làm tiết độ sứ ở Phạm Dương. Lúc đó Khánh Tự thất thế, xin Tư Minh che chở cho, bị Tư Minh giết. Thấy thế của mình đã mạnh, Tư Minh tự xưng là hoàng đế nước Đại Yên, lại đem quân chiếm Lạc Dương, không bao lâu lại bị con là Triều Nghi giết.
Năm 762, Huyền Tôn và Túc Tôn đều chết cách nhau ít tháng. Quân cứu viện của Hồi Hột (toàn là kị binh) thắng được Triều Nghi, lấy lại Lạc Dương. Đại Tôn lên ngôi. Loạn An, Sử (tức An Lộc Sơn và Sử Tư Minh) chấm dứt. Chỉ trong có 7 năm (755-762) mà Trung Quốc bị tàn phá không tưởng tượng nổi. Sử chép dân số giảm đi tới hơn 2/3, tức 53 triệu xuống còn 17 triệu. (Tài liệu tham khảo từ Sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê).



Trên ngọn núi Ly Sơn cây cối um tùm có những hang động và một tòa lô cốt như tháp canh ngày xưa xây bằng đá đó là Pháo Hỏa Đài. Cũng tại nơi đây trước Đường Minh Hoàng hơn 1,500 năm, vào thời Đông Chu Liệt Quốc (thế kỷ thứ 8 trước Tây lịch), Chu Ưu Vương vua thứ 12 vì mê nàng Bao Tự bị rợ Khuyển Nhung ở phiá Tây vào chiếm kinh đô rồi giết. Tương truyền vào thời đó mỗi khi có một rợ nào đến tấn công thì quân canh sẽ nổi lửa trên Pháo Hảo Đài để các chư hầu gần đó tức thì đem binh về tiếp cứu. Bao Tự vì nhớ nhà nên nét mặt lúc nào cũng ủ rũ, U Vương muốn thấy nàng cười nên bày ra một kế là khi không nổi lửa lên trên Pháo Hỏa Đài, quân chư hầu vội vàng tới, thấy tình hình yên ổn biết là bị gạt, xấu hổ và bực mình quay về. Bao Tự thấy nét mặt thất vọng của họ mà cười lớn. U Vương thích lắm nụ cười Bao Tự. Đến khi quân Khuyển Nhung tấn công thật, ông ta nổi lửa lên thì không chư hầu nào tới cứu nữa! Cùng một nơi tại núi Ly Sơn này mà U Vương chết vì nụ cười Bao Tự và Đường Minh Hoàng phải trốn vào đất Thục vì quý phi họ Dương. Thật là những nhan sắc làm nghiêng thành đổ nước! Bài học sờ sờ trước mắt đó mà sau này nhiều người vẫn còn dẫm lên vết xe cũ!



Cũng tại Hoa Thanh Trì núi Ly Sơn này xảy ra một câu chuyện lịch sử đó là Biến Cố Tây An. Năm 1935 Nhật Bản chiếm gần hết miền Hoa Bắc nên dân chúng chỉ mong chính phủ Tưởng Giới Thạch đóng ở Nam Kinh và quân CS của Mao Trạch Đông đóng ở Diên An đừng chống nhau nữa mà hợp tác để chống quân Nhật. Trương Học Lương được Tưởng Giới Thạch phái lên đóng ở Tây An để bao vây quân CS. Trương thấy quân đội CS thay đổi khẩu hiệu “Diệt Quốc Dân Đảng” thành “Đoàn kết để diệt Nhật” hơn nữa thấy đoàn quân của họ ở Thiểm Tây, Cam Túc còn sống sót sau cuộc vạn lý trường chinh tinh thần rất lên cao hăng hái kháng Nhật. Trương Học Lương muốn thuyết phục Tưởng Giới Thạch nên đoàn kết với CS để chống Nhật. Tưởng không chịu và ngày 7-12-1936 Tưởng cùng vài viên tướng và 200 vệ binh bay tới Tây An để dò xét tình hình. Trương Học Lương thuyết phục Tưởng suốt 3 ngày mà không kết quả. Đêm 11 tháng 12 Trương dùng 170,000 quân để bắt cóc Tưởng Giới Thạch đang nghỉ đêm trong một ngôi chùa ở Tây An và vệ binh của ông ta bị giết sạch. Sáng ngày 12 Trương Học Lương đem Tưởng về giam trên núi Ly Sơn ở Hoa Thanh Trì. Tin đó làm náo động toàn quôc, người ta sợ ông bị giết khiến Trung Quốc lại có nội chiến nữa. Bà Tống Mỹ Linh bay lên Tây An để chịu chung số phận với chồng.



Tưởng bị giam 14 ngày. Trong thời gian đó Chu Ân Lai từ Diên An đến bàn tính với nhóm Trương Học Lương không nên giết Tưởng mà chỉ cần buộc Tưởng chấm dứt nội chiến để cùng nhau kháng Nhật, thả hết tù chíng trị, nhất là những tù binh CS. Tưởng đành phải hứa và họ thả ông ra. Ngày 26-12 hai vợ chồng Tưởng bay về Nam Kinh. Trương Học Lương nhận lỗi đã không giữ kỷ luật, sẵn sàng chịu tội và Tưởng đem Trương về giam ở Nam Kinh và đến 25 năm sau mới thả ở Đài Loan!



Một điểm đáng nhớ là nhà vệ sinh ở Hoa Thanh Trì mới xây lát bằng đá hoa cương sạch bóng, không một mùi hôi và bên ngoài nhà vệ sinh là cửa hàng đồ lưu niệm bày trí rất đẹp. Từ ngoài nhìn vào tưởng là cửa hàng hay một quán cà phê với bông hoa cây cảnh chứ không ngờ là nhà vệ sinh công cộng. Tôi bầu chọn đây là nhà vệ sinh sạch nhất trong chuyến du lịch Trung Quốc kỳ này. Nhìn lên núi Ly Sơn thấy những xe chạy bằng dây cáp lên xuống trên ngọn núi, có lẽ chở du khách lên thăm Pháo Hỏa Đài nơi Chu U Vương đốt lửa để nghe tiếng cười của Bao Tự hay lên thăm pháo đài nơi giam Tưởng Giới Thạch? Trước mặt tôi tượng đá Dương Quý Phi đứng bên bở hồ phô bày đường nét và miệng vẫn điểm một nụ cười cho hậu thế. 



