Pages

Powered By Blogger

Monday, May 14, 2012


KÝ SỰ DU LỊCH
ÐƯỜNG LÊN THẮNG CẢNH ÐÁ VÀNG YELLOWSTONE
 (Bài 5)
TRỊNH HẢO TÂM

Yellowstone ở góc Tây Bắc tiểu bang Wyoming trên vùng núi Rocky Mountains thuộc Trung Tây Hoa Kỳ cách Los Angeles 1,052 miles. Yellowstone có những suối nước nóng ngầm bị áp suất đè nén bắn lên thành những vòi nước phun cao hơn 100 feet, có những núi lửa ngầm dưới lòng đất không phun lửa mà lại phun bùn khi nguội lại thành những lớp đá màu vàng. Ở đây còn có non cao, vực thẩm, thác buông những dòng nước bạc và những đàn trâu rừng, nai vàng an nhàn  thong dong gặm cỏ dửng dưng trước cõi nhân gian xôn xao xua động.
Ngọn suối phun Old Faithful trong Yellowstone

Ðoàn du lịch chúng tôi vẫn còn 15 người đi trên một xe van do Gerald hướng dẫn viên kiêm tài xế người Ðài Loan lái đi từ Los Angeles, rời thị trấn miền núi Jackson ở phiá Nam Yellowstone thì đã 5 giờ chiều. Lẽ ra chúng tôi đi thẳng vào Yellowstone cách khoảng 60 miles để nghỉ đêm trong vùng rừng núi đó theo như chương trình Tour du lịch đã quảng cáo nhưng sau khi Gerald điện thoại với văn phòng hãng ở Los Angeles thì nơi đây cho biết nhà trọ trong Yellowstone đã “hết phòng” nhưng chắc là vì Lễ Lao Ðộng mùa du lịch cao điểm nên giá nhà trọ (lodge) rất đắt mà hãng du lịch thì muốn mướn phòng với giá rẻ mới có lời. Gerald nói rằng sẽ đưa chúng tôi qua thành phố Idaho Falls thuộc tiểu bang Idaho ở về hướng Tây và cách Jackson 80 miles để nghỉ đêm tại đó, đường đi sẽ mất 2 tiếng đồng hồ vì đường núi quanh co nhưng cảnh đẹp. Gerald hứa chắc rằng đêm sau chúng tôi sẽ đuợc ngủ trong rừng Yellowstone mặc sức mà nghe trái thông rơi độp nửa đêm, trâu kêu, thác đổ mà không chừng còn gặp vài con nai vàng... ngơ ngác giữa rừng khuya. Không biết nai ngơ ngác hay mình ngơ ngác vì lạc lối giữa rừng hoang? Ðể biện minh cho chương trình thay đổi có lợi cho hãng, Gerald nói ngủ trong rừng chán lắm, buồn chết đi được! Trong khi Idaho Falls ban đêm phố phường nhộn nhịp đông vui “ngựa xe như nước, áo quần như (mắm) nêm!” Và tối nay anh ta sẽ dẫn đến nhà hàng Tàu có món...Trâu Rừng Tiềm Thuốc Bắc đại bổ vô song  sau đó ai muốn đi Bar hay hộp đêm Gerald sẽ dẫn đi...xem các cô đầm Mỹ bị đế quốc tư bản bốc lột không còn...manh giáp nào hết che thân! Trưởng đoàn du lịch “Thanh Nhàn” là ông Nguyễn Ngọc Liên cũng như ông Vu một chiến sĩ từ Úc qua tái định cư ở Irvine rất nức lòng, hồ hỡi phấn khởi quên bẵng mệt nhọc đường xa và việc bị thay đổi khách sạn. Sau khi tới Idaho Falls và đưa chúng tôi vào khách sạn Best Western lấy phòng, đúng như lời hứa Gerald dẫn đến nhà hàng Tàu và thưởng thức món Ngọc Ngưu Tiềm Thuốc Bắc. Mấy ngày rồi toàn ăn đồ Mỹ nên đã ớn hamburger, hôm nay xì xụp ăn món Trâu Rừng Tiềm Thuốc Bắc có hương vị gừng cay ấm bụng lại thêm những món như Nai Tơ Xào Kung Pao, Cá Trout Chiên Xốt Chua Ngọt toàn là đặc sản tươi sống điạ phương nên ai nấy kể cả các bà đều mãn nguyện hài lòng, duy chỉ có mấy đứa con nít thì chỉ ăn được có mì xào và...cà rem! Gerald như lời hứa hỏi có đi xem Night Show hay không? Các “chiến sĩ” của ta lúc chiều hăng say lắm nhưng bây giờ no bụng nên đâm ra buồn ngủ, lặng lẽ lắc đầu đòi về ngủ.

Sáng hôm sau điện thoại reo vang đánh thức thật sớm. Cũng xuống Lounge Room ăn Continental Breakfast nghe danh “Continental” tưởng dữ dội lắm hoá ra cũng chỉ có hột Cereal, bánh Donut, Muffin, chuối già và thức uống thì có cà phê, sữa và cam tươi nhưng có còn hơn không. Idaho Falls là một thành phố nhỏ con sông Snake cũng chảy qua và người ta lợi dụng sức nước để xây nhà máy thuỷ điện, khi đi Yellowstone trở về chúng tôi sẽ thăm dòng sông này. Còn bây giờ thì chúng tôi lên xe vào con lộ 20 chạy lên hướng Bắc trực chỉ thắng cảnh Ðá Vàng.

Xe đi 90 miles mất gần 2 tiếng đồng hồ chúng tôi tới thị trấn West Yellowstone thuộc tiểu bang Montana. Ðây là một làng nhỏ chuyên sống bằng du lịch phục vụ cho du khách vào viếng Yellowstone như khách sạn, nhà hàng, tạp hoá, thực phẩm cho những người cắm trại trong Yellowstone vì trong đó là công viên quốc gia bảo tồn thiên nhiên nên những cửa hàng thương mại không có. Gerald dừng xe trong bãi đậu của Mac Donald và nói rằng nên ăn trưa ở đây vì vào trong Yellowstone nhà hàng rất hiếm, giá cả lại đắt. Mới ăn sáng ở khách sạn cách đây 2 tiếng đồng hồ không mấy đói nên chỉ ăn khoai chiên và nhâm nhi cà phê, bà xã tôi còn thủ theo trái cây, mì ly và junk food. Một bà cụ trong đoàn giở từ trong giỏ xách ra một nồi cơm điện đặt trên bàn, xới cơm vào chén và mời chúng tôi ăn với cà pháo ngâm mắm tôm trong lọ thủy tinh và ruốc (thịt chà bông) mà cụ mua ở Little Saigon. Tôi thấy cụ dùng cơm nóng bốc khói ăn một cách ngon lành mà cụ cho biết mới nấu hồi sáng trong phòng khách sạn, tôi cám ơn và từ chối lời mời rất thật tình của cụ vì trong tiệm Mac Donald mà mình ăn...cà pháo mắm tôm thì kỳ qúa! Nhớ lại một lần năm 1994 tôi du lịch bên Nhật đem gói hamburger Mac Donald vào tiệm Sushi Bar ăn với...sushi, gã Nhật đứng cuốn sushi cự tôi qúa xá! Gã xổ một tràng tiếng Nhật với vẻ mặt giận dữ còn tôi thì “Watashi wa no understand né!” Tôi đứng dậy trả tiền và “né” ngay khỏi quán Sushi Bar. Cũng giải thích thêm Sushi Bar là một quán chỉ chuyên bán sushi, các tay Nhật mặc áo trắng như áo đánh võ Judo đứng trong quày bàn mà cuốn sushi và đặt thức ăn trên một cái rãnh lăn vòng vòng quanh bàn và thực khách ngồi xung quanh muốn ăn đĩa nào thì lấy dĩa ấy. Ăn xong thì chủ quán đếm dĩa mà tính tiền. Trên bàn có gia vị như mù tạt xanh (thứ này rất cay nồng), xì dầu, còn súp và trà thì họ để khô trong bao muốn dùng thì lấy chén rót nước sôi vào (vòi nước sôi cũng trên bàn) và mở bao bỏ súp hay trà vào chén. Ăn ở Sushi Bar và các quán “mì đứng” thì rẻ hơn là vào nhà hàng. Quán “mì đứng” là quán mì không có ghế, người ăn phải đứng và quay lưng ra đường nhưng phần đầu và lưng được che bằng những tấm màn vải vẽ chữ trên đó đôi khi có đề giá tiền nhờ đó mà mình biết được giá cả có thích hợp với túi tiền của mình hay không? Hẹn với các cô gái Nhật Bản đừng bao giờ hẹn ở quán “mì đứng” hay Sushi Bar mà phải hẹn ở ga xe điện sau đó vào quán cà phê lịch sự và lãng mạn trữ tình vì mới quen các cô không tự  nhiên khi ăn uống và nhớ phải đúng giờ, tới trễ là...hỏng! Và nhớ bận đồ Veste thắt cà vạt đàng hoàng vì bên đó ra đường là vậy, homeless còn phải mặc đồ Veste! 

                                            Vũng khoáng chất nóng trong Yellowstone

VÀI NÉT TỔNG QUÁT VỀ YELLOWSTONE
Yellowstone rất rộng có diện tích lớn hơn 2 tiểu bang Delaware và Rhode Island cộng lại, công viên quốc gia này rộng 3,472 dặm vuông (8,987 cây số vuông), chiều dài từ Bắc xuống Nam là 63 miles (102 cây số), chiều rộng từ Ðông sang Tây  54 miles (87 cây số). Công viên có 5 cửa để ra vào là cửa Tây, Bắc và Ðông Bắc thuộc tiểu bang Montana, còn cửa Ðông và Nam thuộc Wyoming. Idaho tuy có chung một phần ranh giới với Yellowstone nhưng không có cửa nào để ra vào Yellowstone. Vào mùa Ðông băng tuyết làm ngập các con đường nên các cửa khác đều đóng duy chỉ có cửa Bắc là mở quanh năm nơi đây có làng nhỏ Gardiner du khách thích thú vì có phong cách làng cao bồi miền Viễn Tây và những ai thích nhìn thú hoang thì đường từ cửa Bắc vào là vùng chúng hay sinh sống. Mỗi cửa ra vào công viên đều có trạm thâu lệ phí và giá là 20$ một xe có giá trị trong 7 ngày có thể vào cả 2 công viên Yellowstone và Grand Teton.

Ðường xá trong công viên Yellowstone không mấy tốt và thỉnh thoảng thú hoang như trâu rừng, nai, gấu băng qua nên vận tốc cho xe cộ trong công viên tối đa là 45 mile một giờ, có nơi còn giảm xuống 35 hay 25 mile. Hệ thống đường trong Yellowstone nhìn trên bản đồ là 2 vòng tròn dính với nhau, vòng trên gọi là Upper Loop và vòng dưới là Lower Loop.

