Pages

Powered By Blogger

Monday, March 27, 2017


HỆ THỐNG XE ĐIỆN NGẦM Ở LUÂN ĐÔN

Bài và ảnh: TRỊNH HẢO TÂM







Rời hoàng cung Buckingham Palace xe buýt hãng du lịch Trafalgar đưa chúng tôi về trụ sở chính của Trafalgar nằm trên đường Bressenden Place ở phía Bắc và rất gần nhà ga xe điện Victoria Station. Đến đây thì coi như chương trình tham quan thành phố Luân Đôn (London City Tour) kết thúc và sau đó ai muốn đi thêm các Tour nhiệm ý (Optional Tour) phải trả tiền thêm, còn không thì tự do dong ruỗi. Bà hướng dẫn viên du lịch Diana chào từ giã và tiếp tục dẫn những người theo Tour nhiệm ý đi thăm lâu đài Windsor. Tuy chia tay nhiều người còn nán lại ở văn phòng du lịch để lấy bản đồ, chương trình những chuyến du lịch khác và cũng để trao đổi kinh nghiệm sau một ngày thăm thú ở Luân Đôn với những chuyện vui khi lần đầu đến một thành phố lạ như không biết mở nước phòng tắm trong khách sạn, đi mua sắm, ăn uống giá cả trên trời và đi xe điện ngầm lộn tàu, lạc tùm lum v.v...Nhiều chuyện cười ra nước mắt nhưng không thể kéo dài câu chuyện được vì chỉ còn một buổi chiều và một đêm ở Luân Đôn, ngày mai mạnh ai nấy bắt đầu nhập Tour của mình. Gia đình chúng tôi ba người phải tìm một nơi nào để ăn trưa nên kéo nhau đi về hướng nhà ga Victoria.



NHÀ GA VICTORIA Ở LUÂN ĐÔN



Nhà ga có 3 tầng lầu kiến trúc khá xưa xây bằng gạch đỏ, dĩ nhiên là phải có đồng hồ thật lớn gắn trên cao. Ngày xưa không có đồng hồ đeo tay nên cần xem giờ ngưòi ta phải tìm các đồng hồ công cộng ở chợ búa, nhà thờ, bưu điện, nhà ga. Nhà ga Victoria lớn và đông khách nhất ở Luân Đôn sau khi nhà ga Waterloo đóng cửa ngưng hoạt động vì trang bị qúa xưa lỗi thời cho những đoàn tàu cao tốc. Năm 2007 nhà ga Victoria này đón đến 66 triệu lượt hành khách. Ga Victoria về xe điện chia ra hai khu: Khu phía Đông thuộc tuyến đường Chatham Line với các sân ga (platform) từ số 1 đến 8 là đầu tuyến đường từ Luân Đôn đi thành phố Kent và khu phía Tây tuyến đường Brighton Line với các sân ga số 9 đến 19 để đi về thành phố Surrey và Sussex kể cả đi phi trường Gatwick (phi trường thứ 2 ở Luân Đôn sau phi trường Heathrow) và Brighton. Nhà ga hoạt động từ năm 1862 đến đầu thế kỷ 20 được xây lại và hoàn tất năm 1908 với kiến trúc hiện nay. Năm 1980 sửa lại khu thương mại bên trong nhà ga (Victoria Place) với các quán bán thức ăn như Burger King, Starbucks Coffee như ta thấy hiện nay. Bước vào bên trong thấy nhà ga thật lớn, trần cao lợp kính trong nên ánh sáng mặt trời lùa vào, hàng quán bán buôn nhộn nhịp, người đi tấp nập. Lướt qua các tiệm bán thức ăn chỉ thấy các món ăn liền như hotdog, hamburger, fish and chips nên chúng tôi trở ra ngoài tìm món nào khá hơn fast food và cũng muốn vào nhà hàng để xem ẩm thực nước Anh thế nào?



Chúng tôi trở ra con đường Victoria Street, đây là con đường lớn đi về hướng tháp đồng hồ Big Ben. Hai bên đường là những dãy phố lầu với tiệm buôn, nhà hàng, quán cà phê tấp nập khách hàng. Đi ngang qua rạp hát Victoria Palace là một rạp hát cổ hoạt động từ năm 1911 có 1,550 ghế. Đặc biệt mái rạp có thể đóng mở đuợc bằng cách trượt lên nhau (sliding roof) giúp bên trong rạp có thoáng khí nhất là lúc rạp đông người ngột ngạt với khói thuốc hút. Ở Luân Đôn tôi thấy nhiều kiến trúc có loại mái nhà trượt như vậy và họ làm mái bằng nhựa plastic trong vừa nhẹ, vừa lấy được ánh sáng mặt trời khỏi tốn điện thắp đèn.



NHÀ HÀNG Ở LUÂN ĐÔN



Chúng tôi vào một khu thương xá ở hướng Bắc nhà ga với những cửa hiệu bán buôn lẻ. Đi qua nhiều nhà hàng, đặc biệt luật lệ ở đây bắt buộc nhà hàng phải dán thực đơn ở bên ngoài để thực khách biết có những món gì và giá cả ra sao trước khi vào. Nhà hàng trong thương xá mới xây tương đối lịch sự, giá món ăn khá đắt, mỗi món trung bình cũng khoảng 20 pound (40 USD). Vốn họ hàng với ông Trùm Sò nên tôi nhẩm tính với giá tiền này ở Bolsa ăn được gia đình 4 người! Cuối cùng cũng phải vào một nhà hàng có lối trang trí Mễ Tây Cơ, thực đơn có một số món ăn Mễ nhưng vẫn có các món người Anh thường ăn. Các món truyền thống của người Anh là thịt bò quay (roast) hay heo hoặc trừu ăn với khoai tây nướng hay chiên. Họ cũng thường ăn dồi heo (ham) luộc hoặc chiên. Mỗi món ăn chính thường đuợc trang trí với chút rau cải như đậu que, cải bông xanh hoặc trắng, cà rốt, dưa leo, cà chua v.v...Món nổi tiếng ở Anh là món “fish and chips” là cá lăn bột chiên và khoai tây chiên ăn với muối và...dấm chua. Món này thông dụng nhất để mang đi (bên Mỹ gọi là “to go” nhưng ở Anh gọi là “carry out”!)



Trong nhà hàng ăn này cũng khá đông khách, nhân viên phục vụ là các thanh niên và thiếu nữ trẻ đều bận rộn. Người lấy order cho bàn chúng tôi là một anh chàng giống như người Ấn Độ rất vui vẻ nhiệt tình. Tôi hỏi thì chàng ta nói là người Nepal. Tôi gọi món Beefsteak và thấy bàn bên cạnh người ta có dĩa bánh mì Pháp nướng bơ vàng và sốt cà đỏ, củ hành bên trên, đang đói nên thấy rất hấp dẫn. Anh ta nói bánh mì phải kêu riêng chứ không đi chung với thịt bò! Tôi gọi bánh mì nhưng một lúc sau anh ta bưng ra một dĩa với vài lát bánh mì Pháp không có bơ hay cà gì cả mà chỉ có một chén nhỏ dầu olive. Bánh mì chấm dầu olive ăn theo lối Địa Trung Hải nghe nói rất tốt cho sức khỏe nhưng tôi chưa ăn bao giờ. Tôi nhờ anh ta đổi cho bánh mì có bơ. Nhìn vào thực đơn thấy giá bánh mì không với dầu olive là 3 đồng bảng Anh (pound) và bánh mì bơ sốt cà là 4 pound. Chỉ 4 miếng bánh mì nhỏ mà đến 8 đô la! Món Beefsteak được dọn ra dĩa không to như ở Mỹ và thịt được sắc vuông vuông như thịt bò lúc lắc, bên cạnh là khoai tây chiên cũng sắc như vậy. Trong thực đơn món này là 15 pound (30 USD) nhưng ăn không được no, trong khi bên Mỹ thì dĩa Beefsteak ở các nhà hàng như Coco, Denny’s nhiều khi ăn không hết, bánh mì lại không tính tiền và muốn bao nhiêu cũng được! Thật tình ở xứ Ăng lê này cái gì cũng mắc mỏ, chắc là đồng lương phải cao dân chúng mới sống nổi.



ĐI XE ĐIỆN NGẦM



Ăn trưa xong chúng tôi định bụng phải đi thăm thú nhiều nơi ở thành phố Luân Đôn này, chứ chẳng lẽ về khách sạn ngủ? Kêu taxi (có xe đen kiểu xưa và xe vàng kiểu mới) thì rất đắt nên tôi định bắt chước người Luân Đôn đi xe điện ngầm. Trước nhà ga Victoria có cầu thang dẫn xuống ga xe điện ngầm. Hệ thống xe điện ngầm ở Luân Đôn gọi là “Underground” hay nhiều người gọi là “Tube” vì đường xe như cái ống có tiết diện hình bán nguyệt. Bên trên mỗi nhà ga xe điện ngầm đều có tấm bảng vẽ dấu hiệu vòng tròn đỏ với một gạch ngang màu xanh lục và chữ “London Underground”. Ga xe điện ngầm Victoria cũng là ga nhộn nhịp nhất Luân Đôn. Có 3 tuyến đường quan trọng chạy ngang qua là các tuyến Circle line, District line và Victoria line nối được với đường xe trên mặt đất National Rail vì nhà ga Victoria nằm ngay bên trên. Ga xe điện ngầm Victoria là một trong những nhà ga xe điện ngầm đầu tiên của Luân Đôn và cả thế giới, hoạt động từ năm 1868. Năm 2007 có 76 triệu hành khách sử dụng nhà ga này. Nhà ga xây cách nay 140 năm hiện qúa tải với số người hàng ngày lên xuống qúa đông, nguy hiễm nhất là khi đám đông chen lấn trên thềm ga, có người té xuống đường tàu (năm qua 2007 một sinh viên Việt Nam thiệt mạng tại Luân Đôn, có lẽ là án mạng vì kỳ thị chủng tộc). Vì vậy ga này có hệ thống an toàn khi dưới ga qúa đông người thi cửa xuống ga đóng lại, chỉ cho người lên mà thôi. Hiện có kế hoạch nâng cấp và cải tiến nhà ga (thêm ngõ lên xuống ở phía đường Bressenden Place) dự định hoàn tất năm 2014.