CAPTIONS:

5847 Cửa vào Hoa Thanh Trì cung điện nghỉ mát của Đường Minh Hoàng và Dương Qúy Phi

5850 Lầu Hoa Thanh Cung phiá sau là núi Ly Sơn

5851 Bức điêu  khắc trên bạch ngọc diễn tả một tiệc cung đình

5861 Tượng Dương Qúy Phi đứng bên bờ hồ

5866 Rữa tay bằng nước suối nóng với giá 1 yuan

5869 Bể tắm ngày xưa của Dương Qúy Phi

CHƯƠNG 19

LĂNG MỘ TẦN THỦY HOÀNG Ở TÂY AN (PHẦN 2)








Khu Lăng Mộ Tần Thủy Hoàng (Qin Shi Huang) được xây vào năm 247 trước Công Nguyên ở vùng núi Ly Sơn (Leshan), huyện Lâm Ðồng (Lintong), tỉnh Thiểm Tây (Shaanxi). Sau khi đánh bại 6 nước, ông cho xây lăng mộ và chôn châu báu tịch thu đuợc ở đây. Theo tập tục tùy táng ông còn cho chôn thêm hàng ngàn tượng binh mã và tin rằng sau khi chết đi số binh mã đó sẽ theo hộ giá cho ông. Công việc xây lăng mộ kéo dài 36 năm với hàng trăm ngàn dân công là tù binh và nông dân. Tần Thủy Hoàng là một bạo chúa nhưng thống nhất được Trung Hoa, thống nhất chữ viết, đơn vị đo lường và xây dựng nhiều công trình vĩ đại trong đó có Vạn Lý Trường Thành.



Sau khi vào xem Hầm Số 1 là hầm lớn nhất trong 3 hầm chôn hàng ngàn tượng đất nung hình người, ngựa, chúng tôi theo cô Ngô Nghị là hướng dẫn viên du lịch qua khu rạp chiếu phim và viện bảo tàng. Rạp chiếu phim hình tròn và màn ảnh bên trên cũng tròn quay thành một vòng tròn 360 độ. Khán giả đứng giữa rạp xem phim phải xoay người hoặc ngoáy cổ mới xem được hết những hình ảnh được chiếu trên màn bạc. Ðầu tiên phim đưa khán giả từ con đường lớn rẽ vào khu lăng mộ với kiến trúc phong cảnh  hiện giờ, rồi những hầm chôn tượng binh mã và từ đó hình ảnh mờ dần đưa khán giả về thời nhà Tần xa xưa cách nay hơn 2,200. Ðạo quân bách chiến bách thắng của Tần Thủy Hoàng đánh bại lục quốc, xây kinh đô ở Hàm Dương và bắt đầu xây lăng mộ trong vùng Ly Sơn cây cối xanh tươi, phong cảnh tuyệt đẹp. Phim cho thấy hàng ngàn người đang đào bới, xây cất lăng mộ bằng gạch nung, những thân gỗ to lớn được ngựa kéo về. Người ta nắn tượng binh sĩ cao như người thật rồi đốt củi nung lên trong những hầm nung bằng đất khói bốc cao mờ mịt như khói đốt trên ngọn pháo hỏa đài khi có giặc kéo về. Rồi người ta xếp những tượng thành hàng ngay ngắn dưới hầm, những đạo quân tiền phong hướng về phương Ðông và quân hậu vệ đi sau mang cung nỏ. Từng những thùng châu báu được mang xuống hầm chôn và cửa xuống hầm được trám kín bằng gỗ và đất bùn trộn rơm trét vào. Rồi nước Tần đi vào suy vong, ngày tàn của bạo chúa đã tới, quân của Lưu Bang, Hạng Võ kéo về ngựa xe, binh lính càn quét Hàm Dương, đốt phá cung điện mà Tần đã cho xây hàng ngàn cái quanh khắp kinh thành. Quân sĩ của Hạng Võ khám phá ra được lăng mộ Tần Thủy Hoàng, phá cửa hầm tiến vào xô ngã những tượng đất nung để tìm những thùng châu báu. Lửa cháy khắp nơi, Hàm Dương hoang tàn những xác người còn khu lăng mộ ngổn ngang tượng đất nằm chổng gọng!



Phim dàn dựng vĩ đại, diễn viên hàng ngàn người với áo giáp, chiến bào, gươm đao, ngựa xe thời cổ làm khán giả rất hài lòng. Nhà nước Trung Quốc rất khôn khéo vừa móc được tiền du khách vừa quảng bá môt thời đại vàng son huy hoàng trong lịch sử nhà Tần xa xưa. Lịch sử phơi bày hết sự thật, ai bạo chúa, ai minh vương, người nào có công, người nào có tội sẽ được người đời phê phán. Tần Thủy Hoàng bạo chúa nhưng cũng để lại nhiều kỳ công, đối với người Trung Hoa hiện nay Mao Trạch Ðông cũng giống như Tần Thủy Hoàng sát hại hàng triệu người trong cải cách ruộng đất, cách mạng văn hóa nhưng đối với họ, Mao thống nhất được đất nước Trung Hoa quá bao la rộng lớn, quy về một mối một vùng đông dân nhất thế giới có quá nhiều dân tộc, tín ngưỡng, ngôn ngữ khác nhau. Ðưa đất nước Trung Hoa từ tình trạng bị ngoại bang xâu xé đến một nước có chủ quyền, bảo toàn được lãnh thổ mặc dù là do gặp được nhiều cơ may do tình hình ngẫu nhiên đưa tới. Thế chiến thứ 2 các cường quốc từng xâu xé Trung Hoa như Anh, Nga, Nhật bận tham chiến nên Mao Trạch Ðông cướp lấy thời cơ: khi Nhật bại trận bị Nga đem quân vào Mãn Châu giải giới, hồng quân của Mao theo sau quân Nga thu lấy vũ khí, máy bay, xe tăng và tiếp thu các vùng vừa giải phóng tạo danh tiếng vang lừng để sau đó dùng vũ khí và dư luận tốt mà đánh quân Tưởng Giới Thạch chạy ra Ðài Loan.