THÚ HOANG TRONG YELLOWSTONE
Sau khi xe qua cửa Tây để vào Yellowstone là chúng tôi gặp ngay một con nai lớn Elk đang ăn cỏ bên đường. Tài xế Gerald dừng lại cho chúng tôi xuống xe chụp hình và nai có lẽ quen với cảnh này nên cũng an nhiên gặm cỏ. Sau đó trên đường vào đến Madison là ngả ba để vào con đường Lower Loop chúng tôi gặp rất nhiều trâu rừng Buffalo hiền lành gặm cỏ. Những con trâu này đầu to nhưng đít lại teo, bốn chân ốm khẳng khiu và để chống lạnh chúng có bộ lông dầy trên đầu và lưng như phủ một tấm mền, bộ lông không mượt lại rối bời loe hoe vàng trông rất dơ dáy thảm não. Có lẽ đây là những trâu già (lại thích gặm cỏ non cho mềm) không còn hơi sức để đi xa còn đám trâu trẻ chắc giờ này bay nhảy theo trâu khác ở trong rừng sâu. Gấu thì không thấy và Gerald là hướng dẫn viên du lịch đã đưa du khách vào đây hơn chục lần thì anh ta cho biết chỉ thấy gấu xuất hiện có một lần. Thường muốn xem thú hoang dã xuất hiện phải đi thật sớm vào buổi sáng hoặc lúc hoàng hôn là lúc trời mát chúng đi ăn còn trưa nắng thì chúng vào rừng trú ẩn dưới bóng cây.

Ðộng vật hoang dã trong Yellowstone hiện nay gồm có:
Trâu Rừng (Buffalo hay Bison) có từ 2,000 đến 2,500 con
Dê Sừng To (Bighorn Sheep) có từ 150 đến 225 con
Gấu gồm 2 loại gấu đen và gấu Grizzly độ 1,000 con
Nai loại Elk (sừng lớn có nhiều nhánh) chừng 35,000 con
Nai lớn Moose (đầu như lạc đà, sừng có những bản dẹp) từ 300 đến 500 con
Nai nhỏ Mule Deer độ 2,500 con
Các loại mèo rừng:
Mountain Lion ( 2 loại Cougar và Puma) có chừng 18 đến 24 con
Bobcat và Lynx rất hiếm
Các loại chó rừng:
Coyotes có rất nhiều
Gray Wolves có 162 con
Ngoài ra còn có rất nhiều giống thú nhỏ như các loại Thỏ, Chuột, Rùa, Ếch Nhái, Rắn, Thằn Lằn, Dơi, Chim và Cá.

TRÂU RỪNG BUFFALO
Trâu rừng ở Yellowstone cũng có bà con họ hàng với trâu VN chúng ta nhưng vì thời tiết nơi địa phương chúng sinh sống nên thân hình thay đổi cho thích hợp để sống còn trong môi trường mà chúng hiện sống. Trâu ở Yellowstone tên đúng của chúng là American Bison nhưng người Mỹ thường gọi là Buffalo trong khi trâu ở VN và các nước Ðông Nam Á được gọi là Water Buffalo. Trâu Bison là loài động vật có thân hình to lớn nhất ở lục điạ Mỹ Châu sống nơi hoang dã, thời xưa chúng sinh sống từ Mễ Tây Cơ lên tận đến Canada và phiá Ðông từ Pennsylvania qua đến dãy núi Rocky Mountains ở phiá Tây và là thứ thịt chính yếu của người da đỏ để họ ăn sống, nướng chín hay phơi khô ăn trong mùa Ðông. Khi người da trắng Âu Châu tìm thấy Mỹ Châu số trâu Bison sinh sống ở đây lên đến từ 30 đến 60 triệu con, mỗi lần chúng lội qua sông là tàu thuyền phải ngừng lại và chúng còn làm xe lửa trật đường rây! Vì người ta giết để ăn thịt nên đến năm 1870 chỉ còn 5 triệu rưỡi con. Vào thập niên 1880 chỉ còn vài ngàn con và 2 phần 3 là sống bên đất Canada. Người Mỹ mới ra những đạo luật bảo vệ chúng cho khỏi bị diệt chủng và lập những công viên quốc gia như Yellowstone chẳng hạn cho chúng sinh sống và săn sóc bảo vệ chúng chống lại bịnh tật nhất là bịnh Brucellosis do vi trùng Brucella từ Âu Châu truyền sang theo những đàn bò ngựa được chở bằng tàu từ Âu Châu qua.

Năm 1902 toàn vùng Yellowstone chỉ còn chừng 50 con Bison, chính quyền phải mua thêm 21 con từ 2 trại nuôi của tư nhân và đàn Bison còn lại này được nuôi ở trại Lamar Valley trong vùng Yellowstone. Ðàn Bison được săn sóc, có đủ cỏ ăn, nước uống, được bảo vệ khỏi bị Mountain Lion, chó sói tấn công và được chủng ngừa phòng bịnh nên số Bison gia tăng. Năm 1936 đàn Bison ở Yellowstone được thả trở lại vùng hoang dã ở Firehole River và Hayden Valley. Từ đó số trâu rừng Bison gia tăng cho đến ngày nay trong công viên Yellowstone là khoảng 2,500 con và có những năm lên đến 3,500 nhưng chính quyền chỉ giữ ở mức đó mà không cho gia tăng. Những đàn trâu Bison đi vượt ra ngoài khỏi công viên Yellowstone và Grand Teton thì người dân được quyền săn và sau khi được vệ sinh kiểm nghiệm họ có quyền hạ thịt. Trâu Rừng Tiềm Thuốc Bắc chúng tôi ăn đêm qua ở Idaho Falls có lẽ do người ta săn hay nhà hàng mua từ trại chăn nuôi tư nhân.


Năm 2000 trên toàn quốc có khoảng 120,000 trâu rừng Bison đa số là trong các trại chăn nuôi tư nhân. Trâu Bison thân hình to lớn cao hơn 6 feet và có con nặng đến 2,000 pounds trong khi con cái nhỏ hơn thường nặng 900 pounds. Chúng có đầu rất to vì xương trán lớn vồ ra mà mùa Ðông chúng dùng để ủi lớp tuyết tìm cỏ để ăn. Trâu rừng Bison có ngoại hình xấu xí như quái vật nhưng chúng trường chay không khi nào ngã mặn, ăn toàn cỏ và cây lá. Trên lưng chúng có một cái gù nên phần vai cao hơn phần đuôi, con đực cũng như con cái đều có sừng nhọn chĩa ra ngoài nhưng sừng con đực thì lớn và dài hơn. Trên đầu trâu rừng có khi kéo dài xuống tới lưng có nhiều lông màu đen hay hoe vàng và phần lông này mọc vĩnh viễn trong khi mình và đuôi thì lông thay mỗi năm. Dưới càm trâu lại có một chùm râu loe hoe và nhọn giống như râu dê làm cho bộ mặt trâu xấu xí nhưng có chút khôi hài.

Xem trâu rừng cũng đã chán chúng tôi lên xe xuôi Nam trên con đường Lower Loop, đoạn đường từ Madison đi Old Faithful độ 12 miles qua một vùng lòng chảo có tên gọi là Geyser Basin có rất nhiều vòi phun nước do thiên nhiên tạo thành được gọi là Geyser. Những vòi phun này do áp suất của hơi nước nóng từ những suối ngầm trong lòng đất thoát ra bằng những lỗ trên mặt đất tạo thành. Có những vòi nước vài ba ngày mới phun bắn lên một lần nhưng có những cái vài tiếng đồng hồ và nổi tiếng nhất là Geyser có tên là Old Faithful thì chu kỳ phun rất đều cứ mỗi tiếng đồng hồ từ ngày này qua ngày khác, năm này sang năm khác và cột nước trắng xóa bắn lên cao đến hơn 100 feet. Trong Yellowstone có hơn 300 nơi phun nước với nhiều kiểu cách khác nhau, cái phun thẳng, cái phun nghiêng, cái bắn lên cao, cái sôi sùng sục như hồ tắm whirlpool trong Health Spa. Mỗi hồ phun có nước xanh biếc và đất xung quanh trắng như vôi hay vàng nghệ và có nơi lại có màu nâu đỏ và lúc nào cũng bốc khói, mờ mờ sương phủ. Truyên cổ tích ngày xưa Mục Kiền Liên đi tìm mẹ dưới âm ty hỏa ngục thì phải đi qua cây cầu phía dưới là những vũng nước sôi sùng sục và đầy những con chó ngao hung dữ. Kẻ làm ác đều bị qủy chĩa thanh ba đẩy xuống không sót một người nào. Nơi đây du khách cũng phải đi trên những cây cầu gỗ và phiá dưới cũng là những vũng nước sôi nhưng không có chó ngao và bên trên trời xanh rất đẹp. Không biết quang cảnh nơi đây giống thiên đàng hay hỏa ngục? Hai nơi ấy những người đã tới vì lấy vé “one way ticket” nên...đi luôn không bao giờ kể lại như thế nào? Nhưng nơi đây là cảnh thật có trên trần gian.

Trịnh Hảo Tâm

Monday, May 7, 2012


KÝ SỰ DU LỊCH
LÊN THĂM GRAND TETON, WYOMING
(Bài 4 trong loạt bài đi Yellowstone)


Grand Teton là một vùng non cao cảnh đẹp tuyệt trần nằm phiá Nam thắng cảnh Ðá Vàng (Yellowstone) ở tiểu bang Wyoming. Mặt hồ xanh phẳng lặng in bóng núi cao phủ đầy tuyết trắng và rừng tùng xa tít bạt ngàn, dòng sông uốn khúc bên những đồng cỏ xanh và những đàn trâu rừng buffalo nhởn nhơ gặm cỏ là những hình ảnh êm đềm mà du khách thường gặp ở Grand Teton.