Chúng tôi đi xuống nhà ga mua vé, tiện lợi và tiết kiệm nhất là mua vé có gía trị nguyên ngày, lên xuống bao nhiêu chuyến xe cũng được. Không biết giá vé là bao nhiêu cũng như làm biếng đọc các bảng hướng dẫn, thấy có quày chỉ dẫn và bán vé (information and ticket) với một ông đội kết, mang kính ngồi trong đó. Tôi đến hỏi và mua mỗi người một vé (tôi quên mất giá vé, dường như là 6 hay 7 pound gì đó). Giá này chỉ đi được trong phạm vi vùng 1 (Zone 1) là trung tâm Luân Đôn. Tôi thấy chỉ cần đi trong vùng 1 vì các di tích lịch sử cũng nằm trong trung tâm thành phố mà thôi. Hệ thống London Underground chia ra 6 vùng bao phủ hầu hết 32 “Quận” của Đại Đô Thị Luân Đôn (Greater London) và các vùng ngoại ô như Essex, Hertfordshire và Buckinghamshire với 275 nhà ga, tổng chiều dài 400 km (250 miles) đường sắt là hệ thống xe điện ngầm có đường tàu dài nhất thế giới. Tuy nhiên phân nửa đường tàu ngầm lại nằm trên mặt đất nhất là những vùng ngoại ô. Nằm sâu nhất dưới mặt đất là ga Hampstead, phải đi xuống sâu 181 feet trong khi cạn nhất là ga Westminster, nóc đường hầm chỉ cách mặt đất 8 feet. Hệ thống xe điện ngầm ở Luân Đôn bắt đầu hoạt động từ ngày 10 Tháng Giêng 1863 do hãng Metropolitan Railway khai thác. Hiện nay hệ thống có tất cả 11 tuyến đường, năm 2007 mở thêm tuyến 12 là East London line nhưng đã ngưng để xây thêm và chuyển giao cho hãng London Overground sẽ mở lại vào năm 2010. Cũng nên biết là vùng phía Đông Luân Đôn là khu dân nghèo, nhiều dân da màu. Người dân Luân Đôn không cần phải sắm xe hơi, đi đâu chỉ cần xe điện ngầm và các phương tiện giao thông công cộng khác như xe buýt, xe “tram” là xe điện chạy trên mặt đất hoặc đi tàu buýt chạy trên sông Thames. Giá xăng ở Luân Đôn rất đắt khoảng 1 pound 1 lít (tức khoảng 8 USD 1 gallon) nhưng người Luân Đôn vẫn phớt tỉnh Ăng lê trong khi giá xăng ở Cali lên 4.5 USD 1 gallon là dân Mỹ đã kêu ca om sòm!



Chúng tôi định đi xem Tower Bridge là cây cầu có 2 tháp bên trên, kỳ quan này nằm cạnh Tower of London tức hoàng thành Luân Đôn ngày xưa. Đây là vùng Luân Đôn cũ có từ thời đế quốc La Mã cách nay hai ngàn năm cách ga Victoria, Westminster khoảng 5 km về hướng Đông nằm cạnh sông Thames. Tìm trong bản đồ hệ thống xe điện ngầm thấy hoàng thành Luân Đôn gần ga Tower Hill và muốn đến ga đó phải đi tuyến xe District hoặc Circle và cách Victoria 6 ga. Tôi chọn tuyến District và nhìn bảng chỉ dẫn xem bến ga (platform) tuyến đó nằm ở đâu? Đến bến đậu của tuyến District còn phải tìm bến nào đi về hướng Đông để khỏi đi nhầm hướng ngược lại. Thường họ ghi hướng đường tàu là Nam Bắc hay Đông Tây, gặp tuyến đường không đúng 4 hướng chính thì họ ghi tên nhà ga cuối tuyến đó, nhìn trong bản đồ tuyến District ga cuối cùng hướng Đông là ga Upminster. Trong xe trên trần cũng có bản đồ tuyến xe đang đi và khi tàu tới ga nào, tên của ga đó vẽ to rất dễ thấy, để hành khách biết mình đang đi đến đâu và còn mấy ga nữa là đến ga mình xuống xe. Đại khái là đi xe điện ngầm ở thành phố lạ là phải có bản đồ để mình chọn đúng tuyến đường và đúng ga mình xuống. Bản đồ hệ thống xe điện ngầm có thể lấy miễn phí ở nhiều nơi hay trong Internet cũng có.



Chúng tôi đến bến chờ xe điện tới. Khoảng 5 phút thì có đoàn tàu chạy tới, cửa mở, chờ cho người xuống hết thì mình lên. Ở Luân Đôn thấy hành khách chờ lên xe không có sắp hàng trong khi bên Nhật là phải sắp hàng. Lên xe không có ghế trống chúng tôi phải đứng và nắm những dây thòng lọng nhưng khi tàu chạy gần tới ga kế là Westminster thì có một cô gái xuống và cô ta ra hiệu nhường ghế cho tôi chắc là vì...thấy tôi đẹp lão! Lúc đứng, trên xe đông người, bên cạnh là một thanh niên da đen, anh ta nói với tôi là hãy cẩn thận coi chừng bị móc túi. Trước đó tôi cảm thấy túi quần sau hình như có bàn tay nào đó làm bộ đụng, rờ vào nhưng tôi đã nhanh lấy tay giữ túi quần. Dám anh ta lắm chứ ai nữa? Vụ này tôi đã đề phòng trước nên tiền bạc để trong nhiều túi khác nhau, mỗi nơi một ít, túi sau mà anh ta sờ nắn nhìn thấy cộm nhưng bên trong chỉ có bản đồ và mấy coupon giãm giá!



Vì là hệ thống xe điện ngầm xưa nhất trên thế giới nên London Underground có những vấn đề và khuyết điểm như: toa xe điện nhỏ hẹp hơn các nước khác, dưới nhà ga đôi khi rất nóng nực tháng Hè có thể lên đến 100 độ F (38 độ C), nhiều nhà ga không có nhà vệ sinh hay có nhưng phải trả tiền, khoảng cách giữa thềm ga và sàn xe nhiều khi rất xa, nguy hiểm cho trẻ con và người tàn tật có thể lọt xuống đường rây, giá vé cao nhất so sánh với các thành phố khác. Nhiều khi sửa chữa, sân ga và đuờng tàu bị đóng, nên khi xuống nhà ga phải xem có bảng trắng thông báo điều gì không? Biết cách sử dụng xe điện ngầm thì di chuyển trong thành phố Luân Đôn rất nhanh, dễ dàng và không tốn nhiều tiền. Bây giờ di chuyển ở Luân Đôn tôi không còn ngán nữa mà dễ như cơm sườn, đi đâu cũng tới! Tôi cảm thấy mình...sành điệu như người Luân Đôn thứ thiệt mặc dù không có áo đuôi tôm và nón Charlot!

HOÀNG CUNG BUCKINGHAM Ở LUÂN ĐÔN

Bài và ảnh: TRỊNH HẢO TÂM







Cung điện Buckingham là hoàng cung chính thức của hoàng gia Anh ở Luân Đôn đồng thời cũng là nơi diễn ra những nghi lễ có tính cách quốc gia, những tiệc tiếp tân và cũng là địa điểm thu hút khách du lịch mỗi khi tới Luân Đôn. Công trường rộng lớn trước hoàng cung là nơi dân chúng tập trung mỗi khi có biến cố trọng đại và hàng ngày du khách cũng tập trung nơi đây để xem ngự lâm quân đổi gác vào lúc 11 giờ 30.



Ngày thứ nhì ở Luân Đôn là ngày thứ bảy 3 tháng Năm 2008, buổi sáng chúng tôi được đưa đi tham quan thành phố và đã viếng qua các di tích lịch sử như cung điện Westminster, tu viện Westminster Abbey, công viên Hyde, cung điện Kensington. Sau đó lên xe đi về phía hoàng cung Buckingham nhưng vì trước hoàng cung không thể đậu xe nên chúng tôi xuống xe ở khu St. James về hướng Đông Bắc hoàng cung và cách 15 phút đi bộ. Nơi đây có cung điện St. James, trước khi xây điện Buckingham cung điện St. James một thời cũng là hoàng cung. Từ khi thu giang sơn về một mối, qua một ngàn năm triều đình Anh quốc đã chọn những cung điện sau đây làm hoàng cung:



Palace of Westminster (1049-1530)

Palace of Whitehall (1530-1698)

St. James Palace (1702-1837)

Buckingham Palace (1837-?)



Hiện nay Thái Tử Charles cùng vợ mới (nhưng là bồ cũ) là Camilla cư ngụ tại đây, phía sau là ngôi nhà Clarence House trước đây mẹ của nữ hoàng Elizabeth II là Hoàng Hậu Queen Elizabeth, The Queen Mother (1900-2002) cư ngụ cho tới khi bà qua đời năm 2002 thọ 101 tuổi! Chồng của bà là vua George IV (gọi nữ hoàng Victoria bằng bà cố) làm vua từ 1936 đến 1952 thì băng hà và con gái lớn là công chúa Elizabeth II lên nối ngôi cha cho đến nay. So với các cung điện khác điện St. James khá khiêm nhường và hiện nay ngoài cổng chính chỉ có một lính gác. Bà Diana hướng dẫn viên của đoàn chúng tôi ở Luân Đôn khi đi ngang qua còn hỏi thăm, nói chuyện chơi với anh lính này! Anh này mặc quân phục thường, không có áo đỏ, nón lông đen nên chắc không phải là ngự lâm quân của nữ hoàng. Ngự lâm quân khi gác rất nghiêm chỉnh, ruồi bu trên mặt còn không đuổi được.



Chúng tôi tiếp tục đi về hướng Nam gặp đại lộ có tên The Mall chạy theo hướng Đông Tây, phía Đông là khải hoàn môn Admiralty Arch và đầu phía Tây là hoàng cung Buckingham Palace. Hai bên đại lộ The Mall là công viên cỏ xanh mượt và hàng cây thẳng tắp hai bên đường. Dân chúng và du khách đứng dọc theo hai bên đại lộ rất đông để chờ xem phiên đổi gác của các toán ngự lâm quân vào lúc 11 giờ 30.



NGỰ LÂM QUÂN ĐỔI GÁC



Mới 10 giờ 45 nghe tiếng quân nhạc rộn ràng từ hướng khải hoàn môn vọng về. Khi đoàn quân nhạc tới gần hóa ra không phải đoàn quân Anh Cát Lợi mà là đoàn quân nhạc...Mã Lai với quân phục màu trắng, đội nón Ấn Độ và ngoài quần dài còn quấn thêm xà rông ngắn. Được biết trong những năm gần đây, đội quân canh gác hoàng cung không nhất thiết phải là quân Anh mà còn có thể là quân đội các nước trong khối Thịnh Vượng Chung (Commonwealth). Đoàn quân Mã Lai hôm nay là toán nhận ca gác mới còn 2 toán mãn ca gác một toán xuất phát từ phía điện St. James Palace và một toán khác từ dãy nhà Wellington Barracks ở phía trước hoàng cung. Hai toán mãn ca gác đều là ngự lâm quân Anh đồng phục đại lễ áo đỏ quần đen và đội nón lông đen to tròn có tên là nón da gấu (Bearskins). Nón trông có vẻ nặng nề nhưng chỉ nặng 665 gram có trưng bày trong Guards Museum cạnh hoàng cung và mọi người đến xem có thể đội thử.