Chúng tôi bước sang Nhà Bảo Tàng trưng bày những tượng binh sĩ tiêu biểu đào lên được từ khu tùy táng, tượng những quan văn trong tư thế đứng hoặc qùy chầu, tượng binh sĩ mặc áo giáp đeo cung tên. Những cỗ xe ngựa thời đó có 2 bánh gỗ lớn, thùng xe làm bằng ván gỗ và mui khum hình mu rùa để che mưa. Xe được kéo bằng tượng 4 con ngựa đi song song với nhau và được nối kết bằng các thanh gỗ cũng như các sợi dây cương điều khiển ngựa. Nơi đây cũng trưng bày một ít châu báu được tìm thấy trong khu lăng mộ Tần Thủy Hoàng như tượng 2 con vịt bằng đồng. Phiá ngoài Nhà Bảo Tàng là các gian hàng bán các tượng giả sao chép, kích thước lớn nhỏ khác nhau cho du khách mua về để trưng bày làm kỷ niệm. Bán các món trang trí trong nhà, áo thêu, áo thun, áo ấm có in hình tượng binh mã, sách, dĩa DVD, bưu ảnh v.v...Nơi một quày phiá trên có treo ảnh thật lớn của ông già nông dân mặc áo sơ mi trắng, người tình cờ phát hiện được khung cửa vào khu chôn tượng khi ông ta đào giếng vào tháng 3 năm 1974. Thấy ông ta ngồi phiá dưới hình đang ngồi ký tên trên những cuốn sách khổ lớn in hình màu. Tôi đưa máy lên định chụp nhưng ông ta la lên phản đối có lẽ muốn phải trả tiền. Tôi hỏi cô hướng dẫn viên Ngô Nghị là “ Ông này bây giờ chắc trở thành triệu phú, giàu có lắm?”. Ngô Nghị cười trả lời: “Khá hơn lúc trước một chút vì được tuyển dụng làm...công nhân viên cho Nhà Bảo Tàng!” Công nhân viên thì chắc lương không khá, cao lắm là vài chục đô la mỗi tháng. Trong khi tôi tưởng ông ta có công phát hiện được cả một khu di tích lịch sử hơn 2,000 năm với hàng ngàn cổ vật chứng minh một thời đại huy hoàng của đất nước Trung Hoa và nay là một địa điểm du lịch hàng năm cả triệu người đến xem thì nhà nước cũng phải chia cho ông vài triệu đô la chứ đâu chỉ mướn ông làm công nhân viên, mỗi tháng trả vài chục sống qua ngày! Vì vậy ông bực bội không cho chụp hình là phải! Ông ký sách cho du khách là công việc ông làm cho nhà bảo tàng khi nhà bảo tàng bán sách, tuy nhiên một số du khách ngoại quốc nếu biết hoàn cảnh “bi đát” của ông cũng tặng ông tiền bồi dưỡng. Nhưng kẹt cho ông là du khách đa số cũng như tôi là nghĩ ông đã là triệu phú. Thật là có “tiếng” mà không có “miếng”! Bực là phải!



Ở Nhà Bảo Tàng ra thì đã trưa, tới giờ đi ăn và Ngô Nghị dẫn chúng tôi đến nhà hàng quốc doanh lớn nhất trong khu Tượng Binh Mã. Ðến nhà hàng Ngô Nghị bảo chúng tôi chờ bên ngoài và cô vào bên trong để lấy bàn. Một lúc cô trở ra cho biết vì cô gọi đặt chỗ trễ nên phải chờ mấy tiếng đồng hồ nữa mới có chỗ. Cô nói thôi đi nhà hàng khác và chúng tôi ra xe để đi đến một khu phố nghèo cũ kỹ cách đây vài cây số. Ðây là một tiệm ăn tư nhân có lẽ chuyên bán đồ chay hay sao mà các món ăn toàn là rau cải 10 món chỉ lưa thưa vài miếng thịt heo nhỏ! Ðây là bữa cơm nghèo nhất trong chuyến đi nhưng cũng là một kinh nghiệm cho Ngô Nghị vì qúa chủ quan không tính trước.



Ăn xong chúng tôi trở lại xem Hầm Chôn  Số 3 cách Hầm Số 1 xem hồi sáng khoảng 25 mét. Hầm này nhỏ nhất chỉ có 520 thước vuông và người ta tìm thấy có 68 tượng binh sĩ, 4 tượng ngựa và một cổ xe và không sắp đặt dàn quân theo trận đồ. Những tượng nơi đây mặt được tô nước sơn màu và áo giáp cũng vậy. Các nhà khảo cổ giám định rằng hầm này là bộ tham mưu chỉ huy cho binh sĩ ở hai hầm kia. Người ta còn tìm thấy ở đây những xương thú và sừng nai, có thể là những vật giết để tế lễ trong buổi chiều trước ngày ra trận. Hiện nay các nhà khảo cổ đang tiếp tục đào xới tại nơi đây.