                                              Tác giả trước công viên quốc gia Grand Teton

Rời Salt Lake City vào lúc hơn 11 giờ chúng tôi vào xa lộ 89 theo hướng Bắc, 2 giờ sau khi gần tới biên giới tiểu bang Idaho đổi sang xa lộ quen thuộc 15. Ðây là con đường cái quan vạn dặm đi từ California sang tận đến Canada. Idaho là một vùng nhiều núi non, rất thưa thớt dân cư, toàn tiểu bang chỉ có 1,280,700 dân và thành phố lớn nhất cũng là thủ đô là Boise nằm bên phiá Tây gần Oregon. Xe chúng tôi qua những ruộng trồng khoai tây ngút ngàn trải dài cả 10 miles không thấy nhà cửa, không một bóng người, rồi qua những ngôi làng nhỏ có một ngôi nhà thờ chắc là đạo Mormon và vài chục nóc gia với vài ba tiệm tạp hóa, không có thương xá hay siêu thị. Lúc này đã hơn 2 giờ chiều nhìn vào làng quê vắng vẻ, vài thiếu niên da trắng ngồi trên hàng rào dưới bóng cây trước nhà tán gẫu với nhau, trông chúng ngây thơ hiền lành nhưng phảng phất một nét quê khác những đứa trẻ thành thị và đây là lần đầu tiên sau mấy chục năm sống trên đất Mỹ tôi mới thấy được cảnh nông thôn Hoa Kỳ. Tôi vốn là người yêu thiên nhiên, chuộng cảnh nhàn nhưng bị dòng đời đưa đẩy, từ ngày vượt biển tỵ nạn qua đây quen cảnh thành thị nên thấy đời sống ở đây sao vắng lặng, quá buồn. Nhưng đối với người dân Mỹ ở đây chắc họ không thấy buồn mà vẫn vui tươi hạnh phúc vì quen lối sống nhà nông ở đây, ra thành thị nhà cửa mắc mỏ, làm trong những hãng xưởng phải lái xe tất bật, giờ giấc bó buộc như nhà tù mà còn đòi hỏi phải có tay nghề chuyên môn. Có offer job thơm, lương cao bổng hậu chưa chắc gì họ chịu bỏ làng mà đi. Nơi đây công việc thảnh thơi nhàn nhã, sáng cả nhà quây quần ăn sáng, sau đó con cái đến trường, người chồng lái xe ra ruộng làm, nơi đó có nhà vựa để sẵn máy cày, máy kéo và người phụ nữ ở nhà lo việc nội trợ bếp núc. Cuối tuần cả làng tụ tập ở nhà thờ nghe thánh ca, mục sư  giảng lời sống đạo và sau đó quây quần ăn uống đàm đạo, sinh hoạt học đường, thể thao, văn nghệ. Gia đình gắn bó với họ đạo, xóm làng nên họ không thấy cô đơn, buồn chán. Hàng xóm gần gủi chia sẻ những chuyện vui buồn, “một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”, một nhà chẳng may có việc khó khăn là cả nhà thờ an ủi, giúp đỡ. Cuộc sống nông thôn của họ êm đềm như dòng sông chảy qua đồng cỏ. Trước đây tôi nghĩ nước Mỹ ở đâu cũng vậy, cũng bị kỹ nghệ hóa, đời sống không còn thời giờ, nhiều căng thẳng bất an nhưng hôn nay tới đây có dịp nhìn cảnh thôn quê xứ Mỹ mới thấy đất nước văn minh này vẫn còn những nơi đồng xanh êm ả, đời sống thanh thản, không có nhiều thứ mà mình tưởng là “nhu cầu” nhưng thực ra là không cần thiết, tưởng có chúng sẽ mang tiện nghi, sung sướng nhưng thực ra càng vướng vào rắc rối hệ lụy triền miên không lối thoát!

Ðộ hơn 40 miles sau khi qua biên giới vào đất Idaho, xe chúng tôi rẽ mặt sang con đường 30 đi về hướng Ðông, rồi 34 và 89 để đi đến thị trấn Jackson. Ðây là những con đường núi ngoằn nghèo nhưng cũng dễ đi không dốc lắm và hai bên đường phong cảnh khá đẹp, đoạn cuối cùng trước khi nhập vào xa lộ 191 con đường men theo dòng sông Rắn (Snake River) là một con sông nước chảy mạnh và uốn khúc rất lôi cuốn những người chơi canoe vượt thác. Ðây là một môn thể thao đầy hứng thú tạo cảm giác mạnh và cũng rất nguy hiểm như môn chơi leo núi. Xe chúng tôi chạy ở trên đường cao và nhiều lần bắt găp những thuyền canoe đầy người mang áo phao đỏ chèo chống trên dòng suối chảy mạnh.

PHỐ NÚI JACKSON

Chúng tôi đến Jackson, đây là một thị trấn nhỏ nhà cửa, phố xá làm bằng cây như một làng trong phim cao bồi. Jackson sống bằng nghề du lịch, đón tiếp du khách đến trượt tuyết, chèo thuyền, câu cá, leo núi hay đơn giản hơn là đi nghỉ dưỡng, thư giãn và ngắm cảnh. Tại Jackson còn có nhiều môn giải trí miền viễn tây như Rodeo là trò thi cỡi bò rừng, người cỡi phải ôm ghì bò thật chặt cho khỏi bị hất văng xuống đất trong khi bò rừng nhảy dựng lên vì không muốn ai trèo trên đầu trên cổ mình. Du khách đến đây thường là mùa hè từ tháng 6 cho đến giữa tháng 9 vì mùa khác thời tiết rất lạnh. Vì gần thắng cảnh Yellowstone nên du khách đến đây với mục đích chính là đi Yellowstone và ban đêm về Jackson ngủ vì khách sạn nơi đây rẻ và dễ mướn hơn là ở Yellowstone. Jackson cũng là thị trấn chính của Grand Teton nằm dưới đồng bằng và Grand Teton thì nằm trên núi cao. Ðoàn du lịch VN chúng tôi 15 người dừng lại nơi đây 1 tiếng rưỡi đồng hồ để ăn trưa và đi loanh quanh dạo phố. Ða số là nhà hàng Mỹ, Pháp, Ý, Ðức, Mễ, có cả món ăn Da Ðỏ (Native American), Nhật và Thái Lan nhưng thời điểm đó chưa thấy nhà hàng Tàu hay tiệm Phở. Trong một số nhà hàng Mỹ có bán những món ăn đặc sản vùng này là thịt trâu rừng (buffalo hay còn gọi là bison) và thịt nai (elk) họ chế biến thành steak, hamburger, sausage và thịt khô (jerky) có thể mang về làm quà phương xa. Trong khu trung tâm thị trấn có một công viên nhỏ mà cổng vào kết với nhau không biết bao nhiêu là sừng nai chừng hàng trăm cái. Sừng nai gắn ở đây thì còn chứ ở Á Châu chỉ qua vài đêm là không còn một cái vì dân Á Châu nhất là người Hoa xem sừng nai là một thứ thuốc bổ dương trong Ðông Y gọi là lộc nhung, người ta mài ra lấy bột để uống. Không biết có hiệu quả hay không? Hay “uống gì bổ nấy” thay vì “bổ dương” đâm ra “mọc sừng” thì càng “mệt” hơn nữa! Rất nhiều trường hợp “mọc sừng” là biến chứng của bệnh suy dương bất lực!

Cổng kết bằng sừng nai ở thị trấn Jackson

GRAND TETON NATIONAL PARK

Rặng núi Grand Teton hùng vĩ này dài 40 miles và rộng từ 7 đến 9 miles nằm dọc theo hướng Bắc Nam, tất cả có 12 ngọn cao hơn 12,000 feet trong đó ngọn cao nhất là Grand Teton 13,772 feet. Rặng núi quanh năm tuyết phủ, khi tôi đến đã cuối hè nhưng trên đỉnh vẫn còn tuyết trắng là tuyết của năm trước chưa tan hết trong khi tuyết mới có thể rơi vào cuối tháng 9 hay đầu tháng 10. Từ Jackson du khách có thể chụp cảnh dãy núi Grand Teton nhưng muốn lên trên đó thì phải dùng đường 22 và rẽ phải vào 390 đi vài miles sẽ tới Teton Village và cạnh đó về hướng núi là Jackson Hole Mountain Ski Resort nằm trong thung lũng hẹp có tên là Jackson Hole nơi đây du khách tha hồ trươt tuyết hay mua những Tour du hành tùy theo sở thích của mình như Teton Wagon Train hoặc du ngoạn bằng thuyền Scenic Float Trip, Grand Teton Float Trip và muốn có cảm giác mạo hiểm vượt thác thì Snake River Raft Trip hay tham dự những chuyến leo núi. Ði lên hướng Bắc vài miles sẽ gặp hồ Jackson Lake trong vắt, mặt nước bạc lặng lờ in hình rặng Grand Teton đầy tuyết trắng. Ðây là một bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ rất hấp dẫn những nhà nhiếp ảnh hay vẽ tranh. Ngoài Jackson Lake là hồ lớn nhất rộng 25,540 acres và có nơi sâu đến 438 feet nước đổ vào sông Snake qua một cái đập để điều hòa lưu lương cho khỏi ngập lụt, còn có 6 hồ khác nữa là các hồ Leigh, String, Jenny, Bradley, Taggart và Phelps tất cả đều nước trong, hồ bạc rất nên thơ, tĩnh mịch, êm đềm.

                                                         Dãy núi tuyết phủ Grand Teton

Thời tiền sử từ 11 ngàn năm trước đã có người đến vùng Jackson Hole để săn thú trong mùa ấm từ xuân đến thu và sau này có nhiều bộ lạc da đỏ như Shoshoni, Flathead và Blackfeet đến cư ngụ. Người da trắng đầu tiên đến đây vào năm 1808 là John Colter và tiếp đến nhiều thợ săn đến để bẫy thú lấy da và lông bán cho kỹ nghệ làm quần áo và thời cực thịnh mua bán da thú là vào thập niên 1820. Ðến những năm 1830 da và lông thú giảm giá nên người ta đã quên đi Jackson Hole cho tới những năm 1860 và 1870 những nhà thám hiểm đo đạc lập bản đồ thuộc quân đội được phái tới và sau đó cuối thế kỷ 19 một ít dân chúng mới đến ở. Năm 1910 có gia đình của 4 người đến xây nhà ở Jackson Hole là Jackson, Wilson, Kelly và Moran và tên của họ ngày nay được đặt cho những thị trấn trong vùng. Ở Little Saigon (Nam Cali) cũng có con đường Moran trước thương xá Phước Lộc Thọ. Thị trấn Jackson nằm dưới vùng bình nguyên là cửa ngõ vào thung lũng và là trung tâm thương mại, năm 1914 được thành lập thành phố và được chọn là quận lỵ của Teton County.

Mặt hồ phẳng lặng soi bóng Grand Teton

Grand Teton trở thành công viên quốc gia năm 1929 và đến năm 1950 được nới rộng lãnh thổ nâng diện tích lên 310 ngàn mẫu như ngày nay. Grand Teton National Park là vùng bảo tồn thiên nhiên nên việc săn bắn hoàn toàn bị cấm nhưng câu cá thì được phép và phải có license. Những động vật hoang dã sống trong vùng gồm có:
-         17 loại ăn thịt sống như gấu, sư tử núi, chó sói
-         6 loại có sừng như trâu rừng, nai, mễn, dê
-         3 loại thỏ, 22 loại chuột bọ, 4 loại bò sát (không có nọc độc), 5 loại ếch nhái, 16 loại cá, 6 loại dơi và 300 giống chim.

Về thực vật có 7 loại thông, tùng bách và hơn 900 loại cây có hoa.