Ba toán quân gặp nhau trước cổng hoàng cung với hai đoàn quân nhạc, kỵ binh cỡi ngựa, nghi thức long trọng với nhiều thao tác quân đội mà ở xa chúng tôi nhìn không rõ và cũng không nhớ được hết các động tác. Ba toán ngự lâm quân này bàn giao ca gác trước hoàng cung rồi đoàn quân Mã Lai chia hai toán tiến về địa điểm gác là điện St James Palace và hoàng cung Buckingham. Dân chúng và du khách xem đen ngẹt, vỗ tay tán thưởng và bấm máy hình liên tục.



Trong mùa Hè từ tháng 4 đến tháng 7 mỗi ngày đều có nghi thức đổi ca gác vào lúc 11 giờ 30 nhưng du khách muốn xem nên đến sớm từ 9 giờ 30 để chọn vị trí tốt để quay phim, chụp hình. Từ tháng 8 đến tháng 4 là tháng mùa Đông, cách khoảng một ngày mới đổi ca gác. Có tháng ngày lẻ, có tháng ngày chẳng, muốn biết chính xác lịch trình nên vào trang mạng www.changing-the-guard.com . Không phải chỉ ở cung điện Buckingham mới có nghi thức đổi gác mà ở điện Windsor cũng có diễn nghi thức này.



Chúng tôi theo đoàn người đi về phía hoàng cung. Trước hoàng cung Buckingham là một quảng trường lớn, mùa Xuân hoa nở rực rỡ. Giữa quảng trường là đài tưởng niệm nữ hoàng Victoria xây năm 1911 bởi điêu khắc gia Sir Thomas Brock gồm tượng bà ngồi bằng đá trắng, bên trên là tượng thiên thần thếp vàng rất uy nghi lộng lẫy. Cung điện Buckingham nằm sau một hàng rào cao bằng song sắt với cánh cổng không lớn lắm. Cung điện là một kiến trúc 3 tầng đơn giản nhưng uy nghi, hòa hợp giữa nét tân thời và cổ kính. Phía trước cung điện là hai công viên Green Park và St. James Park mở cửa cho công chúng vào chơi. Phía sau là Buckingham Palace Gardens như là vườn thượng uyển kín cổng cao tường, rào lại với những gai sắt tua tủa. Hôm qua đi bên ngoài tôi có hỏi anh chàng tài xế xe buýt thì anh ta nói đã nhiều lần có người xâm nhập vào hoàng cung bằng cách leo rào! Tuy nhiên mỗi năm vào tháng Tám và Chín, hoàng cung mở cửa cho công chúng vào xem State Rooms là các đại sảnh trưng bày bộ sưu tầm nghệ thuật hoàng gia (Royal Art Collections). Giờ mở cửa từ 9 giờ 30 cho đến 4 giờ 30 chiều. 



LỊCH SỬ CUNG ĐIỆN BUCKINGHAM



Ngôi nhà đầu tiên ở đây do công tước vùng Buckingham tên John Sheffield xây năm 1705 như một nhà nghỉ mát vùng nông thôn. Vua George III vốn là bạn của công tước mua lại ngôi nhà cho vợ mình vào năm 1761 và nhờ William Chambers sửa chữa nới rộng thêm và ông đặt tên là “ngôi nhà của Hoàng Hậu”. Đến năm 1826 người kế vị là vua George IV bắt đầu trùng tu và biến ngôi nhà thành hoàng cung để gia đình nhà vua ở. Người cháu gái gọi vua George IV bằng chú là Victoria lên ngôi năm 1837 chính thức dùng cung điện Buckingham làm hoàng cung. Triều đại Victoria là triều đại huy hoàng nhất nước Anh vì kinh tế phát triển và Anh quốc bành trướng thuộc địa khắp năm châu. Năm 1850 bà cho đại trùng tu cung điện và xây thêm cánh kiến trúc phía Đông bao gồm một sảnh đường khiêu vũ rộng 40 mét. Tiền diện rộng lớn của hoàng cung nhìn về đại lộ The Mall như chúng ta thấy ngày nay được xây vào năm 1913 dưới triều vua George V do kiến trúc sư Aston Webb thiết kế và xây cất.



Theo ấn bản năm 1999 của tập sách in bởi Royal Collection Department cho biết cung điện Buckingham có tất cả 19 đại sảnh tiếp tân, 52 phòng ngủ chính, 188 phòng ngủ của nhân viên làm việc, 92 văn phòng và 78 phòng tắm và vệ sinh. Số nhân viên phục vụ trong cung điện là 450 người, hàng năm chi phí một ngân khoản của quốc gia là 40 triệu đồng bảng Anh (pound) nhưng báo chí đối lập cho rằng chi phí cao hơn nhiều, có thể gấp đôi lấy từ “qũy đen” của hoàng gia thu được từ du khách, các buổi tiếp tân gây qũy v.v...Hiện nay cung điện Buckingham là nơi cư ngụ chính thức của nữ hoàng Elizabeth II và chồng là hoàng tế Philip. Thái tử Charles, người em gái kế là công chúa Ann, hoàng tử Andrew và hoàng tử Edward không cư ngụ tại cung điện Buckingham.



NỮ HOÀNG ELIZABETH II



Chủ nhân hiện nay của cung điện Buckingham là nữ hoàng Elizabeth II, bà tên thật là Elizabeth Alexandra Mary sinh ngày 21 tháng Tư 1926 là vua đương tại vị của nước Anh và 16 quốc gia trong khối Thịnh Vượng Anh như Canada, Australia, New Zealand, Jamaica, Barbados, Bahamas, Grenada, Papua New Guinea, quần đảo Solomon v.v...Tổng cộng dân số các nước này hơn 129 triệu người. Khi bà mới sinh ra, ông nội của bà là vua George V đang tại vị và bà đứng hạng thứ 3 nối ngôi sau người bác và cha của bà. Ai cũng nghĩ rằng ngôi vua khó đến với bà vì người bác sẽ có vợ và có con trai. Đầu năm 1936 ông nội của bà là vua George V băng hà, bác của bà đăng quang lên làm vua lấy niên hiệu là Edward VIII nhưng ông này là một dân chơi, đa tình đa cảm quen với rất nhiều phụ nữ đã có chồng trong đó có bà Wallis Simpson là người Mỹ đã ly dị chông. Vua đòi cưới bà này nhưng triều đình không chịu nhất là Thủ Tướng Anh nhất định đòi từ chức nếu vua lấy bà Mỹ này! Rốt cục vua từ chức bỏ ngai vàng để theo tiếng gọi con tim. Người kế vị là cha của nữ hoàng Elizabeth II lên ngôi lấy niên hiệu là George VI vào cuối năm 1936. Ông này lại không có con trai, chỉ có 2 người con gái, ngoài Elizabeth còn người em gái của bà là công chúa Margaret.



Năm bà 13 tuổi Thế Chiến Thứ Nhất bùng nổ, bà và người em là công chúa Margaret bỏ điện Buckingham mà di tản về lâu đài Windsor. Triều đình khuyên nên đem 2 công chúa lánh nạn ở British Columbia, Canada nhưng bà mẹ là hoàng hậu cho rằng: “Hai đứa trẻ không thể nào đi nếu không có tôi đi theo mà tôi không thể nào rời xa nhà vua và nhà vua cũng không thể nào rời nước Anh!” Năm 1940 công chúa Elizabeth bắt đầu nói trên đài phát thanh BBC trong chương trình “Giờ Thiếu Nhi” để nói chuyện với những trẻ em di tản. Công chúa cũng đã gặp hoàng tử Philip năm nàng mới 13 tuổi và yêu ông này, bắt đầu từ đó nàng viết thư cho hoàng tử trong lúc hoàng tử đang phục vụ trong lực lượng Hải quân hoàng gia. Năm 1945 khi tròn 18 tuổi công chúa Elizabeth xin vua cha cho nàng gia nhập quân đội trong lực lượng Nữ Quân Nhân và nàng học để trở thành tài xế quân xa. Năm 1947 Elizabeth kết hôn với hoàng tử Philip tước hiệu Duke of Edinburgh vốn là hoàng tử của Hy Lạp và cũng là hoàng tử Đan Mạch. Ông này có họ hàng với Elizabeth (anh em họ xa) vì cũng là hậu duệ của nữ hoàng Victoria (nữ hoàng Victoria mai mối để các con cháu của mình kết hôn với hoàng gia các nước Âu châu nên hoàng tử Philip là hoàng tử 2 nước). Sau khi thành hôn Elizabeth và chồng cư ngụ trong ngôi nhà Clarence House phía sau điện St. James Palace, bà cũng theo chồng di chuyển ở nhiều nơi vì ông này phục vụ trong Hải quân.



Năm 1952 phụ vương là vua George VI qua đời vì bệnh ung thư phổi, bà lên ngôi lấy hiệu là Elizabeth II. Lễ đăng quang diễn ra vào ngày 2 tháng Sáu 1953 tại nhà thờ Westminster Abbey, tính đến nay (2008) là 56 năm chỉ thua bà cố 4 đời là nữ hoàng Victoria (1819-1901) trên ngôi trị vì gần 64 năm! Bà là người kín đáo, khôn khéo nhưng không kém cứng rắn trong chính trị. Bà giữ kỹ luật triều đình chặt chẽ, ít hé lộ những quan điểm để công chúng biết (như vấn đề tham gia gởi quân sang Iraq). Không khi nào chịu cho báo chí phỏng vấn nhưng mỗi ngày bỏ ra 3 tiếng đồng hồ để đọc các văn bản và báo chí. Mỗi tuần đều có cuộc họp riêng với Thủ Tướng Anh và suốt nửa thế kỷ làm vua, bà đã làm việc với 11 vị Thủ Tướng. Sở thích cá nhân của nữ hoàng là đua ngựa, nhiếp ảnh và nuôi chó.



Tài sản riêng của nữ hoàng theo tạp chí Forbes ước lượng khoảng 280 triệu bảng Anh (khoảng 560 triệu USD) cùng một số bất động sản và cổ phần khó định đuợc giá. Bộ sưu tập nghệ thuật của hoàng gia (Royal Art Collection) trị giá ít nhất cũng 10 tỷ bảng Anh nhưng là tài sản quốc gia phải trao lại cho những người kế vị.



Nữ hoàng Elizabeth II có 4 người con là thái tử Charles (sinh năm 1948), công chúa Anne (1950), hoàng tử Andrew (1960), hoàng tử Edward (1964) và 8 cháu nội ngoại. Thái tử Charles sẽ kế vị bà, đã có 2 đời vợ là công nương Diana và Camilla, có với Diana 2 con trai là William và Harry (bà Camilla cũng có con riêng với chồng trước). Công chúa Anne đã từng ly dị và kết hôn lần thứ hai, có 2 người con (1 trai, 1 gái). Công chúa Anne khi mới sinh đứng hạng 3 nối ngôi (khi mẹ chưa lên ngôi), nay tụt xuống hạng 10. Hoàng tử Andrew từng thành hôn và ly dị với Sarah Ferguson có 2 con gái là Beatrice (sinh năm 1988) và Eugenie (1990). Andrew đứng hạng 4 và Beatrice hạng 5, Eugenie hạng 6 nối ngôi. Hoàng tử út hết là Edward (hạng 7) cưới Sophie Jomes năm 1999 hiện có 2con (1 trai và 1 gái đứng thứ 8 và 9).