Sau khi rời Hầm Số 3 chúng tôi sang Hầm Số 2 cách Hầm Số 1 20 mét về hướng Ðông. Hầm này rộng 6,000 mét vuông có hình chữ L chia ra 4 khu vuông. Nơi đây khai quật 1,000 tượng binh sĩ, 500 tượng ngựa và 89 cỗ xe bằng gỗ. Những con ngựa đang kéo xe hoặc đang có tượng người ngồi cỡi, hình dạng rất sống động. Trong khu vuông thứ nhất có 334 tượng lính bắn tên đứng thành 8 đội quân trang bị cung nỏ. Có đạo quân phía trước 160 người mặc áo giáp và trong tư thế qùy một chân che chắn cho đội quân thứ hai đứng phía sau nhắm bắn. Khu vuông thứ hai có 64 xe ngựa cũng chia làm 8 nhóm. Mỗi xe ngựa được điều khiển bởi một lính xạ thủ và được hộ tống bởi những người lính hai bên. Khu vuông thứ 3 có 19 cỗ xe ngựa và 100 binh lính chia ra làm 3 nhóm và xe ngưa đi trước. Nhóm này có lính làm nhiệm vụ truyền tin và những xạ thủ cung nỏ. Khu vuông thứ 3 ở về phiá Bắc của hầm có 3 đội quân gồm 124 người và ngựa, 6 cỗ xe, mỗi xe chở hai người một người điều khiển xe và một người chỉ đường. Những cỗ xe hầm này bị mục nát vì thời gian nhưng tượng lính nét mặt dữ dằn cầm cung nỏ trong tay. Nhiều tượng xe và người tại Hầm số 2 bị đổ nát, gảy bể làm nhiều mảnh và các nhà khảo cổ cho rằng bị quân sĩ của Hạng Võ đập phá xô ngã.



Về cái chết của Tần Thủy Hoàng, “Sử Trung Quốc” của học giả Nguyễn Hiến Lê đã viết: “Trong một cuộc kinh lý, Tần Thủy Hoàng đã bị Trương Lương (Tử Phòng) thuê võ sĩ đón đường ám sát hụt ở Bác Lãng Sa. Trong một cuộc kinh lý sau, năm 210 trước Công Nguyên, ông bị bệnh, chết ở dọc đường, người ta phải chở lén thi thể ông về Hàm Dương, rồi mới tuyên bố cho dân biết và chôn Thủy Hoàng trong một ngôi mộ đã xây sẵn ở Ly Sơn. Trong mộ chứa rất nhiều châu báu, có một bản đồ của một trăm con sông, trên đó sông Hoàng Hà, sông Dương Tử và biển Đông đều bằng thuỷ ngân. Hầm mộ ngày đêm đều thắp đèn đốt bằng dầu cá, một loại cá đặc biệt giống hình người (chú thích của người viết: có lẽ ông Nguyễn Hiến Lê dịch từ chữ “nhân ngư” thật ra là con hải sư (sea lion) là loài hải cẩu lớn). Quan tài hạ rồi, người ta nấu đồng để gắn phần mộ và đặt một cái máy để hễ có kẻ nào lén vào đào mả thì sẽ bị những mũi tên từ mọi chỗ phát ra tự động bắn vào. Tương truyền lăng đó do 70 vạn người xây cất trong nhiều năm.

Thủy Hoàng băng rồi, thừa tướng Lý Tư và hoạn quan Triệu Cao làm di chiếu giả, không lập thái tử Phù Tô mà lập thứ tử Hồ Hợi lên ngôi, tức Nhị Thế Hoàng Đế (Hoàng đế đời thứ nhì).

Nhị Thế cũng hà khắc, tàn nhẫn như cha, giết nhiều vương tử, đại thần. Lý Tư bị Triệu Cao ghét, dèm pha, Nhị Thế giết cả ba họ (họ cha, họ mẹ, họ vợ) của Lý. Sau Triệu Cao lại giết Nhị Thế (207 trước CN), lập con Phù Tô, tên Anh, lên thay. Vương tử Anh (hay Tử Anh) lên ngôi rồi giết Triệu Cao, tiếp theo là Tần mất nước. Nhà Tần trước sau chỉ được mười bốn năm, từ vua tới đại thần, không người nào không bất đắc kỳ tử. Thời của Pháp gia thật ngắn ngủi và hết sức bi thảm. Nhưng phải thừa nhận rằng họ có công thống nhất Trung Quốc



Thủy Hoàng vừa mới chết là các anh hùng ở thảo dã nổi lên. Chỉ trong vài tháng, có sáu cuộc nổi loạn, đáng kể là Trần Thắng ở đất Kỳ (An Huy ngày nay), một nông dân đầu tiên phất cờ khởi nghĩa, nhưng sớm thất bại, rồi tới Hạng Tịch (cũng gọi là Hạng Vũ) ở đất Ngô (Giang Tô) và Lưu Bang ở đất Bái (cũng trong tỉnh Giang Tô ngày nay);

Hạng Vũ là dòng dõi tướng nước Sở, Lưu Bang ở trong giới bình dân. Hạng Vũ không có học, nhưng có sức mạnh (nhấc nổi cái đỉnh nặng 500 cân), giỏi chiến thuật, đáng gọi là anh hùng. Lưu Bang cũng gần như vô học, làm đình trưởng (một chức nhỏ trong làng) cho Tần, tham tài, hiếu sắc, gặp thời loạn, thả một bọn tù, kết nạp được một số lưu manh và nông dân, lực lượng rất nhỏ, nhưng biết chiêu hiền đãi sĩ, may mắn được vài anh tài giúp đỡ: Tiêu Hà về việc tài chính (như tể tướng), Trương Lương làm mưu thần, mỗi ngày một mạnh lên.

Mới đầu Hạng Vũ và Lưu Bang đều lấy danh nghĩa là giúp một hậu duệ của vua Sở (Sở Hoài vương) để đánh Tần, hẹn với nhau ai vào được Hàm Dương (kinh đô Tần) trước thì được xưng vương, làm chủ Quan Trung (Tần). Lưu Bang vào được trước, vương tử Anh xin hàng. Nhà Tần chấm dứt. Lưu Bang nghe lời Trương Lương, vỗ về nhân dân, không cho quân lính cướp bóc đốt phá.