Grand Teton thật là thiên đàng hạ giới, một cõi thiên thai có cảnh non bồng, nước nhược, trời xanh, núi tuyết, suối reo, hồ bạc và nhiều hoa thơm cỏ lạ. Nhà thơ Phạm Thiên Thư ước mơ ngày nào đó sẽ tìm được động hoa vàng để ngủ say, nếu ông còn sống đến đây chắc sẽ mãn nguyện hài lòng:

Mai sau trời đất thái bình
Về lưng núi phượng một mình cuồng ca
Gây giàn thiên lý vàng hoa
Lên non cắt cỏ lợp nhà tụ mây
Xuống đầm tát cá xâu cây
Bới khoai vùi lửa nằm dài nghe chim
Khách xa nhớ đến nhau tìm
Lên đồi trẩy một giỏ sim làm qùa
Hứng nước suối thết bình trà
Hái bầu nấu bát canh hoa...cười khàn
Vào hang núi nhập niết bàn
Tinh anh nở đóa hoa vàng cửa khe
Mai sau thí chủ nào nghe
Tìm lên xin hỏi một bè mây xanh
Hoa vàng ta để chờ anh
Hiện thân ta hát trên cành tâm mai
Trần gian chào cõi mộng này
Sông ngân tìm một bến ngoài hóa duyên.
(Ðộng Hoa Vàng - Phạm Thiên Thư)

TRỊNH HẢO TÂM

Wednesday, May 2, 2012


KÝ SỰ DU LỊCH
SALT LAKE CITY, THÁNH ÐỊA MORMON
Bài 3 trong loạt bài đi Yellowstone
TRỊNH HẢO TÂM



Salt Lake City là thủ đô tiểu bang Utah đồng thời cũng là thánh địa giáo phái Church of Jesus Christ of Latter-day Saints hay còn được gọi là đạo Mormons. Salt Lake City là một trong những thành phố lớn nằm trong vùng núi Rocky Mountains miền trung tây Hoa Kỳ. Thành phố có ngôi giáo đường uy nghi nằm trong thung lũng xanh tươi, phía đông và bắc được núi cao che chở những đợt gió lạnh, tây bắc là biển hồ Great Salt Lake đem hơi mát trong những tháng hè. Ðến Salt Lake City du khách sẽ thấy tâm hồn thanh thản, nghe những hồi chuông ngân và được tiếp đón bởi những cô gái Mormons xinh đẹp đầy thánh thiện.

Hôm nay là ngày thứ ba trong chuyến du lịch bằng xe buýt 7 ngày đi Yellowstone do hãng du lịch Ðài Loan ABC tổ chức. Ðoàn chúng tôi gồm toàn thân nhân, bạn bè do ông Nguyễn Ngọc Liên (Ðoan Trang Dịch Vụ) tổ chức mà ông gọi là hội Thanh Nhàn đi riêng trên một xe buýt hiệu Ford nhỏ. Quân số trong đoàn còn lại 15 người sau khi có 5 vị sợ xe tiếp tục hư nên bỏ cuộc khi đến Las Vegas. Ðêm qua chúng tôi ngủ tại khách sạn Best Western ở thành phố Odgen ngoại ô phía bắc của Salt Lake City và sáng hôm nay quay ngược trở lại để viếng thăm thành phố Salt Lake City với 2 địa điểm quan trọng sắp đến thăm là thánh địa Temple Square của giáo phái Mormon và toà nhà lập pháp State Capitol của tiểu bang Utah. Sau đó tiếp tục lên hướng bắc ghé Grand Teton National Park một vùng núi cao nổi tiếng về trượt tuyết và tối sẽ vào tới Yellowstone để ngủ 2 đêm tại đây trong nhà gỗ (Lodge) giữa rừng thông núi non hữu tình. Chương trình nghe qua thì rất thú vị nhưng có đến tận nơi thì mới biết vàng đá ra sao, hay dỡ thế nào? Biết đâu chỉ là:

Chưa đi chưa biết Ðồ Sơn
Có đi mới biết không hơn...đồ nhà!
Đồ nhà tuy có hơi già
Nhưng là đồ thật hơn là đồ sơn!

Kệ, đến đâu thì đến, đi đâu thì đi, tất cả mọi việc đều có hướng dẫn viên kiêm tài xế Gerald lo, mình chỉ lo chân cẳng cho cứng và lo máy ảnh sạt pin đầy đủ, ghi nhận những nơi đã qua, quan sát phong cảnh như thế nào để về ngồi viết lại mua vui cho độc giả. Ði cũng thú và về xem lại ảnh, viết tường thuật cũng là cái thú. Ðời người có nhiều thú vui, nhiều người còn nhỏ ham đá gà, về già mê đua ngựa! Thường thú vui nào cũng tốn thì giờ, hao tiền bạc nhưng thú du lịch đi ngắm hoa thơm cỏ lạ, tìm đào tiên trên những vùng...núi lửa là thú lành mạnh, thanh cao, học hỏi được nhiều vì cổ nhân ta thường nói “Ði một ngày đường, học một sàng khôn”! Về ngồi viết lại đăng báo và in sách, trước mua vui sau...kiếm chút cháo sống qua ngày! Nhiều khi trong những chuyến đi giống như những con bò, khi được chủ thả ra đồng, cố ngoặm cỏ cho nhiều vào túi chứa để rồi khi nào rỗi rảnh ngồi nhai lại, gặm nhắm những dư vị.

Chẳng mấy chốc xe vào khu trung tâm thành phố, đường xá rộng rãi lại vắng xe khác hẳn với Los Angeles lúc nào cũng tất tả ngược xuôi. Khách đi bộ có lẽ là những công chức trên đường đến sở, nhân viên tài chánh ngân hàng toàn là người da trắng, không thấy người da đen hay da màu Mễ Tây Cơ như ở Santa Ana. Theo thống kê năm 2000, dân số thành phố là 181,743 người, có 80% là dân da trắng, người gốc Mễ Tây Cơ là 34,254 người (18.8%) và Việt Nam là 1,685 người (0.9%). Khu trung tâm thành phố tôi thấy có 2 tiệm phở và tiệm Nail có vẽ trên kính “bàn tay 5 ngón kiêu sa” khác kiểu với bàn tay của các giáo sư chiêm tinh gia. Bàn tay shop Nail thì úp chỉ thấy mặt ngoài, còn bàn tay của các giáo sư lại đưa mặt trong. Nhưng các chiêm tinh gia (Palm Reader) người Mỹ (đa số là đàn bà) không dùng dấu hiệu bàn tay mà lại dùng các lá bài! Có lẽ là xem bói bằng bài hay xem bói trước khi đi casino đánh bài?

TEMPLE SQUARE
Thánh địa giáo phái Mormon chiếm nguyên một khu gồm nhiều block đường gọi là Temple Square ngay tại trung tâm thành phố phía đông xa lộ 15 nơi góc đường Main và Temple. Từ xa đã nhìn thấy ngôi nhà thờ đồ sộ sơn trắng với 6 tháp nhọn cao nổi bật bên cạnh những buyn đinh cao ốc khu trung tâm thành phố. Chúng tôi đậu xe ngoài đường và đi bộ vào Temple Square. Khu thánh địa rộng 10 mẫu có những bãi cỏ xanh và cây cảnh được chăm sóc cẩn thận. Gerald hướng dẫn chúng tôi đến tập trung tại cột cờ và vài phút sau có một cô gái Mỹ da trắng tóc vàng có dáng dấp sinh viên đến giới thiệu mình là hướng dẫn viên tình nguyện cho giáo hội sẽ đưa chúng tôi vào thăm các cơ sở trong Temple Square.


NORTH VISITOR CENTER
Từ cột cờ đi vào, North Visitor Center là ngôi nhà đầu tiên du khách được đưa đến. Trong đại sảnh ở tầng chánh như một hội trường có ghế ngồi hướng về một tượng Chúa Jesus Christ cao 11 feet đặt trên cao. Nơi đây chúng tôi được xem slide show và thuyết minh bằng tiếng Việt (có 40 ngôn ngữ khác nhau được thu sẳn) sơ lược quá trình của giáo hội. Dưới tầng hầm là phòng triển lãm dựng những mô hình kể lại cuộc đời của Chúa với sa bàn thành phố Jesusalem vào thế kỷ thứ nhứt.

THÍNH ÐƯỜNG TABERNACLE
Thính đường Tabernacle là một kỳ công về kiến trúc rất đặc biệt tọa lạc ở hướng nam cạnh North Visitor Center. Thính đường được xây từ năm 1863 hoàn tất trong 4 năm, có mái che hình cong úp như mai rùa do sáng kiến của ông Brigham Young là người sáng lập giáo hội và có công khai phá vùng đất Utah. Theo ông thì mái nhà có hình vỏ trứng có chiều rộng đến 150 feet mà không có một cột nào chống đỡ để tránh làm áng tầm mắt của khán thính giả theo dõi những buổi hợp xướng, hòa nhạc. Sức nặng của mái nhà được vách hình vỏ trứng chịu đựng.


Thính đường là cơ sở chính của ban hợp xướng Mormon Tabernacle Choir gồm 360 ca viên  và ban nhạc sử dụng những nhạc cu, nhạc khí gồm 110 người tất cả đều là tín hữu của giáo hội, họ hoạt động tình nguyện không có lương. Ban hợp xướng Tabernacle là một ban nhạc lớn nhất và lâu năm nhất trên thế giới được thành lập năm 1847 từ ngay những ngày đầu người Mormon di cư đến Utah. Ðối với đạo Mormon, âm nhạc rất quan trọng để đưa tâm hồn đến gần Thiên Chúa, để con người yêu nhân loại và thiên nhiên. Ngay thời xưa khi di dân đến vùng Salt Lake, trên những wagon do ngựa kéo đã có những ban ca nhạc và khi chiều xuống giáo dân vây quanh để thưởng thức những bản thánh ca, quên đi nhọc mệt và giữ vững đức tin. Ban Mormon Tabernacle Choir dẫn đầu về trình diễn trước các nguyên thủ quốc gia, có số dĩa thu bán nhiều nhất và nhận nhiều giải thưởng âm nhạc. Cố tổng thống Ronald Reagan tặng ban nhạc danh hiệu “America’s Choir” khi ban nhạc trình tấu trong buổi lễ tuyên thệ nhậm chức của ông năm 1981. Thế vận hội mùa đông năm 2002 được tổ chức tại Salt Lake City ban nhạc đã chơi 20 buổi kể cả trong nghi thức khai mạc và bế mạc thế vận hội. Hàng năm ban nhạc đi lưu diễn nhiều nơi và có bán vé. Ban nhạc đã trình diễn ở 28 quốc gia trên thế giới. Du khách có thể đến thính đường Tabernacle xem ban nhạc trình diễn miễn phí trong các buổi tập dợt, hàng tuần mỗi tối thứ năm từ 8 đến 9 giờ 30 và sáng chủ nhật từ  8 giờ 15 đến 10 giờ. Buổi tập dợt sáng chủ nhật được trực tiếp truyền hình trên TV.