Hiện nữ hoàng Elizabeth tuy lớn tuổi nhưng sức khoẻ còn tốt và không có dấu hiệu cho thấy bà thoái vị muốn về hưu mặc dù thái tử Charles đã 60 luôn luôn sẵn sàng để lên ngôi. Năm bà tròn 80 theo cuộc thăm dò thì đa số dân nước Anh muốn bà ở ngôi vị cho đến khi qua đời. Năm 2007 bà và hoàng tế Philip công du Hoa Kỳ đánh dấu 400 năm người Anh sang định cư đầu tiên ở thành phố Jamestown thuộc bang Virginia. Hiện bà cùng chồng là hoàng tế Philip sống ở hoàng cung Buckingham trung tâm Luân Đôn. Những ngày có sự hiện diện của bà thì lá cờ nước Anh được treo trên cột cờ trên nóc tòa nhà. Hôm nay lá cờ Anh quốc có trên cột cờ nhưng ủ rũ vì trời lặng gió chứng tỏ bà có trong cung. Tôi làm bộ hỏi bà Diana: “Hôm nay nữ hoàng có ra gặp chúng ta không?” Bà trả lời lơ lửng: “Không chừng?”

Friday, March 24, 2017




CUNG ĐIỆN KENSINGTON Ở LUÂN ĐÔN

Bài và ảnh: TRỊNH HẢO TÂM



Luân Đôn là thành phố có lịch sử trải dài hai ngàn năm và qua nhiều triều đại vua chúa nên thành phố có rất nhiều cung điện, thành quách từng là nơi các vì vua, nữ hoàng làm việc và cư ngụ. Trong những ngày ở Luân Đôn tôi có dịp viếng thăm nhiều nơi trong đó có cung điện Kensington nơi công nương Diana đã từng cư ngụ. Ngày nay du khách mỗi khi đến thăm cung điện Kensington đều tưởng nhớ đến dáng dấp mỹ miều của công nương và nơi đây mặc dù là một phần của hoàng cung nhưng không ai ở chỉ làm nhà bảo tàng trưng bày những y phục của nàng cũng như di vật của nữ hoàng Victoria.



CUNG ĐIỆN KENSINGTON



Sau khi xe buýt đưa chúng tôi vòng quanh Hyde Park và Kensington Gardens, xe dừng lại trước thính đường Royal Albert Hall ở phía Nam Kensington Gardens. Chúng tôi vào vườn Kensington Gardens bằng cửa Nam có tên là Queen Gate. Buổi sáng sớm ngày thứ Bảy 4 tháng Năm 2008 trong công viên còn hơi sương lạnh nhưng cũng có nhiều người vào công viên dẫn chó đi dạo hay chuẩn bị cho một buổi picnic họp mặt nào đó. Cây cối nơi đây phần nhiều là những cây miền ôn đới, miên Nam Cali không có, rất xanh tươi và toàn những cây cao lớn đang trổ hoa mơn mởn đầy nhựa sống. Phía Tây vườn Kensington là một tòa nhà cổ kính, bà hướng dẫn viên du lịch Diana cho biết đó là cung điện Kensington đã từng là hoàng cung từ thế kỷ 17  là nơi nhiều ông hoàng, bà chúa đã sinh ra và lớn lên nơi đây trong đó có nữ hoàng danh tiếng Victoria, nữ hoàng Mary (bà nội của nữ hoàng Elizabeth II đương nhiệm) được sinh ra tại đây năm 1867. Gần đây nhất là nơi cư ngụ của Công Nương Diana khi nàng về làm dâu triều đình (1981) và cũng nơi đây nàng sống những ngày cô đơn tẻ lạnh cho đến khi bị tai nạn qua đời ở Paris năm 1997.



Lịch sử lâu đài Kensington được bắt đầu từ năm 1689 khi vua William III vì bị bịnh không muốn sống ở London không khí bụi bậm nên mua lại ngôi nhà từ ông Nottingham. Nhà vua truyền cho ông Christopher Wren sửa ngôi nhà thành cung điện và lấy thêm 100 mẫu đất của công viên Hyde Park bên cạnh làm vườn cây quanh nhà. Đến đời hoàng hậu Caroline vợ vua George II bà cho đào thêm hồ nước Round Pound ở phía Đông sau cung điện và một hồ nước lớn khác là Long Water trong khu công viên Hyde Park. Nữ hoàng Victoria được sinh ra tại cung điện Kensington năm 1819 và lớn lên tại đây cho đến khi lên làm vua năm 18 tuổi (1837). Bà kết hôn năm 1840 với anh họ mình là hoàng tử Albert I. Sau khi ông này qua đời năm 1861, bà thương nhớ ông nên đã cho xây Đài Tưởng Niệm Albert (Albert Memorial) ở phía Đông Nam cung điện và hoàn tất năm 1876. Đài cao 180 feet bên trong có tượng Albert I thếp vàng nguy nghiêm lộng lẫy. Bà cũng cho xây thêm khu vườn hoa theo kiểu Ý Đại Lợi bên cạnh cung điện.



CÔNG NƯƠNG DIANA



Theo những người cư ngụ phía ngoài cung điện Kensington kể lại ngày trước họ thường thấy công nương Diana dẫn 2 con là hoàng tử William và Harry đi học hoặc chạy chơi trong vườn. Sau hôn lễ năm 1981, Thái Tử Charles và Diana cư ngụ trong hai apartments số 8 và 9 liền nhau. Sau khi ly dị công nương Diana vẫn cư ngụ tại đây cùng hai con là William và Harry là 2 hoàng tử đứng thứ hạng số 2 và 3 nối ngôi vua nước Anh. Diana tên thật là Diana Frances Spencer có tước hiệu triều đình là Princess of Wales sinh ngày 1 tháng Bảy 1961 vốn dòng họ vua chúa nước Anh (nàng là hậu duệ của vua Charles II). Nàng kết hôn với Thái Tử Charles, tước hiệu Prince of Wales (người sẽ kế vị ngai vàng) vào ngày 29 tháng Bảy 1981 tại nhà thờ St. Paul vì có nhiều ghế ngồi hơn nhà thờ Westminster Abbey là nơi thường cử hành quan hôn tang tế những nhân vật thuộc hoàng gia. Cuối thập niên 1980 hôn nhân giữa hai người có dấu hiệu rạn nứt. Qua bạn bè và báo chí cả hai than phiền và đổ lỗi cho nhau về nguyên nhân đưa đến cuộc sống không hạnh phúc này. Diana cho rằng một người thứ ba là Camilla Parker Bowles đã phá vỡ hôn nhân của hai người. Trước kia vào những năm 1970 Camilla vốn là người tình của Thái tử Charles nhưng triều đình không tán thành vì cô này theo đạo Công Giáo La Mã trong khi triều đình muốn chọn vợ cho Thái Tử phải là người theo Anh giáo, dòng dõi triều đình và nhất là phải còn...trinh tiết cho tới khi kết hôn. Vì vậy hoàng gia đã chọn Diana làm hoàng hậu tương lai của nước Anh.



Diana và Thái Tử Charles ly thân vào cuối năm 1992. Trong khi nàng đổ lỗi cho Camilla phá vỡ hạnh phúc hai người thì vào tháng Mười 1993 trong một lá thư viết cho một người bạn, Diana cho rằng chồng nàng đang yêu một người đàn bà khác là Tiggy Legge Bourke và muốn cưới cô này? Trước đó ít lâu Diana cũng thú nhận trên chương trình truyền hình Panorama là vì cô đơn không hạnh phúc nên nàng cũng có cuộc tình riêng với anh chàng dạy...cỡi ngựa Jonathan Dimbleby. Sau những sóng gió lời qua tiếng lại hai người chính thức ly dị vào ngày 28 tháng Tám 1996 và Diana nhận tiền cấp dưỡng một lần là 17 triệu Bảng Anh. Trước đây khi là vợ Thái Tử Charles nàng có tước hiệu là “Her Royal Highness Princess of Wales”, bây giờ nàng chỉ còn là “Diana, Princess of Wales” mà thôi vì sẽ không là hoàng hậu, nàng vẫn là mẹ của hai hoàng đế tương lai nước Anh và nàng vẫn sống trong apartments ở cung điện Kensington. Hai con trai của Diana là William và Henry (Harry) thuỡ nhỏ đi học ở trường thuộc khu thượng lưu Notting Hill gần nhà sau đó sống với cha và học nội trú. Sau khi ly dị, Diana hoạt động cho hội Hồng Thập Tự trong công tác tháo gỡ mìn (land mines) trên những vùng có chiến tranh như ở Phi Châu, Campuchia và những hoạt động từ thiện khác nữa. Vì những hoạt động nhân đạo này nàng nhận được giải Nobel Hòa Bình năm 1997.



Đêm 31 tháng Tám 1997 Diana tử nạn xe cộ trong đường hầm ở Pont de l’Alma cùng với bạn trai là Dodi Al-Fayed, con của nhà tỉ phú Ai Cập chủ thương xá sang trọng Harrods ở Luân Đôn và khách sạn Ritz ở Paris. Nguyên nhân tai nạn là tài xế say rượu chạy qúa tốc độ để tránh báo chí săn đuổi chụp hình. Đám tang của Diana được tổ chức tại nhà thờ Westminster Abbey và người thương tiếc nàng đã đem hoa đến cung điện Kensington chất trong vườn cây xung quanh cung điện như một biển đầy hoa. Ngày nay ở nơi đó có xây vườn chơi Diana Memorial Playgroud và Diana Fountain để tưởng nhớ đến người đàn bà trẻ đẹp người, đẹp nết. Người ta không quên những hình ảnh của nàng đang thăm hỏi những trẻ em bị cụt tay chân vì mìn và hình ảnh nàng ẵm bế những đứa trẻ bị bịnh liệt kháng (AIDS) bẫm sinh.



Vào cung điện Kensington có nhiều điều để xem nhưng nếu không có nhiều thời giờ thì nên xem những nơi sau đây:



- Bộ trưng bày những y phục của Công Nương Diana, mốt riêng của nàng là những kiểu áo hở cổ hợp với vẻ sang trọng qúy phái của nàng.

- Phòng ngủ của nữ hoàng Victoria: nơi 6 giờ sáng ngày 20 tháng Sáu 1837 nàng được báo tin trở thành nữ hoàng nước Anh lúc vừa 18 thanh xuân. Dù làm vua nhưng bà mẹ của Victoria vẫn ngủ cùng phòng với con gái để săn sóc cho nàng.