Nhưng Lưu Bang tự lượng sức yếu hơn Hạng Vũ nhiều (lúc đó Hạng Vũ đã tới Hàm Cốc, cửa ngõ phía đông của Tần), nên đã nhường cho Hạng Vũ vào Hàm Dương xưng vương. Vào Hàm Dương, Hạng Vũ không nghe lời can của Phạm Tăng, giết vương tử Anh, đốt cung điện nhà Tần, cung A Phòng lửa cháy ba tháng mới tắt, lại quật mộ Tần Thủy Hoàng lên để vơ vét vàng bạc châu báu.”



Trên đường về chúng tôi đi ngang ngọn đồi nơi có mộ chôn Tần Thủy Hoàng nhưng tới nay vẫn chưa đuợc đào lên. Nhà nước cho rằng thiếu kinh phí để đào và chưa biết cách bảo quản vì đào lên cần phải nghiên cứu trước kỹ thuật bảo quản không thôi khi gặp không khí các lớp sơn bên ngoài các tượng hay đồ vật sẽ phai màu rất nhanh. Nghĩa là cần tiền từ Liên Hiệp Quốc cấp để họ nghiên cứu vì đây là “di sản văn hóa toàn thế giới” chứ đâu phải chỉ riêng Trung Quốc mà bắt Trung Quốc phải chịu một mình! Nhiều lời đồn đại  cho là nhà nước không dám động đến mộ Tần Thủy Hoàng vì tin vào phong thủy, trong lịch sử Trung Hoa mấy ngàn năm luôn nội loạn và đất nước chia rẽ chỉ có hai thời kỳ đất nước được thống nhất là thời Tần Thủy Hoàng và hiện nay. Động đến mộ Tần Thủy Hoàng sợ Trung Quốc bạo loạn trở lại nhất là tình hình hiện nay cách biệt giàu nghèo, thành thị với nông thôn quá chênh lệch.



Ðiện ảnh Trung Quốc vừa tung ra cuốn phim “Hero” (Anh Hùng) do Trương Nghệ Mưu đạo diễn với các tài tử nổi tiếng như  Trương Mạn Ngọc, Lý Liên Kiệt, Lương Triều Vỹ thủ diễn các vai chính. “Anh Hùng” là một phim dã sử kiếm hiệp kỳ tình, lấy các âm mưu ám sát Tần Thủy Hoàng làm ý chính để xây dựng nên cốt truyện. Phim kể lại vào thời kỳ Chiến Quốc, trước khi diệt được 6 nước khác (Sở, Tấn, Hán, Chu, Triệu và Yên) Tần Thủy Hoàng (Trần Đạo Minh đóng) ngày đêm lo sợ có người mưu sát mình nhất là 3 tay kiếm võ công phi thường của nước Triệu là Chiết Kiếm (Lương Triều Vĩ ), Phi Tuyết (Trương Mạn Ngọc) và Trường Không (Ân Tử Đơn). Bỗng nhiên vua Tần được tin một hiệp sĩ Vô Danh (Lý Liên Kiệt) đã giết chết ba tay hiệp sĩ cự phách này. Mừng rỡ, vua Tần vời Vô Danh vào cung điện để tặng thưởng. Tại điện Vô Danh kể cho Tần Thủy Hoàng nghe diễn biến mưu cơ giết ba hiệp sĩ nước Triệu. Vô Danh kể là đã dùng kế ly gián, lợi dụng mối tình tay ba của ba người này để lần lượt khiến cho họ giết nhau. Cứ mỗi lần Vô Danh kể đến đoạn giết một hiệp sĩ thì lại được tiến gần đến Tần Thuỷ Hoàng thêm 10 bộ. Cuối cùng Vô Danh chỉ cách Tần Thuỷ Hoàng 10 bộ, để được vuaTần mời rượu. Nhưng với trí óc thông minh sắc bén, Tần Thủy Hoàng đã kịp nhìn thấy những kẻ hở của câu chuyện, và suy luận lại về cái chết của ba hiệp sĩ nước Triệu. Tần Thủy Hoàng nghĩ rằng các hiệp sĩ đã tự nguyện hy sinh tánh mạng, để Vô Danh có cơ hội vào cung điện mà ám sát vua Tần. Dù không có kiếm trong tay, nhưng một lúc bất ngờ Vô Danh tước được kiếm của chính Tần Thủy Hoàng một cách dễ dàng. Chỉ cần đâm một nhát nhưng Vô Danh lại không giết mà bỏ đi. Những cận thần của Tần Thủy Hoàng đứng bên ngoài thuyết phục Tần nếu không cho họ giết Vô Danh một ngày nào đó hắn ta sẽ giết Tần Thủy Hoàng và hàng ngàn mũi tên đã bắn vào Vô Danh khi anh ta bước ra khỏi thành trong khi vua Tần ngồi trên ngai nước mắt lưng tròng.



Qua phim “Hero” Trung Quốc muốn nói lên điều gì? Tại sao Vô Danh không giết Tần Thủy Hoàng? Nếu Tần Thủy Hoàng chết đi 6 nước cứ đánh nhau, đất nước loạn lạc, dân chúng khổ đau. Vua Tần tàn bạo nhưng ông ta tài ba bản lĩnh hơn những người khác, ông ta cần phải sống để thống nhất đất nước, quy giang sơn về một mối. Ðặng Tiểu Bình và những nhà lãnh đạo Trung Quốc hiện nay đều là nạn nhân của Mao Trạch Ðông trong thời Cách Mạng Văn Hóa, qua phim “Anh Hùng”  họ có thể diệt được Mao nhưng họ để Mao sống dù cho họ có thể chết như hiệp sĩ Vô Danh trong phim. Ðó cũng là lý do bức hình to lớn của Mao Trạch Ðông vẫn còn ngự trị ở Thiên An Môn và mồ Tần Thủy Hoàng không được động đến. Ðối với người Trung Hoa mộ chôn rất linh thiêng, mộ bị xâm phạm dòng họ người chết sẽ ly tan, tài sản sẽ tiêu tán.