Thính đường Tabernacle bên trong được thiết kế hệ thống cách âm toàn hảo. Một cây kim ghim giấy rơi xuống sàn trên cung trình diễn có thể nghe được tiếng kim rơi ở cuối thính đường cách 170 feet! Trên cung trình diễn còn có một giàn phong cầm (organ) khổng lồ có đến 11,623 ống thanh âm bằng kim loại do ông Josepth Harris Ridges thiết trí. Gỗ làm đàn được các tín đồ lên núi hạ cây lấy gỗ đem về đục đẻo công phu ráp nối thành cây đàn.

SALT LAKE TEMPLE
Ðây là ngôi thánh đường to lớn đồ sộ nhất trong khu thánh địa Temple Square mà từ xa du khách đã nhìn thấy. Ngôi giáo đường sơn trắng uy nghi có 3 tháp phiá trước và 3 tháp phiá sau. Tháp giữa cao và lớn hơn tháp hai bên. Trên đỉnh tháp cao nhất (210 feet) có tượng thiên thần Moroni cao 12.5 feet làm bằng đồng và thếp (mạ) vàng lá bên ngoài. Salt Lake Temple được đặt viên đá đầu tiên xây dựng ngày 6-4-1853 nhưng công việc xây cất kéo dài đến 40 năm mãi tới năm 1893 mới hoàn tất. Giáo chủ Brigham Young là người khởi xướng việc xây cất nhưng ông không được chứng kiến ngày khánh thành mà là người thứ tư kế nhiệm ông.
Thánh đường được xây bằng đá hoa cương (granite) lấy từ Little Cottonwood Canyon về phiá nam cách vài miles và chở đến bằng xe ngựa. Ðá được đẽo bằng búa và dùi lỗ bằng tay nên công việc rất lâu. Nền móng chân nhà thờ là tường dầy 16 feet và sâu xuống lòng đất cũng 16 feet. Kinh phí hoàn tất ngôi nhà thờ là 3 triệu rưỡi đô la, số tiền rất lớn vào cuối thế kỷ 19.

Có lẽ vì muốn giữ không khí thiêng liêng cho việc thờ phụng mà nhà thờ không đón du khách vào bên trong tham quan nên chúng tôi chỉ đứng bên ngoài mà quan sát.

ASSEMBLY HALL
Nằm về hướng nam cạnh 3 tòa nhà vừa kể, có dáng dấp như một nhà thờ với tháp chuông cao và nhọn theo kiến trúc Gothic. Ngôi nhà được xây năm 1877 với những cửa sổ gắn kính màu (stained glass).

Bên kia đường Main khu đất rộng một block đường cũng là cơ sở của giáo hội có ngôi nhà cổ Beehive House là nơi sinh sống của ông Brigham Young ngày trước. Ngôi nhà lớn bằng gỗ màu trắng 2 tầng lầu, bên trên có bao lơn (balcony) là nơi mỗi chiều gia đình giáo chủ Young tụ họp cầu nguyên và ca tụng Chúa. Ngôi nhà hiện còn tiếp đón du khách và có người hướng dẫn tham quan. Tất cả những Tour tham quan đều miễn phí và do những tín đồ hướng dẫn giải thích cho du khách rất nhiệt tình.

Toà cao ốc đồ sộ 28 tầng gần đó là Church Office Building là văn phòng điều hành giáo hội. Giáo hội đến khai mở thành phố Salt Lake City nên làm chủ rất nhiều bất động sản trong thành phố và một số công ty kinh doanh, sản xuất. Du khách có thể lên ngắm cảnh thành phố trên tầng cao nhất là Observation Deck, nơi đây sẽ nhìn thấy biển hồ phiá tây bắc và toà nhà State Capitol dưới chân dãy núi.

Trong khuôn viên rộng lớn Temple Square còn có Museum of Church History and Art, Family History Library, South Visitor Center và thính đường mới nhất vừa hoàn tất tháng 4 năm 2000 là Conference Center có 21,000 ghế ngồi và một rạp hát nhỏ bên cạnh có thể mở ăn thông có thêm 850 ghế nữa. Thính đường này cũng trang trí bằng đá hoa cương lấy cùng nơi với đá xây nhà thờ lớn Salt Lake Temple.

Tín đồ đạo Mormon trong cuộc đời ít nhất một lần phải hành hương về Temple Square và họ trích ra hàng năm 10% thu nhập để dâng giáo hội. Họ phải mặc áo quần lót đặc biệt và kiêng cử không uống coca cola, trà và cà phê. Trong gia đình chỉ có người chồng đi làm và người phụ nữ phải ở nhà để săn sóc, nuôi dạy con và đặc biệt ngày trước giáo hội Mormon chấp nhận chế độ đa thê, một ông chồng có thể có nhiều vợ. Ngày nay tuy đa thê đã bị cấm để phù hợp với luật pháp Hoa Kỳ nhưng thỉnh thoảng qua những tin tức trên báo chí tục đa thê vẫn còn tồn tại ở Utah.

Trong khu thánh địa cũng có nhà trọ được gọi là The Inn at Temple Square, du khách muốn nghỉ qua đêm để nghe hòa nhạc và xem đèn hoa chiếu sáng rực rỡ các nhà thờ có thể gọi giữ phòng ở số 1-800-843-4668.

LỊCH SỬ GIÁO HỘI MORMON
Lịch sử  giáo hội Mormon gắn liền với lịch sử tiểu bang Utah vì trước đây đất Utah do người Mormon đến khai phá. Từ miền trung Hoa Kỳ nhóm tín đồ Mormon đầu tiên đi bằng những wagon do ngựa kéo đến vùng thung lũng biển hồ Great Salt Lake vào ngày 21-7-1847. Ông Brigham Young vì bị bệnh phải dừng lại nghỉ đôi ngày nên đến sau vào ngày 24-7 và ngày này giờ đây được gọi là Pioneer Day một ngày lễ lớn của Utah. Tháng 11 cùng năm họ mua căn cứ Fort Buenaventura ( ở Odgen ) và bắt đầu đào kinh dẫn nước từ những con suối trên núi xuống để trồng trọt, chăn nuôi. Họ làm việc rất hăng say xây dựng đuờng xá, hồ chứa nước ngọt. Ðối với dân da đỏ địa phương thay vì đối đầu với họ như người Tây Ban Nha làm trước đây, người Mormon cho lương thực và giúp đỡ họ, tạo hoà khí rất tốt đẹp nhờ vậy thay vì phải chôn chân trong những thành trì, người Mormon thong thả ra ngoài canh tác và xây dựng. Năm sau 1848 vùng thung lũng Salt Lake thuộc chủ quyền Hoa Kỳ từ Mễ Tây Cơ theo hiệp ước Guadalupe-Hidalgo và mùa xuân năm sau đó người Mormon thành lập tiểu bang Deseret, từ ngữ này trong sách Mormon có nghĩa là ong mật (honeybee), kéo dài từ Rocky Mountains đến Sierra Nevada và 5 lần họ xin gia nhập liên bang (Union) nhưng Congress bác bỏ thỉnh cầu này vì đạo Mormon cho phép tín đồ có nhiều vợ. Năm 1857 người Mormon tuyên bố chống lại chính quyền liên bang khiến tổng thống Buchanan lúc bấy giờ ra lịnh cất chức Thống Ðốc của ông Brigham Young và gởi quân đôi đến Utah. Cuối cùng năm 1890 giáo chủ Mormon phải thay đổi giáo luật và cấm đa thê. Năm năm sau hiến pháp tiểu bang được biên soạn bảo đảm việc đa thê sẽ bị cấm vĩnh viễn và nhờ đó Utah được gia nhập Liên Bang trở thành tiểu bang thứ 45 trong Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ.

Chúng tôi giã từ ngôi giáo đường trong thánh địa Mormon ở thành phố Salt Lake City với lòng thanh thản nhẹ nhàng mà không khỏi cảm phục đức tin mạnh mẽ của những tín đồ giáo phái Mormon. Xe buýt chúng tôi gồm 15 người tiếp tục chạy đến toà nhà lập pháp State Capitol Building của tiểu bang Utah nằm gần đó nơi cuối đường State ở về hướng Bắc của thành phố trong một sân cỏ trồng hoa trên ngọn đồi có con suối tên là City từ trên dãy núi cao chảy về..

TOÀ NHÀ LẬP PHÁP UTAH
Cũng như những tiểu bang khác, toà nhà lập pháp Utah sơn trắng với nhiều cột to và toà đại sảnh ở giữa có mái vòm là nửa hình cầu theo kiến trúc La Mã uy nghiêm tráng lệ. Toà nhà lập pháp nằm trên một ngọn đồi thoai thoải nhìn xuống trung tâm thành phố Salt Lake City trong khu đất rộng 40 mẫu gồm bãi cỏ xanh, những luống hoa, vườn cây kiểng được chăm sóc vén khéo. Từ bậc thềm ở hướng Nam du khách có thể thấy hàng cây Kiwanzar được trồng dọc theo lối đi hình tròn và đứng ở bực thềm phiá Bắc người ta sẽ có một phong cảnh hùng vĩ của dãy núi Wasatch và Oquirrh cao chớn chở. Những cây cối trong sân đều có nguồn gốc từ  vùng đất Utah. Chúng tôi tản bộ trong không gian rất yên bình, nhàn hạ, thành phố phía dưới cũng không có nhiều xe nên trời xanh, không khí mát mẻ trong lành. Ở sân phiá Tây có đài tưởng niệm Vietnam Memorial ghi nhớ 388 công dân Utah đã bỏ mình trong cuộc chiến Việt Nam. Khu đất phiá Ðông là đài vinh danh đội quân 500 người Mormon xuất phát từ Iowa thề bảo vệ xứ sở chống lại Mễ Tây Cơ trong chiến tranh năm 1846.

Chúng tôi tiến lên những bậc thềm để vào toà nhà chính, toà nhà được xây cất từ năm 1912 kéo dài đến năm 1916, dùng đá hoa cương lấy từ Little Cottonwood Canyon cùng nơi lấy đá để xây giáo đường Salt Lake Temple. Toà nhà dài 404 feet, rộng 240 và cao 286 feet, có 52 cột đá kiểu Corinthian  và phiá trên cao nhất là mái vòm hình bán cầu gọi là rotunda cao 165 feet bên ngoài được dát bằng đồng là kim loại Utah có rất nhiều quặng mỏ mà chúng tôi sẽ ghé thăm trên đường trở về California. Bên trong trần của mái vòm được vẽ những áng mây và đàn chim seagull là chim tượng trưng cho Utah. Ở trong phòng dưới mái vòm còn có 12 bức tranh được gắn trên tường kể lại lịch sử của tiểu bang từ thời xa xưa cho đến những năm thành lập tiểu bang. Trong phòng còn có nhiều tượng những nhân vật góp công cho Utah như giáo chủ Brigham Young, nhà phát minh ra truyền hình (television) Philo T. Farnsworth.