- Cầu thang của vua (King’s Staircase) độc đáo với những bức vẽ trên tường, trên trần nhà của William Kent.

- Phòng ngủ của hoàng hậu Mary of Modena vợ vua James II có những chiếc giường cổ nhất trong bộ sưu tập hoàng gia Anh.

- Bộ sưu tập y phục hoàng cung mặc trong những  nghi thúc lễ lộc như áo cưới nữ hoàng Victoria, áo nịt của vua George IV lúc còn nhỏ, áo công chúa Margaret v.v...

- Nhà hàng Orangery, nhà hàng cung đình rất sang trọng nhưng giá thức ăn, bánh ngọt, trà, cà phê không cao hơn bên ngoài.

- Vườn hoa Sunken Garden thiết lập từ 1908, một cõi không gian tĩnh lặng với hoa thơm cỏ lạ, bể nước, phông tên v.v...



Vé vào xem cung điện Kensington Palace là 12.30 Pound cho người lớn, trẻ em dưới 16 tuổi nửa giá và cung điện mở cửa 7 ngày một tuần từ 10 giờ sáng đến 6 giờ chiều trong mùa Hè và 5 giờ chiều trong mùa Đông.



KHU MUA SẮM MAYFAIR



Rời cung điện Kensington xe chúng tôi đi về hướng Đông của công viên Hyde Park để đến khu Mayfair. Tuy là khu phố cổ với những con đường nhỏ nhưng nhà cửa, kiến trúc thanh lịch và là khu có giá bất động sản đắt nhất Luân Đôn. Nơi đây có những hiệu buôn sang trọng nằm trên con đường Bond Street với những cửa hàng thời trang, y phục, nữ trang và đồ cổ. Ngày trước chủ nhân những ngôi nhà nơi đây là Sir Thomas Bond nên lấy tên ông đặt cho con đường này. Chúng tôi đi ngang qua những cửa tiệm đầy ấp những cổ vật trang trí trong nhà như tranh tượng, điêu khắc, bình hoa, đồ đồng, giàn đèn treo trên trần nhà. Khu Mayfair còn là một khu văn hóa nghệ thuật có Viện Royal Academy of Arts là cơ quan dẫn đầu về nghiên cứu nghệ thuật Anh Cát Lợi. Buổi sáng sớm thứ Bảy khách mua sắm không đông nhưng toàn đi trên những hiệu xe sang trọng đắt tiền như Rolls Royce, Ferrari, Lamborghini, Mercedes, BMW v.v...Khu phố mua sắm sang trọng này đông đảo nhất là những đêm thứ Sáu và ngày Chủ nhật, dập dìu người dạo phố đi lũ lượt như ngày hội.



Xe chúng tôi chạy về hướng Nam để tới khu St. James nằm giữa 2 công viên Green Park và St. James Park. Ở góc Đông Bắc Green Park có khách sạn The Ritz nằm ở số 150 đường Piccadilly là một trong những khách sạn sang trọng nhất Luân Đôn. Khách sạn mở cửa từ năm 1906 rất nổi tiếng về cung cách phục vụ thanh lịch và hiện nay giá một phòng cũng phải từ 250 Pound trở lên. Qua khỏi khách sạn Ritz xe chúng tôi vào con đường St. James vắng vẻ tìm chỗ đậu và chúng tôi xuống xe đi bộ về hướng Nam tới đại lộ The Mall là con đường dẫn đến điện Buckingham là nơi hiện nay Nữ Hoàng Elizabeth Đệ Nhị cư ngụ. Trên đường St. James hẹp và vắng, hai bên là những cửa hàng sang trọng và những biệt thự cổ kính, tường gạch đỏ cao khỏi đầu. Chúng tôi đi ngang qua một lâu đài nhỏ bên tay phải, ngoài cổng có một ngự lâm quân gác và bà hướng dẫn du lịch cho biết đó là St. James Palace ngày xưa một thời cũng là hoàng cung trước khi có điện Buckingham.



CUNG ĐIỆN ST. JAMES



Cung điện St James được xây bằng gạch đỏ, mặt tiền có đồng hồ lớn ở giữa và hai bên là hai tháp kiến trúc như thành quách thời trung cổ. Cung điện được xây từ năm 1531 đến năm 1536 bởi vua Henry VIII. Sau khi cung điện Whitehall bị hỏa hoạn thiêu rụi vào năm 1702, nữ hoàng Anne cho di chuyển hoàng cung về cung điện St. James này. Nữ hoàng Victoria sau khi lên ngôi năm 1837 cũng chọn nơi đây làm hoàng cung trong khi chờ sửa sang lại điện Buckingham. Đám cưới của bà và hoàng tử Albert năm 1840 cũng được tổ chức tại đây và năm 1952 nữ hoàng Elizabeth II cũng đọc bài diễn văn đầu tiên tại cung điện này. Đây cũng là nhà của mẹ nữ hoàng cho tới khi bà mất cách đây vài năm. Hiện nay cung điện St. James vẫn dùng làm hoàng cung là nơi cư trú của Thái Tử Charles và người vợ mới (nhưng người tình cũ) là bà Camilla. Bà Camilla làm đám cưới với Thái Tử Charles năm 2005 tại lâu đài Windsor và hiện nay có tước hiệu của công nương Diana trước kia là “Her Royal Highness Princess of Wales” nhưng bà ngại người ta nghĩ đến Diana nên dùng tước hiệu là “Her Royal Highness The Duchess of Cornwall” ba chữ “The Duchess of Cornwall” là tước hiệu trước đây của bà. Bà quen với Thái Tử Charles từ năm 1970 nhưng có chồng vào năm 1973 và sau đó ly dị với ông này năm 1996 vì có chuyện vụng trộm với Thái Tử Charles. “Xấu đẹp tùy người đối diện”, trong đôi mắt của thái tử Charles, Camilla... là tất cả mặc dù bà hơi luống tuổi. Con tim có những lý lẻ mà “ở chốn nhân gian không thể hiểu”, thái tử Charles có Diana, vừa xinh người lại đẹp nết nhưng thái tử  không nhận ra mà chỉ mơ...màng những chuyện gì đâu! Hay là:



Có duyên lấy được vợ già

Vừa sạch cửa nhà lại ngọt cơm canh.

                                 (Ca dao)



Chúng tôi đã thăm qua cung điện Kensington ngày trước Diana đã từng  giam hãm tuổi xuân, giờ đây được xem là giang sơn riêng của nàng mặc dù chỉ lảng vảng vong linh. Cung điện St. James là chốn tự do của thái tử Charles sau khi ly thân với Diana, nay lại toại lòng bên bà Camilla. Hai người không ở điện Kensington vì ngại hình bóng Diana. Chúng tôi sẽ tới điện Buckingham bên cạnh đây là nơi  mẹ thái tử Charles là nữ hoàng Elizabeth II cư trú. Khổng Tử có nói: “Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” nhưng đối với nữ hoàng, đâu cần gì “tề gia” mà vẫn “trị quốc” vững vàng. Trên chính trường nhiều ông theo đạo “thờ bà”, vợ hét một tiếng là run lên cầm cập nhưng ra ngoài là những lãnh tụ lẫm liệt oai phong!

NHỮNG KIẾN TRÚC LỊCH SỬ Ở LUÂN ĐÔN

Bài và ảnh: TRỊNH HẢO TÂM







Luân Đôn có chiều dài lịch sử đến hai ngàn năm, là một thành phố cổ xưa lập nên từ thời hưng thịnh của đế quốc La Mã lúc ấy cai trị khắp Âu Châu. Đến Luân Đôn có nhiều di tích cần xem, hàng chục cung điện phải viếng. Mỗi kiến trúc là kỳ công sáng tạo của một triều đại vua chúa, đánh dấu một giai đoạn lịch sử lừng lẫy.



Ngày thứ nhì ở Luân Đôn, buổi sáng đoàn du lịch chúng tôi được bà Diana của hãng du lịch Trafalgar đưa đi một vòng thành phố để viếng qua các cung điện, giáo đường, công viên, các khu mua sắm nổi tiếng của thủ đô vương quốc Anh. Xe buýt chúng tôi dừng lại ở quảng trường phía trước Cung Điện Westminster. Sau khi xem qua bên ngoài và chụp ảnh Tháp Đồng Hồ Big Ben và tòa nhà Nghị Viện tức Houses of Parliament, chúng tôi đi về hướng Tây sang nhà thờ St. Margaret và Tu Viện Westminster Abbey cả hai kiến trúc này đều rất cổ xưa, trải qua nhiều triều đại vua chúa và chứng kiến nhiều biến cố lịch sử thăng trầm của vương quốc Anh.



NHÀ THỜ ST. MARGARET



Nhà thờ St. Margaret nằm ở góc đường phía Bắc Tu Viện Westminster Abbey, so với Tu Viện nhà thờ có vẻ khiêm tốn vì nhỏ hơn, diện tích chỉ bằng 1/8 của Tu Viện. Đây là nhà thờ thuộc giáo hội Anh giáo được xây lần đầu vào thế kỷ 12 bởi các tu sĩ dòng Benedictine dùng làm nhà thờ giáo xứ cho các tín đồ cư ngụ trong vùng. Nhà thờ xây lại vào năm 1486 và kéo dài đến 1523 mới xong hoàn toàn và trở thành nhà thờ họ đạo Palace of Westminster. Tháp chuông bên trái nhà thờ được xây vào năm 1734 bằng đá tảng lấy từ Ba Lan. Bên trong nhà thờ được bảo tồn nguyên vẹn do công lao của Sir George Gilbert Scott từ năm 1877 và còn lưu lại những cổ vật từ các triều vua Tudor. Nhà thờ đã từng làm lễ thành hôn cho nhiều nhân vật danh tiếng trong đó có Thống Chế Hải Quân Samuel Pepys (1633-1703) và Sir Winston Churchill (1874-1965) người giữ chức Thủ Tướng Anh trong thời Đệ Nhị Thế Chiến. Nhà Thờ St. Margaret còn là nhà thờ riêng của Nghị Viện Anh (Houses of Parliament) là cơ quan nằm bên cạnh.



TU VIỆN WESTMINSTER ABBEY



Tu viện Westminster nằm về phía Tây tòa nhà Nghị Viện, là một kiến trúc lịch sử hơn là cơ sở tôn giáo. Từ năm 1066 mỗi khi có lễ đăng quang phong vương đều được cử hành tại đây trừ các vua Edward V và Edward VIII. Tu viện còn là nơi an táng rất nhiều vua chúa, chính khách và giới nghệ sĩ. Bên trong tu viện tàng trữ rất nhiều huyệt mộ, hình tượng và bia ghi công. Nhiều quan tài phải để dựng đứng vì thiếu chỗ. Người ta ước lượng có khoảng 3,300 người được chôn cất trong tu viện này và các sảnh đường phụ thuộc! Nhiều người rất nổi tiếng như Charles Darwin, Sir Isaac Newton và David Livingstone.