CAPTIONS:

5796 Ông lão nông dân phát hiện ra hầm chôn tượng binh mã

5823 Hầm chôn tượng binh mã số 2

5824 Viện Bảo Tàng lăng mộ Tần Thủy Hoàng

5825  Những tượng đất nung được chôn cách nay 2,200 năm

5828 Cỗ xe ngựa tứ mã

5833 Xe ngựa thời Tần Thủy Hoàng







CHƯƠNG 18

LĂNG MỘ TẦN THỦY HOÀNG Ở TÂY AN (PHẦN 1)







Khu Lăng Mộ Tần Thủy Hoàng (Qin Shi Huang) được xây vào năm 247 trước Công Nguyên ở vùng núi Lệ Sơn (Leshan), huyện Lâm Ðồng (Lintong), tỉnh Thiểm Tây và cách Tây An 60 km về hướng Đông. Sau khi đánh bại 6 nước, Tần Thủy Hoàng cho xây lăng mộ và chôn châu báu tịch thu đuợc ở đây. Theo tập tục tùy táng ông còn cho chôn thêm hàng ngàn tượng binh mã và tin rằng sau khi chết đi số binh mã đó sẽ theo hộ giá cho ông ở thế giới bên kia. Công việc xây lăng mộ kéo dài 36 năm với 700 trăm ngàn dân công là tù binh và nông dân. Tần Thủy Hoàng là một bạo chúa nhưng thống nhất được Trung Hoa, thống nhất chữ viết, đơn vị đo lường và xây dựng nhiều công trình vĩ đại trong đó có Vạn Lý Trường Thành.



Hôm nay là ngày thứ sáu 14-10-2005 chuyến Hoa du đúng một tuần kể từ ngày rời Los Angeles nhưng tưởng chừng như cả tháng vì mỗi ngày đi quá nhiều nơi, mỗi đêm thường ngủ một chỗ khác nhau. Nửa đêm tỉnh giấc không biết mình đang ở đâu? Cali lao động miệt mài, sáng xách xe ra xa lộ theo dòng đời trôi nổi hay Bắc Kinh mâm cao cỗ đầy, dựa ngữa ghế mây, ngao du sơn thủy, đêm về mõi chân có người...đấm bóp! Hoa Kỳ là chốn kiếm tiền và Hoa du là dịp tiêu tiền, tiền tệ có luân lưu thì kinh tế mới phát triển. Ngày nay du khách không những là sứ giả hòa bình giúp cho các quốc gia hiểu biết cảm thông lẫn nhau mà du khách còn là những chiến sĩ trong mặt trận “diễn tién hòa bình” gieo rắc tinh thần tự do dân chủ đến những chế độ độc tài bưng bít. Nước nào mở cửa với thế giới tự do, chào đón du khách nước ngoài thì kinh tế nước đó sẽ phát triển, dân trí lên cao và tự do dân chủ sẽ đến. Ngày trước Ðặng Tiểu Bình khi bị nhóm giáo điều chỉ trích về chủ trương mở cửa đã nói: “Khi mở cửa nhà thế nào ruồi muỗi cũng bay vào!”



Sau buổi ăn sáng với cháo trắng cà phê xong, chúng tôi lại đi dạo một vòng trên những đường phố quanh khách sạn để chờ giờ tập họp lên đường, xem buổi sáng đường phố cố đô Tây An sinh hoạt ra sao? Trong những con hẻm tráng đá ghồ ghề có những quán cóc như ở VN, các công tư chức dựng xe đạp ăn vội tô mì đen trước khi đến sở làm. Hướng dẫn viên Ngô Nghị đến, mang tên đàn ông nhưng là một cô gái trẻ, khác với hôm qua mặc váy đầm, hôm nay cô mặc quần jean đen áo lạnh cùng màu gọn gàng vì sẽ đi rất nhiều nơi. Cô cho biết sáng sớm nên đi xem lăng mộ Tần Thủy Hoàng vì trưa một chút sẽ đông du khách phải sắp hàng lấy vé rất mất thời giờ. Chúng tôi lên đường, xe chạy về hướng Ðông ra ngoại ô ngang qua một làng đại học với những cao ốc làm giãng đường và những ngôi nhà chung cư làm đại học xá cho sinh viên. Cô cho biết các trường đại học ở Tây An rất nổi tiếng và học phí khá cao, sinh viên phải đi làm thêm để có thu nhập mà sinh sống và đóng học phí vì đa số đều tự lập, sống riêng không phụ thuộc vào cha mẹ.



Chúng tôi đi vào một vùng có nhiều gian hàng bán trái cây địa phương như dưa hấu, hồng, lê, táo, dâu tây...Ngô Nghị cho biết đất đai vùng Tây An rất màu mỡ khác với Hà Nam. Kế đến là những cửa tiệm bày bán những tượng binh lính, quan viên, ngựa xe cỡ cao như người thật là chúng tôi biết gần tới khu lăng mộ Tần Thủy Hoàng rồi. Phiá Nam có một dãy núi khá cao gọi là Lệ Sơn. Bên tay phải một khu đồi đất rộng màu xanh cây cối và trên ngọn đồi thấp có một ngôi miếu mạo và du khách đi bộ lên đó rất đông. Ngô Nghị cho biết đó là khu mộ chôn Tần Thủy Hoàng nhưng chưa biết đích xác ngôi mộ nằm ở đâu trong khu đồi rộng đó mặc dù người ta đã khai quật được những bức tường như hoàng thành và nhiều báu vật nhưng chưa đào được mộ chôn Tần Thủy Hoàng. Tiếp tục đi về hướng Ðông 3 km nữa chúng tôi đến khu hầm tùy táng chôn hàng ngàn tượng binh mã bằng đất nung, di tích này do một nông dân khi đào giếng tình cờ khám phá và khu này tên gọi tiếng Anh là “Museum of Qin Terra Cotta Warriors and Horses”.Thời cổ có tục tùy táng là khi vua chết người ta chôn sống theo nhà vua, hoàng hậu, thứ phi và một số quan quân cận vệ để theo hầu nhà vua bên kia thế giới. Ðến đời nhà Tần (221-206 BC) và Hán (208 BC-220 AD) bãi bỏ tục chôn sống mà chôn “nhọng” tức tượng người bằng đất nung (như lăng mộ Tần Thủy Hoàng tại đây). Nhà Minh phục hồi lại chế độ chôn sống, Chu Nguyên Chương chôn sống 38 người, Chu Ðệ chôn 16 người mà chúng tôi đã đi xem Thập Tam Lăng Nhà Minh ở Bắc Kinh.