Tòa nhà lập pháp có hai cánh, những gian nhà cánh Tây là văn phòng của quốc hội (House of  Representatives) và cuối cánh Ðông là Tối Cao Pháp Viện (Supreme Court). Toà nhà được xây với kinh phí 2 triệu đô la bằng tiền bán trái phiếu và 800 ngàn đồng thuế đất lấy từ công ty làm đường xe lửa và họa đồ thiết kế được chọn là của ông Richard Kletting theo kiểu kiến trúc thời phục hưng (Renaissance Revival). Ðây là toà nhà Capitol thứ nhì của Utah, tòa nhà đầu tiên ở thành phố nhỏ Fillmore do chính quyền liên bang xây nhưng chỉ có một cánh được hoàn thành trước khi Salt Lake City được chọn làm thủ đô năm 1855. Từ năm này cho đến 1896 khi Utah trở thành tiểu bang trong Hiệp Chủng Quốc, các nhà lập pháp phải nhóm họp ở nhiều địa điểm khác nhau trong thành phố.

Giã từ Salt Lake City thành phố hoa lá xinh tươi, vắng vẻ êm đềm nhưng văn minh hiện đại do những tín đồ Mormon đổ mồ hôi công sức tạo thành từ một vùng sa mạc khô cằn đá sỏi từ hơn 150 năm về trước. Tín đồ Mormon ở Utah có những điểm tương đồng với người Việt Nam tỵ nạn ở California, ngày xưa tín đồ Mormon gồng gánh dắt díu trên những cổ xe ngựa vượt bao hiểm nguy trên sa mạc nóng cháy, người da đỏ hung hăng chém giết để đi tìm miền đất tự do mà hành đạo. Họ đã biến vùng sa mạc Salt Lake thành một thành phố trù phú. Ngày nay người Việt liều chết bỏ nước ra đi trên những con thuyền mong manh qua những vùng biển phong ba bảo táp đầy hải tặc cũng vì hai chữ tự do. Sau 30 năm gian khổ nơi xứ lạ quê người họ đã biến những vườn cam, ruộng dâu thành một Little Saigon phồn thịnh, đóng góp tài năng trí tuệ cho đất nước Hoa Kỳ nhưng cũng không quên bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc bằng cách duy trì và phát huy tiếng và chữ Việt, một ngôn ngữ đơn giản, bình dị nhưng hoa mỹ tuyệt vời:

Tôi yêu tiếng Việt miền Nam
Yêu con sông rộng, yêu hàng dừa cao
Yêu xe thổ mộ xôn xao
Trên đường khúc khuỷu đi vào miền quê.
(Tôi Yêu – Bàng Bá Lân)

Trịnh Hảo Tâm
(Cali Xuân đã trở về
Đồi hoa vàng rực bốn bề lao xao)

Wednesday, April 25, 2012


KÝ SỰ DU LỊCH
GHÉ THĂM BRYCE CANYON, UTAH
Bài 2 trong loạt bài đi Yellowstone

                                                        Thắng cảnh Bryce Canyon ở Utah
  
Bryce Canyon ở miền nam Utah nơi có hàng ngàn tháp đá thiên nhiên dáng hình kỳ dị, triệu năm trơ gan cùng tuế nguyệt. Những tháp đá này có tên là “Hoodoos” do mưa gió tuyết băng tác động tạo thành. Du khách đến đây sẽ không khỏi ngạc nhiên trước cảnh thiên nhiên kỳ thú độc nhất vô nhị trên thế giới.

Rời khỏi Zion National Park xe chúng tôi tiếp tục theo con đường số 9 đi về hướng đông khoảng 20 miles thì rẽ trái vào đường 89 để lên hướng bắc. Ðây cũng là con đường ngoạn cảnh (scenic route) nên hai bên đường cỏ cây hoa lá xinh tươi, núi đồi hùng vĩ. Ði được độ 50 miles xe rẽ phải vào con đường 12 đi thêm 20 miles sẽ đến ngả ba đi vào Bryce Canyon. Rẽ phải vào và đi cuối đường sẽ đến khu ngoạn cảnh Bryce Canyon.

BRYCE CANYON MUÔN NGHÌN THÁP ÐÁ

Xe đậu vào bãi xong chúng tôi rảo bước đến hàng rào xây bằng đá cho du khách khỏi trượt chân rơi xuống vực sâu. Nhìn xuống thung lũng mọi người cùng thốt lên những tiếng reo hoà lẫn với sự ngạc nhiên thích thú khi chứng kiến tận mắt một khung cảnh tuyệt vời. Hàng nghìn tháp đá màu vàng sậm đỏ với những hình thù kỳ lạ khác nhau cùng vươn lên và chạy xa tít đến tận những dãy núi màu xám cuối chân trời. Có những tháp đơn độc như ống khói của một ngôi nhà sụp đổ sau trân động đất, có những cột tháp dính liền nhau như tháp Chàm ở di tích Mỹ Sơn hoang vu đổ nát. Bầu trời đầu thu trong xanh lãng đãng vài áng mây lơ lửng, những ngọn tháp đá vàng tương phản với mầu trời tạo nên một bức tranh ngoạn mục, sắc rực rỡ nhưng không chói chang, màu tương phản nhưng lại hài hoà, cảnh sống động nhưng lại êm đềm thư giãn. Mọi người ai cũng chụp rất nhiều hình, nhưng dù máy ảnh có làm hình rõ nét đến đâu, ánh sáng có đúng cỡ nào nhưng nếu xem hình không sẽ không thể biết một cách trọn vẹn vẻ thiên nhiên tại nơi đây như thế nào? Phải quyện mình với không gian, phải hoà nhịp thở với chuyển động của đất trời qua những làn gió thổi, bằng những mùi hương bay, bằng những tiếng chim hót. Có những yếu tố đó, khách lãng du mới thưởng thức được phần nào cảnh đẹp nơi đây.

Những tháp đá thấp cao, to nhỏ, không tìm được hai cái giống nhau nhưng tất cả đều hướng thẳng đứng lên trời và có những dạng hình kỳ lạ là do bàn tay của hóa công thiên nhiên, nắng mưa, gió bảo, soi mòn, đục đẻo từ nghìn năm này qua nghìn năm khác tạo thành.

Gần đó có ngôi nhà Bryce Canyon Visitors Center, nơi đây có hình ảnh tài liệu cho du khách muốn tìm hiểu về thắng cảnh độc đáo có một không hai trên thế giới này. Nơi đây chỉ có một nhân viên làm việc giải đáp, trả lời những thắc mắc của du khách và đôi khi có những người thiện nguyện phụ giúp. Tôi lấy nhiều tài liệu để tìm hiểu vùng thắng cảnh thiên nhiên này. Rất ít di tích còn lưu lại cho biết sắc dân da đỏ nào sinh sống tại đây trước khi người da trắng giáo phái Mormon đến vào khoảng 1850. Có lẽ vùng này hiễm trở, thiếu nước nên không ai ở mà họ chỉ đến đây để săn thú lấy lương thực rồi lại đi vì các nhà khảo cổ không tìm thấy di tích nhà cửa, vật dụng chén bát còn lưu lại. Nhà khai phá tiền phương đến Paria Valley xây nhà ở đầu tiên là ông Ebenezer Bryce cùng với gia đình năm 1875. Ông là thành viên giáo phái Mormon mà tên chính thức làChurch of Jesus Christ of Latter-Day Saints có nhiệm vụ đến để khai thác gỗ cho giáo phái dùng để xây cất nhà thờ. Ông mở đường cho xe ngựa lên núi lấy gỗ, ông đào một con kinh dẫn nước để chăn nuôi và trồng trọt. Dân chúng địa phương lúc bấy giờ lấy họ của ông đặt cho thung lũng có những tháp đá dị hình gần nhà ông ở là Bryce Canyon và địa danh đó đã lưu truyền trong dân chúng mặc dù sau đó năm 1880 ông đã dọn đi Arizona. Năm 1924 để bảo tồn một cảnh đẹp thiên nhiên, chính quyền liên bang đã ra sắc lệnh thành lập Bryce Canyon Monument nhân dịp hãng xe lửa Union Pacific Railroad cũng hoàn thành khách sạn đầu tiên trong vùng để cho du khách thăm viếng có thể ngủ qua đêm với tiện nghi như nước nóng, lò sưởi và nhà hàng bán thức ăn đó là Bryce Canyon Lodge. Năm 1928 thắng cảnh Bryce Canyon được nâng lên thành công viên quốc gia. Ngày nay đã có nhiều khách sạn gần thắng cảnh và mỗi năm có hơn 1 triệu rưỡi du khách ghé thăm và cao điểm là mùa hè từ tháng 6 đến tháng 9 là thời gian thăm viếng lý tưởng nhất. Bryce Canyon nằm giữa Las Vegas và  Salt Lake City và cách hai nơi này là 275 miles. Bryce Canyon cũng có một phi trường nhỏ, du khách có thể đến bằng phi cơ đi từ 2 thành phố kể trên.

Những cột đá kỳ thú ở Bryce Canyon

Chúng tôi dừng chân lại nơi đây 2 tiếng đồng hồ, phía dưới vực sâu có con đường mòn đất đỏ dài khoảng 2 miles đi vòng quanh những chân của những cột đá mà từ phiá trên nơi điểm ngắm cảnh chúng ta có thể quan sát thấy những người đi như những con kiến. Trong đoàn chúng tôi cũng có nhiều người rũ nhau đi, trong đó có một cụ bà 72 tuổi cũng tháp tùng. Xuống thì dễ nhưng khi trở lên leo dốc khá mệt nhưng cụ cũng hoàn tất cuộc hành trình một cách tốt đẹp sau khi dừng lại nghỉ nhiều lần!

Xe chúng tôi trở ra đường 89 lên hướng bắc và rẽ trái qua đường 20 chạy 21 miles để ra xa lộ 15. Ðến xa lộ 15 dừng lại ăn trưa trong một tiệm Mac Donald rồi lại tiếp tục con đường thiên lý để đi Salt Lake City. Xa lộ 15 là con đường xuyên quốc gia đi từ San Diego ở California gần biên giới Mễ Tây Cơ chạy lên hướng bắc qua 6 tiểu bang, đến Montana qua biên giới Canada trở thành đường số 4 đi Calgary. Sau hơn 5 giờ ngồi xe qua 275 miles, bên phải là núi cao, bên trái là đồng khô có những nơi trồng được khoai tây, ngô bắp, chúng tôi tới Salt Lake City nhưng không dừng lại nơi đây mà đi thẳng lên Ogden cách Salt Lake City 50 miles vì đêm nay sẽ nghỉ đêm trong khách sạn ở thành phố ngoại ô này cho rẻ hơn là ở Salt Lake City.