Theo truyền thuyết cho rằng ngày xưa nơi đây đã có một đền thờ, thờ kính Thánh Phêrô do các ngư phủ dựng nên vì vị thánh này đã giúp ngư dân đánh bắt được nhiều cá hồi. Tu viện Westminster Abbey bắt đầu được xây bằng đá từ năm 1045 đến 1050 bởi vua Edward the Confessor để dùng làm tu viện cho các tu sĩ dòng Benedictine Anh giáo. Sau đó được xây thêm từ năm 1245 đến 1272 khi vua Henry III quyết định cho xây tu viện theo kiểu Gothic. Phần lớn kiến trúc hiện nay được vua Henry VII cho xây thêm từ 1503 đến 1512 và hai ngọn tháp chuông phía Tây được xây năm 1745. Phần mới nhất là cửa vào phía Bắc hoàn tất trong thế kỷ 19.



Nhà thờ Westminster Abbeycó kiến trúc kiểu Gothic với hai tháp chuông hai bên đối xứng nhau (như nhà thờ Đức Bà Paris, Sài Gòn...) là tài sản của Hoàng Gia Anh và là địa điểm truyền thống dùng làm nơi đăng quang, quốc táng, đám cưới hoàng gia và những nghi lễ trọng đại. Hôn lễ của Công Nương Diana vào năm 1981 được cữ hành tại nhà thờ St. Paul chứ không ở Westminster Abbey vì nhà thờ St. Paul nhiều ghế cho qua khách hơn, nhưng đám tang Công Nương ngày 6 tháng Chín 1997 được tổ chức trọng thể tại nhà thờ này.



Nhà thờ mở cửa cho du khách vào tham quan từ thứ Hai cho đến thứ Bảy và ngày Chủ Nhật chỉ dành cho việc thờ phượng. Vé vào cửa cho người lớn là 12 Pound và với vé này có thể vào nhà bảo tàng và nhà thờ St. Margaret. Trong nhà bảo tàng có trưng bày những cổ vật của hoàng gia như yên ngựa, kiếm, nón giáp của vua Henry V mang theo trong lễ an táng vào năm 1422, ngai vàng của nữ hoàng Mary II ngồi trong lễ tấn phong v.v...Tuy nhiên khi vào trong nhà thờ du khách không được quay phim, chụp hình và ăn mặc đứng đắn.



Rời nhà thờ Westminster Abbey, bà hướng dẫn du lịch Diana đưa chúng tôi sang tòa nhà lớn bên kia đường là Middlesex Guidhall để giải khát và dùng nhà vệ sinh vì theo luật du lịch cứ đi 2 tiếng đồng hồ là phải cho chúng tôi nghỉ giải lao. Bên trong có bán cà phê và thức ăn nhẹ. Xong đâu đó chúng tôi ra xe và tiếp tục hành trình theo con đường Victoria Street đi ngang qua Vương Cung Thánh Đường Công Giáo La Mã Westminster Cathedral. Nhà thờ cổ kính được xây vào thế kỷ 19 theo kiến trúc La Mã với một tháp chuông bên cạnh nhà thờ (chứ không hai tháp chuông đối xứng với nhau như kiến trúc Gothic). Xe tiếp tục ngang qua nhà ga lớn Victoria, nhà ga này cũng  đồ sộ và cổ kính cả trên trăm năm. Vùng xung quanh nhà ga người đi tấp nập vì ngoài ga xe điện đi các tỉnh xa còn có 3 trạm xe điện ngầm và những khách sạn lớn ở xung quanh như khách sạn Mỹ Holiday Inn.



CÔNG VIÊN HYDE PARK



Xe tiếp tục rẽ lên hướng Bắc đến công viên Hyde Park là một trong 3 công viên nằm cạnh nhau (2 công viên kia là Green Park và St. James Park) được gọi là Công Viên Hoàng Gia (Royal Parks) vì tất cả nằm gần hoàng cung Buckingham Palace. Luân Đôn nổi tiếng nhiều khoảng cây xanh vì có rất nhiều công viên và công viên Hyde Park là công viên lớn nhất ở khu trung tâm thành phố lại rất gần khu mua sắm sang trọng Mayfair. Đặc điểm của Luân Đôn là các công viên và nhà bảo tàng đều miễn phí cho công chúng và du khách vào xem.



Công viên Hyde Park rộng 360 acres (142 hectares) là nơi hàng năm diễn ra nhiều lễ hội như kỷ niệm, ăn mừng, hoà nhạc, là nơi dân chúng có thể picnic, chạy bộ, bơi lội, chèo thuyền và cỡi ngựa. Giữa công viên có hồ nước lớn The Serpintine người ta có thể xuống bơi lội hoặc chèo thuyền, có sân khấu hòa nhạc và nhiều đền tưởng niệm như đền tưởng niệm nạn nhân chiến tranh (War Memorial), tưởng niệm nạn nhân Đức Quốc Xã (Holocaust Memorial). Ở góc Đông Bắc công viên có một cổng tam quan bằng đá hoa cương rất đẹp tên là Marble Arch. Cổng được xây năm 1827 thiết kế bởi John Nash mô phỏng theo kiểu cổng Constantine ở Roma, dùng làm cổng chính cho hoàng cung Buckingham Palace. Vì xây qúa hẹp nên xe ngựa không đi vào được nên cổng được dời đến nằm ở góc công viên như vị trí hiện giờ. 



Cạnh cổng Marble Arch về phía bên trong công viên là Speaker’s Corner nơi người ta có thể tự do diễn thuyết, truyền đạt những tư tưởng, học thuyết dù đối nghịch với hoàng gia cũng không bị khép tội phá rối an ninh trật tự. Vào thế kỷ 19 công viên Hyde Park là nơi dân chúng thường tập trung để hội thảo nhiều vấn đề thời sự. Năm 1872 sau biến cố cảnh sát đàn áp giải tán một buổi hội thảo chính trị gây rối loạn. Chính quyền đồng ý dùng góc công viên này làm nơi mọi người tự do phát biểu ý kiến. Từ đó mỗi ngày Chủ Nhật người ta có thể đứng trên bục diễn đàn nói lên ý kiến của mình, mọi người lắng nghe nhưng đôi khi cử tọa cũng phản đối cắt ngang lời nói hoặc tranh luận.



Về lịch sử công viên Hyde Park, năm 1536 vua Henry VIII thu nhận vùng đất này từ các tu sĩ ở Westminster Abbey và nhà vua dùng làm nơi săn bắn. Đến đời vua Charles I cho rào lại và dùng làm công viên mở cửa cho dân chúng vào năm 1637. Công viên hiện nay được quy hoạch theo họa đồ năm 1825 của kiến trúc sư Decimus Burton. Hồ nước nhân tạo giữa công viên được hoàng hậu Caroline vợ vua George II cho đào năm 1730 và hiện nay người ta dùng để chèo thuyền hoặc bơi lội. Phía Nam công viên có một con đường dài đến 4 miles (6.4 km) được gọi là Rotten Row. Vào thế kỷ 17 vua William III vẫn dùng con đường này để đi từ cung điện Kensington Palace (nằm về phía Tây) để đến cung điện St. James ở phía Đông. Nhận thấy con đường qúa tối tăm nguy hiểm nên nhà vua cho dựng những cột đèn dầu dọc theo con đường. Đây là công lộ đầu tiên ở Luân Đôn được thắp sáng và tên gọi “Rotten Row” thoát thai từ chữ Pháp “route du roi” (con đường vua đi).



Xe buýt chúng tôi chạy quanh công viên Hyde Park và vườn Kensington Gardens vì 2 công viên này nằm cạnh nhau và cách bởi hồ nước nhân tạo nằm giữa 2 công viên. Ngày xưa 2 nơi này là một nhưng sau đó được tách làm hai: Hyde Park phần nhiều là bãi cỏ xanh, nhà hàng và những nơi picnic vui chơi, Kensington Gardens có nhiều vườn hoa và trồng nhiều cây cối, kỳ hoa dị thảo.



VƯỜN KENSINGTON GARDENS



Xe chúng tôi chạy gần hết một vòng bên ngoài hai công viên và dừng lại trước một tòa nhà tròn màu huyết dụ có rất nhiều cửa sổ. Bà hướng dẫn du lịch cho biết đó là Royal Albert Hall (Hoàng Gia Đại Sảnh Albert) nằm bên ngoài phía Nam vườn Kensington Gardens. Tòa nhà do nữ hoàng Victoria đặt tên để tưởng nhớ chồng bà là Hoàng Tế Albert đã qua đời. Sảnh Đường Albert trước kia là một thính đường theo kiểu La Mã sau được nữ hoàng trùng tu lại và hiện nay dùng để tổ chức những buổi hòa nhạc, hội họp trong đó có Nhạc Hội Mùa Hè (Summer Music Festival) do đài BBC tổ chức hàng năm. Bên kia đường phía trong Kensington Gardens là Đài Tưởng Niệm Albert (Albert Memorial) xây xong năm 1876 bên trong là tượng Hoàng Tế Albert thếp vàng đứng trên bệ cao rất hoành tráng uy nghiêm.



Nữ hoàng Victoria (1819-1901) được sinh ra ở cung điện Kensington Palce (trong vườn hoa này) là cháu nội vua George III. Khi mới sinh ra, bà chỉ đứng hạng thứ 5 nối ngôi nhưng 4 người đứng trước bà đều bị bịnh và chết bất đắc kỳ tử trong đó có cha bà chết lúc bà mới được 8 tháng. Sáu ngày sau ông nội bà đương kim hoàng đế là vua George III cũng qua đời. Chú bà lên làm vua lấy danh hiệu là George IV đến năm 1830 ông này qua đời và không có con nên truyền ngôi lại cho người em là vua William IV (ông này còn 1 người anh nữa nhưng cũng đã chết). Năm 1837 vua William IV chết lúc đó Victoria mới 18 tuổi  và được đưa lên làm nữ hoàng Anh. Ngày 24 tháng 5 1837 bà tròn 18 tuổi, đến ngày 20 tháng 6 Victoria được mẹ mình đánh thức dậy và cho bà hay là vua William IV 71 tuổi băng hà vì trụy tim. Trong nhật ký bà đã viết như sau khi được báo tin lên ngôi: “Mẹ tôi đã đánh thức tôi dậy lúc 6 giờ sáng và nói với tôi là Giám Mục Canterbury và Lord Conyngham đã hiện diện tại đây và muốn gặp tôi. Tôi ngồi dậy và một mình bước sang phòng bên cạnh với bộ đồ ngủ để gặp 2 vị đó. Lord Conyngham báo với tôi rằng “Người chú xấu số của cô nương là nhà vua không còn nữa và từ lúc 2 giờ 12 phút sáng nay cô là...nữ hoàng nước Anh!”.