Tần Thủy Hoàng (Qin Shi Huang), từng biết ông ta là một bạo chúa đốt sách, giết hại nho sĩ nhưng chưa rõ lắm về thân thế, sự nghiệp và cuộc đời Tần Thủy Hoàng. Ðọc lịch sử Trung Quốc được biết Tần Thủy Hoàng không phải họ Tần mà là họ Triệu, tên thật là Triệu Chính là con của Lã Bất Vi một thương buôn giàu có, chuyên buôn ngựa và buôn luôn...cả vua, có hầu thiếp tài sắc vẹn toàn là nàng Triệu Cơ. Khi biết Triệu Cơ mang thai, Lã Bất Vi đem dâng nàng cho một thái tử của nhà Tần. Thái tử đó sau về nước Tần làm vua, phong cho Lã làm tể tướng. Sau nàng hầu Triệu Cơ sinh con trai, vua Tần cho nối ngôi, tức Tần Thủy Hoàng. Hồi Tần Thủy Hoàng còn nhỏ, Lã nhiếp chính cố vấn cho vua. Ðó là lần đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa, một thứ dân con buôn được cầm quyền nhiếp chính, nhờ ông ta cũng có học chút ít. Lớn lên Tần Thủy Hoàng bãi chức ông ta mà dùng Lý Tư. Trong thời làm tể tướng, Lã cho các môn khách học sĩ chung nhau soạn bộ Lã Thị Xuân Thu, gần như một tư tưởng, học thuật cuối thời Chiến Quốc.


Theo Sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê: “Thời Chiến Quốc mỗi miền có một ngôn ngữ, người nước Yên không hiểu tiếng nước Sở, người nước Triệu không biết tiếng nước Việt mà ngày nay cũng còn tình trạng người Quảng Đông ít học không hiểu nổi tiếng Bắc Kinh. Một viên quan Tần phải đi cai trị một nước khác, không hiểu ngôn ngữ nước đó thì khó làm tròn nhiệm vụ được. Ngay đến chữ viết cũng vậy. Những gì thiên tử nhà Chu thông báo cho các chư hầu đều viết bằng thứ chữ đại triện, nhưng thứ chữ đó không phổ biến và kẻ sĩ các nước thường dùng một lối chữ khác. Vì vậy tể tướng Lý Tư nghĩ tới việc thống nhất ngôn ngữ và văn tự. Chúng ta không biết ông thống nhất ngôn ngữ ra sao nhưng về văn tự thì ông giản dị hoá lối đại triện, quy định một lối viết khác gọi là tiểu triện và lối này thành thông dụng trong toàn cõi Trung Hoa. Ông lại thống nhất các dụng cụ cân lường đo đếm (cả nông cụ, cày bừa...) như vậy để dễ tính thuế và thu thuế. Thuế trả bằng lúa, phải dùng thuyền, xe chở lại các quận và kinh đô. Cho nên lại phải thống nhất khoảng cách giữa hai bánh xe (xe đồng quy) nếu không thì những xe quá lớn vào những đường nhỏ không được.

Quan trọng nhất là thống nhất tư tưởng. Về điểm này hai pháp gia Lý Tư và Hàn Phi chịu ảnh hưởng của Mặc Tử. Mặc Tử trước kia đã chủ trương "thượng đồng", nghĩa là bắt dân phải tán đồng lẽ phải với người trên, phải cùng một quan niệm tốt xấu với người trên. Không ai được có chủ trương riêng khác với chính sách của triều đình. Tần Thủy Hoàng ghét nhất bọn nho sĩ, triết gia mở trường tư dạy đạo lý, chỉ trích chiến tranh và hình pháp tàn bạo. Tần chỉ muốn nhồi nặn dân chúng cho thành dễ bảo, có kỷ luật. Tư do tư tưởng, tự do ngôn luận là tội nặng nhất. Tứ thư và ngũ kinh của đạo Nho bị coi là cực kỳ phản động vì khiến dân nhớ tiếc trật tự cũ của chế độ phong kiến. Năm 213 trước công nguyên, theo đề nghị của Lý Tư, Thủy Hoàng ra lệnh "đốt sách và chôn nho": đốt hết các bản tứ thư, ngũ kinh và bách gia chư tử trong dân gian, chỉ giữ lại một bản tàng trữ trong thư viện của triều đình. Các bộ sử của lục quốc cũng phải đốt hêt, chỉ được giữ những sách về kỹ thuật, như sách thuốc, sách trồng trọt, sách bói... Kẻ nào không tuân lệnh mà lén lút giữ thì bị kết tội là phản quốc. Có người phải giấu sách vào trong tưởng, có người lại ráng học thuộc lòng thư và kinh để truyền miệng lại đời sau. Năm chục năm sau (đời Hán) lệnh triệt thư đó mới bãi bỏ, không ai còn có thể nhớ đúng tứ thư, ngũ kinh cả. Còn bản cất trong thư viện triều đình thì đã bị đốt theo với Hàm Dương trong cuộc cách mạng của nông dân cuối đời Tần. Do đó mà sách đời Tiên Tần mất rất nhiều, cuốn nào còn lại thì cũng bị thêm bớt, sửa chữa, khó tin được là chính xác, lại thêm nạn nguỵ thư, người đời sau viết mà mượn tên người đời trước, để cho tác phẩm của mình có giá trị, như bộ Quản Tử chẳng hạn. Số nhà Nho bị chôn sống ở Hàm Dương là 460 người. Sau mỗi ngày một đông, đều bị đày ra ngoài biển. Các trường tư bị dẹp hết. Dân muốn học thì phải học các quan (bác sĩ) của triều đình, mà chỉ được dạy cho mỗi môn là pháp luật của quốc gia.”