BIỂN HỒ GREAT SALT LAKE

Vừa qua khỏi thành phố Salt Lake City bỏ lại sau lưng những toà cao ốc nhiều tầng là chúng tôi đã thấy hồ Great Salt Lake bao la như biển ở bên trái xa lộ 15 nhưng không hiểu tại sao khúc này lại gọi là xa lộ 89? Có lẽ là vì vấn đề phân chia trách nhiệm, kinh phí tu bổ giữa liên bang và tiểu bang. Hồ Great Salt Lake là hồ nước mặn lớn nhất ở Tây Bán Cầu có chiều dài 75 miles và chiều ngang là 35 miles. Những nhà thám hiểm tiền phương khi mới đến đây tưởng rằng hồ nước mặn này là một phần của biển Thái Bình Dương hoặc có sông ăn thông ra biển và người da đỏ tin rằng dưới đáy hồ có một loài thủy quái nhiều đầu sinh sống nhưng thật ra hồ chỉ có một giống rùa sinh sống mà không có cá vì nước quá mặn. Nước hồ mặn là do 3 con sông chánh là sông Bear, Weber và Jordan cùng nhiều suối nhỏ đem nước từ vùng núi có nhiều khoáng chất đổ về đây mà hồ thì không có ngả thoát nên độ mặn ngày càng đậm đặc. Mỗi năm những con sông này mang về hồ 1.1 triệu tấn khoáng chất muối chủ yếu là sodium chloride. Ðộ muối trong nước hồ là 12% mặn hơn nước biển nên bơi lội rất dễ nổi nhưng hồ không sâu mấy, nơi sâu nhất là 35 feet và độ sâu trung bình là 20 feet và đặc biệt là mực nước của hồ cao hơn mặt biển Thái Bình Dương đến 4,212 feet!

Hồ có những bãi cát trắng nên người ta thường đến đây tắm nắng, bơi lội, chơi thuyền. Hồ có 5 hòn đảo mà đảo lớn nhất là Antelope Island có công viên và xe có thể ra đảo bằng một bờ đê dài 7 miles, lệ phí đậu xe trên đảo là 10$ một ngày. Thú vui trên đảo là khung cảnh thiên nhiên với nhiều chim chóc và du khách xem trâu rừng (buffalo hay bison) nhởn nhơ gặm cỏ đôi khi còn bắt gặp nai, bobcat, chó sói ...

Xa lộ 15 chạy cạnh bờ hồ và vì sợ ngập lụt nên xây cao, từ trên xe du khách sẽ thấy hồ khá rõ. Thành phố Ogden cũng nằm cạnh bờ hồ, thành phố nhỏ nông nghiệp không có gì đặc biệt, lấy tên từ một nhà tiền phương đến khai phá trong vùng. Thành phố xa lạ nhưng cũng có người Tàu đến sinh sống và buổi tối hướng dẫn viên Gerald đưa chúng tôi đến ăn tại một nhà hàng Buffet Tàu. Có lẽ vì đói và 2 ngày qua toàn là hamburger khô khan nên chúng tôi ăn rất ngon với cơm, súp và rau cải.

Chúng tôi ngủ đêm trong khách sạn Best Western ở Ogden cũng sạch sẽ và thoải mái. Sáng thức dậy có cà phê, donut dằn bụng trước khi ra xe lên đường trở lại thăm viếng Salt Lake City.

VÀI NÉT VỀ TIỂU BANG UTAH

Trước khi tới thăm Salt Lake City thủ đô bang Utah chúng ta thử tìm hiểu sơ qua về vùng thánh điạ giáo phái Mormon này.
Bang Utah nằm ở miền trung tây Hoa Kỳ nơi tiếp giáp giữa 3 vùng là dãy núi Rocky Mountains ở miền đông bắc, cao nguyên Colorado ở đông nam có con sông Colorado chảy qua và miền tây The Great Basin là vùng sa mạc Nevada kéo qua. Một cách tổng quát Utah là một vùng cao nguyên, nơi cao nhất là ngọn Kings Peak cao 13,498 feet thuộc rặng núi Rocky và nơi thấp nhất là Beaver Dam, đập nước do con sông Virgin đổ vào có cao độ là 2,180 feet. Khí hậu Utah khô của lục địa với mùa hạ nóng và mùa đông khá lạnh, nhiệt độ trung bình ở vùng núi miền bắc là 42 độ F và miền nam là 60 độ F. Là một miền mưa ít (miền trung bắc 40 inches và miền sa mạc chỉ 5 inches nước mưa trong một năm) nên phần lớn đất đai nông nghiệp cần phải có hệ thống tiêu tưới tuy vậy cũng có một số nơi có đồng cỏ để nuôi bò và dê cừu.

Hơn một phần tư tiểu bang là rừng với những loại cây như thông, spruce và fir có giá trị thương mãi cao. Mặc dù rừng được trồng lại nhiều hơn khai thác nhưng kỹ nghệ gỗ ở Utah phát triển chậm vì vấn đề khó khăn thị trường. Về quặng mỏ Utah là tiểu bang giàu khoáng sản nhất miền tây. Những khoáng sản ở Utah là đồng, dầu hỏa, than đá và uranium.

Trong tất cả các tiểu bang miền tây, sự phát triển của Utah được xem là có kế hoạch và khoa học nhất. Vào thế kỷ 19 Hoa Kỳ bành trướng đất đai về miền tây, những nhà khai phá muốn đi tìm đồng cỏ và rừng gỗ. Các tín đồ giáo phái Mormon tìm những vùng đất không ai ở để họ có thể tự do hành đạo theo cách riêng, khác với truyền thống của người Mỹ lúc bấy giờ nên họ đã tới vùng thung lũng hồ Great Salt Lake. Ngay khi vừa đặt chân tới là họ đã phát thảo đường xá và hệ thống dẫn thủy nhập điền. Dưới sự lãnh đạo của ông Brigham Young những tín đồ Mormon đã cùng nhau làm việc cật lực để biến vùng đất sa mạc này thành những ruộng rẫy trồng ngô khoai và chăn nuôi gia súc. Họ là những con người chịu khó và siêng năng, tháo vát, nhóm tiền phong chuyến đầu tiên chỉ vài trăm người nhưng vài năm sau hàng ngàn người tiếp tục di dân về đây và năm 1850 dân số Utah đã 11,000 người, năm 1880 dân số tăng lên gấp 12 lần và họ xây giáo đường và kiến thiết thành phố Salt Lake City thành thánh địa. Ngày nay 70 phần trăm dân số tiểu bang là tín đồ Mormon.

                                                      Nhà thờ Mormon ở Salt Lake City

Hiện nay dân số tiểu bang Utah 2,118,300 người, đứng hạng 34 tiểu bang đông dân trên toàn quốc. Utah trước kia là thuộc địa của Tây Ban Nha rồi là đất Mễ Tây Cơ khi nước này tuyên bố độc lập khỏi tay người Tây Ban Nha, đến năm 1848 trở thành lãnh thổ của Hoa Kỳ và gia nhập Union (Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ) năm 1896.

TRỊNH HẢO TÂM
Cùng tác giả đã phát hành 8 quyển ký sự du lịch: “Trên Những Nẻo Đường Việt Nam”, “Miền Tây Hoa Kỳ”, “Trung Quốc”, “Mùa Thu Đông Âu”, “Tây Âu Cổ Kính”, “Miền Đông Nước Mỹ và Canada”, “Hành Hương Thánh Địa Do Thái” và “Nhật Bản, Hồng Kông Macau, Thái Lan”. Đồng giá 15 USD mỗi quyển. Ở xa gởi ngân phiếu về tác giả, sách có chữ ký sẽ được gởi đến tận nhà (bao cước phí trong nước Mỹ):

TRINH HAO TAM
3683 Hawks Drive
Brea CA 92823
Ðiện thoại 714-528-1413
Email: trinhhaotam@yahoo.com

Ký Sự Du Lịch
ÐƯỜNG LÊN ZION CANYON Ở UTAH
 Bài 1 trong loạt bài viếng Yellowstone

Zion Canyon ở về phía bắc của thắng cảnh Grand Canyon và nằm ở miền nam của tiểu bang Utah (trong khi bờ nam của Grand Canyon mà du khách thường đến viếng lại nằm bên tiểu bang Arizona). Zion Canyon là một vùng núi non hùng vĩ, cảnh trí kỳ thú ngoạn mục với những núi đá đỏ đứng thẳng như có bàn tay điêu khắc nào đó đục đẽo tạo hình. Thung lũng thần tiên này lại nằm trong một vùng thảo nguyên xanh tươi hoa nở ba mùa giữa tiếng chim ca và vang âm thác đổ.

                                                                  Zion Canyon ở Utah
Tôi ghé viếng thăm thung lũng Zion vào đầu tháng 9 trong dip lễ Lao Ðộng Hoa Kỳ trên đường đi du ngoạn vùng rừng núi Yellowstone nơi có những vòi nước phun từ lòng đất bắn vút lên trời cao. Chuyến du ngoạn này mất một tuần lễ ngồi xe buýt do một hãng du lịch người Đài Loan tổ chức bao gồm xe buýt chuyên chở, hướng dẫn tham quan và 6 đêm khách sạn. Vì đi một nhóm đông 20 người nên hãng du lịch cho một chuyến xe riêng là một xe buýt cỡ nhỏ và hướng dẫn viên du lịch kiêm tài xế anh chàng Gerald cũng là người Ðài Loan.

Chúng tôi khởi hành vào sáng thứ bảy trước bãi đậu xe chợ Hồng Kông trên đường Colima gần góc đường Fullerton thuộc thành phố  City of Industry, một thành phố có rất đông người Ðài Loan nằm về phía đông Los Angeles. Theo chương trình, ngày đầu tiên là lên chơi ở Las Vegas và đêm về thay vì ngủ ở Las Vegas lại tiếp tục theo xa lộ 15 lên hướng Bắc và ngủ đêm tại làng nhỏ có tên là Mesquite sát biên giới với tiểu bang Arizona và Utah, nơi này là vùng tam biên đèo heo vắng vẻ nên giá khách sạn rẻ hơn Las Vegas. Làm du lịch là phải tính toán sao cho giá được rẻ thì mới có lời. Chúng tôi “ra đi khi trời vừa sáng” mọi người trong lòng đều náo nức phấn khởi, vì quen biết hoặc họ hàng với nhau nên câu chuyện nổ như bắp rang nhất là những mẫu chuyện tiếu lâm do một cô làm nghề địa ốc kể cho vui trong cuộc hành trình.