Bà cai trị suốt hơn 63 năm, thời gian trị vì lâu nhất nước Anh. Triều đại Victoria là triều đại huy hoàng nhất nước Anh vì thời ấy nước Anh phát triển và mở rộng các thuộc địa trên khắp thế giới. Bà kết hôn với người anh họ của mình là Hoàng tử Albert vào năm 1840 lúc bà 20 tuổi đang là nữ hoàng. Hoàng tử Albert không những là người đồng hành mà còn là cố vấn cho bà trong những vấn đề chính trị. Bà và chồng đã từng bị ám sát hụt ít nhất là 3 lần.



Hai mươi mốt năm sau (1861) Hoàng tế Albert qua đời vì bịnh thương hàn do ảnh hưởng bởi tình trạng vệ sinh yếu kém ở lâu đài Windsor. Cái chết của chồng khiến nữ hoàng u sầu buồn bã và bà chỉ mặc một màu đen hết suốt cuộc đời còn lại. Bà tránh xuất hiện trước công chúng và ít khi nào ra phố Luân Đôn nhiều năm sau đó và tự gọi mình là “góa phụ Windsor”. Chồng chết lúc bà 42 tuổi và không tái giá cho đến khi bà qua đời  ngày 22 tháng Giêng 1901 hưởng thọ 81 tuổi khi còn đương vị nữ hoàng. Để tạo ảnh hưởng chính trị có lợi cho nước Anh, trong cuộc đời làm vua của bà, nữ hoàng Victoria đã giàn xếp, mai mối hôn nhân cho 9 người con và 42 cháu nội ngoại kết hôn với vua chúa các nước lân bang, kết tình thông gia với các nước này nên bà có danh hiệu là “The grandmother of Europe”.


Thursday, March 23, 2017


THÁP BIG BEN VÀ CUNG ĐIỆN WESTMINSTER Ở LUÂN ĐÔN
Bài và ảnh: Trịnh Hảo Tâm







Luân Đôn là một thành phố lâu đời có lịch sử hơn 2 ngàn năm từ thời đế quốc La Mã nên Luân Đôn còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử qúy giá trong đó có cung điện Westminster (Palace of Westminster). Cung điện Westminster được xây cách đây hơn 150 năm, hiện là toà nhà Lập Pháp của Vương Quốc Liên Hiệp Anh. Bên cạnh là tháp đồng hồ Big Ben hoành tráng và cổ kính tọa lạc cạnh bờ sông Thames. Cả hai kiến trúc này thu hút du khách viếng đông nhất mỗi khi đến Luân Đôn.

 

Hôm nay ngày 3 tháng Năm 2008 là buổi sáng đầu tiên ở Luân Đôn. Vì trái giờ giấc nên 5 giờ sáng không sao ngủ được nữa và bên ngoài trời cũng đã sáng. Từ khách sạn Park Plaza County Hall cạnh cầu Westminster nhìn xuống thành phố Luân Đôn buổi sáng thứ Bảy êm đềm vắng lặng. Những con đường dưới khách sạn đèn lưu thông vẫn hoạt động xanh đỏ nhưng lâu lâu mới có một chiếc xe nhỏ chạy qua. Nhà ga xe điện Waterloo, lấy tên trận đánh cuối cùng Napoléon đại bại trước quân Anh, là một nhà ga lớn có đường tàu sang Pháp nằm cạnh khách sạn vẫn im lặng như tờ. Quang cảnh nhà ga chính ở một thành phố lớn, buổi sáng phải ồn ào náo nhiệt, đằng này trên sân ga nhiều đoàn tàu nằm ụ, không hành khách, không hồi còi. Tôi lấy làm lạ chẳng lẽ nước Anh nhịp sống lại lặng lờ, êm ả đến như vậy hay sao? Sau này tôi mới biết nhà ga Waterloo mở cửa từ năm 1848 đã ngưng hoạt động từ tháng 11 năm 2007 vì hãng xe điện Eurostar đã chuyển những tuyến đường sang nhà ga St. Pancras sau khi hoàn tất tuyến đường “HS1” (High Speed Route 1). Nhà ga đóng cửa, có thể trở thành thương xá sau này nhưng trạm xe điện ngầm Underground Waterloo vẫn hoạt động bình thường.



Lúc 6 giờ 30 chúng tôi xuống tầng số 1 để ăn sáng nơi nhà hàng. Du lịch trong thời kỳ kinh tế khó khăn bữa ăn nào bao gồm trong Tour du lịch không nên bỏ phải ăn tận tình chứ làm quân tử Tàu:



Người quân tử ăn chẵng cần no,

Ngày ba bữa vỗ bụng rau...bình bịch!

(Nguyễn Công Trứ)



Khi đói ăn bên ngoài rất tốn kém. Bữa ăn sáng ở đây dù là Buffet nhưng thức ăn cũng thường, nếu trả tiền cũng phải 40 đô la Mỹ một người! Trong bữa ăn sáng gặp đủ mặt những người trong Tour du lịch Âu Châu do hãng Trafalgar tổ chức chúng tôi tham dự. Chúng tôi tự giới thiệu và làm quen với nhau, dù gì cũng sẽ đồng hành, chia vui sẻ buồn trong 13 ngày tới. Thành phần Tour nhân số chẳng chòi 30 người xuất phát từ 4 quốc gia: Mỹ 17 người (có 4 người Việt), Úc (8 người), Nam Phi (South Africa, 3 người đàn bà) và Sri Lanka (là vợ chồng chủ đồn điền trà lớn tuổi, hiền lành ít nói). Hôm qua nhân viên hãng du lịch Trafalgar có đến gặp chúng tôi ở khách sạn, trao một số tài liệu và hẹn sáng hôm nay lúc 8 giờ sẽ có người đến đón đưa đi tham quan tổng quát thành phố Luân Đôn (City Tour) trong buổi sáng, sau đó ai muốn tham dự Tour Optional (nhiệm ý) thì trả tiền thêm sẽ đi thăm Lâu Đài Windsor ở ngoại ô phía Tây Luân Đôn. Những người không đi sẽ giải tán ở trụ sở Trafalgar gần nhà ga Victoria và tự do trong suốt ngày còn lại.



Trước 8 giờ, hướng dẫn viên City Tour là bà Dianna, một phụ nữ gầy khoảng hơn 50 đã có mặt ở khách sạn. Bà vui vẻ hướng dẫn mọi người ra xe buýt đậu bên ngoài. Bà nói về thành phố Luân Đôn đại khái là hiện nay Luân Đôn có dân số là 7.4 triệu người và được chia ra làm 33 đơn vị hành chánh có 31 Quận (Boroughs) và 2 thành phố London và Westminster. Trước tiên bà cho xe qua cầu Westminster rồi dừng lại ở quảng trường Palace of Westminster. Từ quảng trường này cạnh bờ sông Thames là tháp Big Ben, toà nhà lập pháp Houses of Parliament, phiá Tây là nhà thờ cổ St. Margeret và tu viện Westminster Abbey. Để hiểu lai lịch của những kiến trúc này đồng thời cũng biết qua về chính thể Anh quốc, chúng ta cũng nên tìm hiểu sơ lược về lịch sử thành phố Luân Đôn.



LỊCH SỬ LUÂN ĐÔN



Lịch sử Luân Đôn gắn liền với lịch sử Anh quốc, dù là một nước hùng mạnh hiện nay nhưng thời xưa nước Anh cũng đã từng bị những dân tộc khác đến cai trị (như Trung Hoa từng bị nhà Nguyên (Mông Cổ) và nhà Thanh (Mãn Châu) cai trị). Người ta chia lịch sử thành phố Luân Đôn thành nhiều thời kỳ căn cứ vào những triều vua đã nắm quyền cai trị:



- Luân Đôn thời kỳ La Mã (Roman London): Từ cổ xưa vùng Luân Đôn đã có nhiều sắc dân sinh sống, năm 43 sau Dương Lịch đế quốc La Mã lãnh đạo bởi vua Claudius xâm lăng Anh quốc và trong khoảng thời gian này gọi vùng này là Londinium. Vị trí của thành phố là vùng phía Bắc cạnh bờ sông Thames gần cầu London (London Bridge) ngày nay. Thành phố phát triển nhanh chóng có đến 60 ngàn dân. Người La Mã đã xây dựng nhiều cung điện, đền thờ, hội trường, nhà tắm công cộng v.v...Có lúc Londinium thay thế cho thành phố Colchester trở thành thủ đô của nước Anh Quốc La Mã (Roman Britain hay Britannia). Trong khoảng thời gian từ 190 đến 225 AD người La Mã đã xây Tường Thành (London Wall) dài 3 km, cao 6 mét và dầy 2.5 mét có 6 cửa dân chúng ra vào (ngày nay một đoạn bức tường còn thấy ở ga Tower Hill). Cuối thế kỷ thứ 3, Londinium nhiều lần bị cướp biển Saxon đánh phá. Vào thế kỷ thứ 5 Đế Quốc La Mã nhanh chóng suy tàn, đến năm 410 AD sự chiếm đóng của La Mã ở Anh được xem như chấm dứt và sau đó thành phố điêu tàn, bị bỏ hoang trong một thế kỷ.



- Luân Đôn thời kỳ Anglo-Saxon: người Anglo-Saxon là sắc dân đã từng cư ngụ ở vùng phía Đông và Nam của Anh quốc. Theo các sử gia họ thuộc từ 3 bộ lạc gốc người Đức là các bộ lạc Angles, Jutes và Saxons, nói ngôn ngữ gần giống như tiếng Đức nhưng họ xưng là người...Englisc (từ đó mới có chữ “English”). Người Anglo-Saxon đến cư ngụ cả hai bên bờ sông Thames sau 100 năm đế quốc La Mã suy vong. Đến thế kỷ thứ 7 một làng thương mại của người Anglo-Saxon được thành lập cách thành Londinium cũ khoảng 1.6 km về hướng Tây có tên là Lundenwic. Trong khoảng thời gian vào năm 600 AD người Anglo-Saxon cai trị nước Anh chia ra nhiều vương quốc nhỏ và Lundewic thuộc vương quốc East Saxons. Vương cung thánh đường St. Paul được xây trong khoảng thời gian này.