Lịch sử luôn tái diễn, sau này Mao Trạch Đông cũng bắt chước Tần Thủy Hoàng phát động cuộc cách mạng văn hóa, đốt sách, giết trí thức đồng thời thanh trừng nội bộ, tiêu diệt những người chống lại ông ta. Sau đó chư hầu của Mao ở Cam Bốt là Pon Pốt năm 1975 cũng tàn sát hàng triệu đồng bào của mình.



Tần Thủy Hoàng sau khi gồm thâu lục quốc, diệt nhà Châu lên ngôi Hoàng đế, lập nên một công nghiệp chưa từng có, chưa từng thực hiện được ở các triều Đại vương, Bá tước. Công nghiệp của người họ Triệu này đã xây dựng trên xương, nước mắt và vô số tài sản và sinh mạng của nhân dân Trung Hoa thời đó. Được Lý Tư một tướng quân mưu lược, Tần Thủy Hoàng thực hiện sự thống nhất và thay đổi toàn bộ cơ chế nước Tàu. Tần Thủy Hoàng cai trị dân dưới một nền tảng pháp trị khắc nghiệt của Lý Tư, gom tất cả vũ khí và kho báu của thiên hạ về kho của nhà Tần, bắt tất cả gái đẹp của lục quốc về Hàm Dương. Xử “Thiếu” bọn tù phạm 70 vạn người về xây lăng mộ ở núi Lệ Sơn và cung A Phòng chứa đựng kho tàng, chôn sống cung tần mỹ nữ và tất cả đoàn người xây lăng mộ để giữ bí mật. So với việc xây Vạn Lý Trường Thành thì đây là một công trình lớn trong hàng ngàn công trình khác của nhà bạo chúa nổi tiếng này.


Lúc về già, Tần Thủy Hoàng thích đạo Lão, xưng mình là “Chân Nhân” cho người ra đảo tìm tiên kiếm thuốc trường sinh bất tử. Cao vọng tột bậc, xưng hiệu là Thủy Hoàng là ông vua đầu tiên trong thiên hạ, rồi truyền ngôi cho con là Nhị Thế, Tam Thế... cho đến vạn vạn Thế...Tuy nhiên khi Thủy Hoàng vừa tạ thế trên đường đi tuần thú, thì công nghiệp đó đã bắt đầu sụp đổ một cách nhanh chóng. Một cuộc cách mạng do nông dân khởi nghĩa lạnh tụ là Trần Thắng, rồi đến Sở Bá Vương Hạng Võ, Hán Vương Lưu Bang cùng với các bậc anh tài như Phạm Tăng, Trương Lương, Tiêu Hà Phàn Khoái và Hàn Tín v.v... nổi lên diệt bạo Tần. Khi Hạng Võ mang chư hầu về tranh công của Lưu Bang là người đã vào cung điện Hàm Dương trước, Hạng Võ lên làm Tây Sở Bá Vương bèn tìm kho báu của nhà Tần, cho quật mộ Tần Thủy Hoàng và đốt cung A Phòng lửa cháy 3 tháng trường mới tắt!



Khu bảo tàng tượng binh mã Tần Thủy Hoàng rộng lớn, sân cảnh được chăm sóc cẩn thận, cây cối xanh tươi và các kiến trúc có vẻ tân tiến. Mới 9 giờ sáng mà du khách da trắng đã xuất hiện từng đoàn. Sau khi qua cổng soát vé là đến khoảng sân rộng và kiến trúc đầu tiên là Hầm Chôn Số 1 (Pit No.1) có mái che hình cánh cung, chiều dài nằm theo hướng Ðông Tây là 230 mét, chiều ngang 62 mét theo hướng Nam Bắc. Kiến trúc rất hiện đại có sườn nhà bằng sắt chống đỡ mái nhà rộng mà không cần một cây cột nào ở giữa. Chúng tôi vào bên trong, từ nơi cửa vào nhìn xuống là hàng ngàn tượng đất nung màu xám tro ửng hồng có kích thước bằng người thật (to hơn người VN) đứng thành từng hàng trong những nhóm cách nhau là những mô đất chưa đào. Những tượng gồm có quan văn, binh lính và ngựa không tượng nào giống tượng nào, đuợc nắn một cách nghệ thuật, có nét mặt thư thái, vui tươi. Ba nhóm tượng mặt hướng về hướng Ðông là những đội quân tiền phong (thời kỳ ấy các triều đại đều muốn mở mang đất đai về hướng Ðông là hướng ra biển). Mỗi nhóm có 70 người, tổng số là 210 quân sĩ. Ðội quân hậu vệ đi cuối ở về cánh Tây trang bị bằng cung nỏ. Tổng số tượng ở Hầm Chôn Số 1 trên 6,000 tượng đứng trên nền nhà bằng gạch nung đen cách mặt đất 5 mét. Hầm chôn tượng có nóc phiá trên bằng gỗ và đất. Có 5 cửa đường dốc xuống hầm và những cửa này có khung bằng gỗ. Ngày xưa sau khi chôn tượng xong, hầm chôn hoàn tất người ta đã trám cửa kín lại và phủ đất lên trên tất cả nóc hầm. Hầm Chôn Số 1 rộng 14,260 feet vuông, rộng nhất trong 3 hầm và được xây hơn 200 năm trước công nguyên tức cách nay 2,200 năm.


CAPTIONS:

5794 Cổng vào khu hầm tùy táng gần mộ Tần Thủy Hoàng

5795 Tượng binh sĩ mặc áo giáp trong thế qùy

5797 Tòa nhà mái vòng cung che hầm chôn số 1

5801 Các tượng binh lính bằng đất được chôn cách nay 2,200 năm

5802 Quang cảnh trong khu hầm chôn số 1 có trên 6,000 tượng