- Luân Đôn vào tay Vikings: vì sự chia rẽ của các tiểu vương Anglo-Saxon nên bọn cướp biển Vikings thường xuyên vào cướp phá nhất là thời kỳ tử năm 830 về sau. Năm 842 London bị tàn sát đẫm máu, lần tấn công kế tiếp vào năm 851 cướp biển Vikings huy động đến 350 chiếc thuyền đánh phá London và năm 871 họ vào cắm trại trong cổ thành xây từ thời La Mã, kiểm soát London trong một thời gian. Tuy nhiên đến năm 878, quân Anh chỉ huy bởi vua Alfred the Great (gốc người Saxon) đè bẹp được bọn cướp Vikings trong trận chiến Edington buộc vua cướp biển tên Guthrum phải ký hòa ước chia nước Anh làm 2 phần: một nửa vẫn còn kiểm soát bởi Vikings, một nửa độc lập do vua Alfred cai trị. Vua cho xây lại hoàng thành có từ thời La Mã, đào thêm hào nước xung quanh và xây dựng lại thành phố London ngay tại vị trí hiện nay. Sau khi dòng họ vua Alfred gốc Saxon chết, vương quyền quốc gia về tay các vua người Anh và phần đất do Vikings kiểm soát cũng được thu hồi về một mối. Vào thế kỷ thứ 10 London là trung tâm chính trị, thương mại quan trọng mặc dù thủ đô Vương quốc Anh vẫn đặt ở Winchester. Năm 978 thủ đô mới Anh chính thức dời về London.



- Luân Đôn thời Trung Cổ: Người Norman là sắc dân gốc Vikings sinh sống ở miền Bắc nước Pháp đã xâm lăng Anh quốc vào năm 1066 và giết chết vua Anh Harold Godwinson. Vua Normandy là William the Conqueror đốt phá phía Nam cầu London nhưng không đụng đến thành phố London, sau đó ông ta cho xây hoàng thành Tower of London như ta thấy ngày nay để chống lại cướp biển Vikings và những nhóm nổi loạn. Năm 1097 con của William là William Rufus bắt đầu xây lại cung điện Westminster để làm hoàng cung cho gia đình mình ở. Năm 1176 xây cầu London bằng đá để thay thế cho cầu gỗ, công việc xây cất mãi đến 1209 mới hoàn thành và công trình này tồn tại cho đến 600 năm sau. Phải công nhận dưới thời các vua William đã xây dựng rất nhiều công trình đồ sộ và London trong thời kỳ Trung Cổ đã phát triển trong hai khu vực: khu Westminster là hoàng cung nơi đặt cơ sở chính quyền và thành phố London là trung tâm thương mại và mậu dịch. Cũng trong thờ kỳ Trung Cổ Luân Đôn nhiều lần bị hỏa hoạn thiêu rụi và năm 1348 cũng như 1665 bị hai trận dịch hạch kinh hoàng.



- Luân Đôn phát triển dưới quyền cai trị của các vua Anh: như các triều vua Henry VII (Đệ Thất), Henry VIII (Đệ Bát) và Elizabeth Đệ Nhất được gọi là thời kỳ Tudor từ 1485 đến 1603. Trong thời kỳ Stuart kế tiếp (1603-1707) nước Anh phát triển vượt bậc từ một nước yếu kém chuyển sang một quốc gia hùng mạnh trong suốt nhiều thế kỷ sau đó đóng góp vào sự hưng thịnh của cả thế giới. Trong thế kỷ 18 Anh quốc được gọi là Kingdom of Great Britain (1707-1800) sáp nhập với nước Scotland ở phía Bắc, chính quyền và quốc hội đặt tại Westminster. Giai đoạn kế tiếp (1801-1922) sáp nhập thêm đảo quốc Ireland) tiếp tục phát triển và sau Cách Mạng Kỹ Nghệ sáng chế ra máy hơi nước, Luân Đôn đã trở thành trung tâm kỹ nghệ của Đế quốc Ăng lê và là thành phố lớn nhất thế giới trong khoảng từ năm 1831 đến 1925 Trong thế kỷ 19 Luân Đôn đã có hệ thống hỏa xa (1836) giúp cho giao thông và vận chuyển hàng hóa nhanh chóng giữa vùng nông thôn, ngoại ô nối liền với đô thị. Năm 1863 Luân Đôn xây đường xe điện ngầm đầu tiên trên thế giới là hệ thống London Underground đến nay vẫn còn sử dụng và nới rộng thêm ra. Những công trình xây dựng ở London vào thế kỷ 19 gồm có: Công Trường Trafalgar, Tháp Big Ben và Tòa Nhà Quốc Hội Anh (Houses of Parliament), Thính Đường Royal Albert, Viện Bảo Tàng Victoria và Albert, Cầu Tower Bridge. Trong lịch sử Anh quốc thế kỷ 19 nổi tiếng nhất là nữ hoàng Alexandrina Victoria (1819-1901). Bà lên ngôi ngày 20 tháng Sáu 1837 là cháu nội của vua George III, là cháu gái vua William IV (dòng vua người Normandy). Bà làm vua lâu nhất nước Anh kéo dài đến 63 năm 7 tháng (Nữ hoàng Elizabeth II cũng thuộc dòng họ của bà, lên ngôi tháng Hai 1952 đến nay được 56 năm). Thời đại của bà nước Anh về kinh tế, quân sự phát triển từ những thế kỷ trước và có thuộc địa khắp năm châu.


Bà khôn khéo gả con cháu của mình cho vua các nước Âu Châu nên ngày nay nhiều vua, hoàng hậu Âu Châu đều là cháu chắt của bà.



-Nước Anh từ 1922 đến nay: Từ 1919 đến 1921 Ireland có cuộc nội chiến của du kích quân Irish Republican Army (IRA) đòi độc lập với nước Anh và năm  1922 Ireland được độc lập nhưng một phần phía Bắc vẫn trung thành với nước Anh. Trong Đệ Nhị Thế Chiến Anh quốc thuộc phe Đồng Minh chống với Đức và Ý và Anh là nước duy nhất không bị quân Đức chiếm đóng mặc dù Luân Đôn bị dội bom thiệt hại rất nhiều. Hiện nay Liên Hiệp Anh có nền kinh tế đứng hạng thứ 6 thế giới.



THÁP BIG BEN VÀ TÒA NHÀ LẬP PHÁP




Tháp Big Ben và toà nhà Lập Pháp Houses of Parliament cùng nằm trong miếng đất cạnh bờ sông từ ngày xưa có tên là Palace of Westminster. Đây là vị trí chiến lược rất quan trọng từ thời Trung Cổ vì vị trí cạnh bờ sông là bến tàu để giao thông với các nước khác và thế giới bên ngoài. Những kiến trúc ở đây có từ thời Anglo-Saxon (thế kỷ thứ 7), được dùng làm hoàng cung trong triều vua Canute de Great (trị vì năm 1016 đến 1034). Những triều vua sau đó cũng xây lại cung điện Westminster làm hoàng cung. Ngày 16 Tháng Mười 1834 hỏa hoạn thiêu rụi hầu hết các cung điện Westminster chỉ còn lại Westminster Hall, Jewel Tower và nhà nguyện St. Stephen.



Sau ngày hỏa hoạn tháp Big Ben và tòa nhà lập pháp được xây lại và thời gian xây dựng kéo dài 30 năm do kiến trúc sư Sir Charles Barry (1795-1860) thiết kế. Chiếc đồng hồ 4 mặt trên tháp Big Ben cứ đúng mỗi giờ là ngân lên những tiếng như chuông nhà thờ đổ. Chuông đổ rất đúng giờ và liên tục từ năm 1854 đến nay là năm hoàn thành đồng hồ, sau đó mới hoàn tất ngọn tháp. Có vài lần đồng hồ ngưng chạy để tu sửa như lần đầu tiên vào tháng Tám 1976 ngưng vì kim loại bị hao mòn cho đến tháng Năm 1977 việc tu sửa mới hoàn tất và lần khác vào tháng Tám 2007. Big Ben là tên thân mật để gọi tháp đồng hồ, là hình ảnh quen thuộc của dân chúng Luân Đôn chứ thật ra tên chính thức của nó là Great Bell. Đây là chiếc đồng hồ 4 mặt có đổ chuông lớn nhất thế giới. Mặt đồng hồ có đường kính 7 mét (23 feet) được đặt trên tháp cao 96 mét (316 feet) kiểu dáng cổ kính, uy nghi như có nạm vàng.



Phía Nam tháp đồng hồ là Tòa Nhà Lập Pháp (Houses of Parliament) hay còn được gọi là Westminster Palace. Trong quần thể kiến trúc này còn có 2 tháp khác nữa là Tháp Victoria (cao nhất 98.5 m) và Tháp St. Stephen (91.4 m) vì nằm bên trong nên không được mấy chú ý. Tòa Nhà Lập Pháp của Vương Quốc Liên Hiệp Anh có tổng cộng hơn 1,100 phòng, 100 cầu thang. Là nơi hội họp của hai viện là House of Commons (Hạ Viện) và House of Lords (Thượng Viện) là 2 cơ quan duy nhất soạn thảo các luật lệ mà ta có thể gọi chung là Nghị Viện. Hạ Viện có quyền lực cao hơn với 646 thành viên do bầu cử trực tiếp từ những khu vực bầu cử được quy định theo dân số. Thượng Viện có 724 thành viên (con số này không cố định) được chỉ định từ giới qúy tộc và hàng giám mục Anh giáo. Nghị Viện có quyền chỉ định Thủ Tướng thường là lãnh tụ những đảng lớn (Thủ Tướng hiện nay là ông Gordon Brown thuộc Đảng Lao Động). Vương quốc Anh theo chế độ Quân Chủ Lập Hiến, vua hay nữ hoàng là nguyên thủ quốc gia, trên lý thuyết nắm mọi quyền hành pháp nhưng thực tế chính Thủ Tướng mới là người lãnh đạo chính phủ (được gọi là Chính Phủ của Nữ Hoàng tức Thủ Tướng và các Bộ Trưởng phải chịu trách nhiệm trước Nữ Hoàng). Nghị Viện cũng chịu sự chi phối của Nữ Hoàng, Nữ Hoàng trao cho Nghị Viện quyền nhóm họp và soạn thảo luật và một văn bản không thể trở thành luật được nếu không có sự phê chuẩn của Nữ Hoàng (trong qúa khứ chưa có đạo luật nào Nghị Viện đưa lên mà nữ hoàng không ký!).



Về lãnh thổ vào thế kỷ 19 Anh quốc có nhiều thuộc địa trên khắp thế giới nhưng ngày nay Vương Quốc Liên Hiệp Anh chỉ còn các phần đất: Anh, Wales, Scotland và Bắc Ireland. Anh, Wales, Scotland cùng nằm trong một đảo và Bắc Ireland nằm trên đảo nhỏ phía Tây. Ngày xưa 4 phần đất này là 4 nước độc lập nhưng nay đã hợp chung thành Vương Quốc Anh tuy nhiên họ áp dụng những luật lệ khác nhau. Phía Nam đảo Ireland lại là một quốc gia riêng không nằm trong Vương Quốc Liên Hiệp Anh, không dùng đồng Pound Sterling mà dùng đồng Euro như các nước trong Liên Hiệp Âu Châu (EU: European Union). Vì không thống nhất được nội bộ nên đến nay Vương Quốc Anh vẫn dùng tiền riêng là đổng bảng Anh (Pound Sterling) mặc dù đã gia nhập khối Liên Hiệp Âu Châu.