Xe qua xa lộ 15 vượt đèo Cajon Pass ở Cucamonga bắt đầu lên miền cao nguyên sa mạc, cây cối thưa dần chỉ còn lại vùng cát ngút ngàn xa tít chân trời với nhựng bụi gai Tumble Weed và những cây Joshua cằn cỗi đứng chơ vơ giữa trời. Cuối mùa hạ lại là miền sa mạc nên không khí bên ngoài rất nóng, máy lạnh trong xe mở tối đa, lúc đầu còn mát, dần dần chỉ phà ra hơi nóng. Các đấng nhi đồng con nít ngồi phía sau xe than nóng qúa và mặt đứa nào cũng đỏ gay. Gerald vừa lái xe vừa điều chỉnh máy lạnh vừa phân trần bằng tiếng Mỹ : “ Máy lạnh mới sửa hôm qua, chạy rất lạnh bây giờ lại sanh tât trở chứng!” Các bà than nóng quá đòi Gerald quay xe trở về đổi xe khác, có bà chê xe của Gerald là xe... dỏm, phế thải đi là vừa. Gerald bị chạm tự ái dồn dập vừa lái xe vừa cầm điện thoại di động gọi về hãng báo cáo tình hình...vụ việc. Gerald nói điện thoại bằng tiếng Ðài Loan nên trong xe cũng không ai hiểu gì khiến y phải thông dịch lại: “Ông chủ nói hôm nay là Lễ Lao Ðộng, ngày cao điểm trong mùa du lịch, ở hãng nhà không còn xe mà mướn ở các hãng khác cũng không có nên không còn xe nào để đổi. Ông chủ kêu Gerald đem xe trở lại tiệm sửa máy lạnh ở City of Industry để cho họ coi lại.”

Tất cả mọi người trong xe đều không muốn ngồi trên xe để trở về sửa máy lạnh nên Gerald đưa chúng tôi đến khu thương xá Shopping Mall ở Victorville, nơi đây bên trong mát mẻ, có tiệm buôn, nhà hàng, quán nước, nhà vệ sinh để chờ, khi nào xe sửa xong sẽ quay lại đón đi tiếp. Từ Victorville về City of Industry cũng gần 70 miles vừa đi vừa quay lại cũng gần 3 tiếng đồng hồ chưa kể thời gian sửa máy lạnh. Nhưng đã trót đi cũng phải chấp nhận, có người than thở trách móc hãng du lịch và cả người đứng ra tổ chức sao chọn hãng rẻ, “người ta thường nói của rẻ là của hôi mà!”. Có người thì bình thản chấp nhận vì nghĩ rằng đã là cuộc đời thì có lúc êm xuôi bằng phẳng, cũng có những lúc xảy ra “sự cố”, trở ngại không như mình mong muốn. Chúng tôi đi dạo trong Mall xem hàng hóa bày bán, có người cũng mua được vài món giá rẻ và họ mừng vui hớn hở khoe với những người đồng hành. Ði mỏi chân chúng tôi ngồi trong Mac Donald ăn sáng, nhâm nhi ly cà phê, hết thì châm thêm không giới hạn và bàn tán chuyện đời. Nếu xe không hư máy lạnh có lúc nào chúng tôi có dịp đấu láo vui vẻ thoải mái như hôm nay? Ðời sống xứ Mỹ này khiến mọi người bị cuốn hút vào dòng đời trôi nổi, lúc nào cũng tất tả ngược xuôi.

Vui cười tán dóc với nhau nên thời gian trôi qua rất nhanh và cuối cùng Gerald cũng lơn tơn đi vào Mall tìm chúng tôi và cho hay tin vui... giữa giờ tuyệt vọng là máy lạnh đã sửa xong và trong xe rất là mát lạnh. Bây giờ đã 3 giờ chiều chúng tôi hăng hái phấn khởi lên xe tiếp tục cuộc hành trình lên Las Vegas thành phố của tội lỗi nhưng ...rất vui mặc dù lắm lúc “vui một ngày khóc cả đời!”. Cả đoàn lên xe và Gerald cho xe chạy, “You see the air conditioner is working good!” Gerald hãnh diện tuyên bố. Mọi người vui vẻ bàn tính lên Las Vegas chiều nay sẽ làm gì, câu chuyện râm rang, rộn rã dường như bất tận. Khí hậu bên ngoài buổi trưa sa mạc nên rất nóng dường như là 110 độ F nhưng trong xe máy lạnh vẫn chạy tốt và xe sau khi qua khỏi thị trấn giữa đàng Baker xe chúng tôi bắt đầu leo dốc trên vùng núi sa mạc Mojave. Xe ì ạch leo nhưng có vẻ leo không nỗi, tốc độ giãm dần và cuối cùng bò chậm chạp ở lane sát lề, phía sau là hàng chục xe nối đuôi theo, nhiều xe bất mãn đổi lane vượt qua và Gerald vừa bò vừa chớp đèn emergency, mặt mày căng thẳng tái nhạt! Trong đoàn tiếng bấc tiếng chì xôn xao xua động, nhiều bà than phiền “hôm nay đi không coi ngày”, “của rẻ là của ôi, biết bao nhiêu hãng du lịch sao không chọn mà lại chọn hãng du lịch...mắc dịch này!” Người “ăn cơm nhà đi vác ngà voi” là “cụ” Nguyễn Ngọc Liên vốn có một “tâm tình hiến dâng” có công lập hội Thanh Nhàn tổ chức những chuyến đi đem niềm vui cho bà con, bạn bè nhưng hôm nay cụ lại buồn thiu, muốn thanh nhàn mà không được nhàn! Tôi nhìn cụ cười cảm thông, chia sẻ. Cụ cũng cười lại nhưng chắc là...“miệng cười mà lệ tuôn rơi!”

Xe vừa đổ dốc là gặp khu Rest Area (chỗ nghỉ chân) nên Gerald tấp vào và theo lời bàn bạc là nên đem xe đến cho thợ máy xem sao vì trên con dốc phía trước, rất xa nhưng sa mạc trống trải nên nhìn thấy, có một trạm xăng mà trạm xăng thường có thợ máy. Nhiều người lo ngại nếu xe không sửa sẽ không qua nỗi ngọn đèo phía trước là Mountain Pass cao 4,726 feet. Ðổ dốc đèo này sẽ tới biên giới tiểu bang Nevada nơi đây dù giữa sa mạc nhưng có 3, 4 sòng bài casino khá lớn. Tuy trên đèo nhìn thấy những cao ốc casino này nhưng khoảng cách rất xa phải hơn 10 miles. Thà là nghỉ chân ở Rest Area tuy nóng nhưng còn có mái che nắng, nhà vệ sinh và nước uống còn hơn là tiếp tục đi sợ xe cháy máy trên đèo giữa trời nắng nóng còn mệt hơn nữa. Chúng tôi xuống xe vào nhà mát chờ và Gerald một mình lái xe đến trạm xăng tìm thợ máy. Ðộ nửa giờ sau Gerald trở lại cho biết là thợ máy nói xe không hư gì cả chỉ vì trời quá nóng, hơi nóng từ nhựa đường bốc lên khiến nhớt hộp số quá nóng không hoạt động bình thường được, rất nhiều xe tải bị chứng bịnh này. Chúng tôi tin lời thợ máy và lên xe trở lại, tiếp tục bò lên đèo. Tuy bò một cách chậm chạp nhưng rốt cục xe vẫn tới được đỉnh đèo và từ đây xe đổ dốc nên không còn vấn đề nữa.

Bảy giờ chiều chúng tôi cũng tới được Las Vegas và Gerald đưa chúng tôi đến casino Imperial để ăn tối. Casino này tuy nằm trên đaị lộ huyết mạch là Las Vegas Boulevard thường được gọi tắt là Strip nhưng nó rất xưa cũ và hãng du lịch có hợp đồng mướn phòng tại đây. Nhưng đêm nay đoàn chúng tôi không ngủ tại đây mà ra sa mạc ngủ cho ...rẻ hơn. Một số người trong đoàn đòi Gerald gọi về hãng du lịch để đổi xe khác nhưng hãng nói không còn xe nào thay thế và cho rằng xe vẫn chạy tốt, nếu nằm đường hãng sẽ chịu trách nhiệm. Một ông trong đoàn bất bình nói hãng này ngoan cố quá, xe như vậy mà nói chạy tốt, không đổi xe khác rủi ngày mai nằm giữa sa mạc đói khát thì sao và ông nói với tài xế kiêm hướng dẫn viên Gerald: “I am a lawyer, I will sue your company!” Gerald cả ngày hôm nay qúa căng thẳng nên trả lời: “You are a liar!” khiến ông mất bình tỉnh đòi cho Gerald bài học. Ông gọi vào phi trường mua vé máy bay để hai ông bà trở về ngay bây giờ không thèm đi nữa. Tôi hỏi vé máy bay trở về Los Angeles là bao nhiêu? Ông nói $400 mỗi vé và hãng phải trả lại cho ông. Một nhóm phụ nữ 3 người không đi nữa nhưng họ thích không khí Las Vegas nên ở lại chơi khi nào chán sẽ về bằng xe buýt, họ vui vẻ không căng thẳng như ông luật sư kia. Chúng tôi đi ăn Buffet và kéo máy chút đỉnh đến 9 giờ thì gặp nhau tại phòng lễ tân (lobby) của Imperial để đi Mesquite cũng trên xa lộ 15 và cách Las Vegas lối 90 miles về hướng đông bắc.

Virgin River ở Zion Canyon

Trước đây đường bộ tôi chưa bao giờ vượt quá Las Vegas, đêm nay lên hướng bắc không biết phong cảnh như thế nào nhưng vì đêm tối lại không trăng nên chẳng thấy gì, chắc cũng là sa mạc mênh mông với những loài xương rồng không cần nước. Ngày hôm nay xe hư, chờ đợi thật là mệt nhọc, vất vả nên lên xe mát mẻ mọi người đều ngủ và lạ một điều là xe chạy ngon lành có lẽ vì trời đêm mát mẻ và 5 người bỏ chuyến đi nên xe nhẹ hơn và chúng tôi có những băng ghế nằm rất thoải mái. Mười một giờ đêm xe đến Mesquite, nơi đây dường như không có nhà dân chỉ có vài casino vừa motel 2 tầng lầu theo kiểu Motel 6 mà phía ngoài sân không có bãi cỏ xanh mà chỉ landscape bằng những bụi xương rồng và đá tảng. Sau khi tắm rửa cho sạch bụi sa mạc và vì đã chợp mắt trên xe nên không thấy mệt nữa chúng tôi lại đi kéo máy cho đến 1 giờ sáng mới trở về phòng đánh một giấc ngon lành thẳng cẳng.

Sáng hôm sau tôi thức sớm lúc 6 giờ vì quen với giờ giấc đi làm, tắm nước nóng cho tỉnh người và cùng bà xã xuống Restaurant của Motel ăn sáng trứng chiên, xúc xích và cà phê. Phục vụ nhà hàng không có các cô phụ nữ trẻ vì các cô trẻ chắc không ai chịu ở đây mà chỉ các bà lớn tuổi mặc váy đầm rất thân thiện, tay cầm bình cà phê châm thêm liên tục và hỏi han đủ thứ. Chúng tôi lấy hành lý và ra xe tiếp tục lên đường, xe qua biên giới Nevada và vào tiểu bang Arizona, qua cầu con sông tên là Trinh Nữ (Virgin River) bắt nguồn từ vùng núi Zion National Park và chảy về hồ Lake Mead gần Las Vegas. Từ đây phải vặn đồng hồ thêm một giờ vì Arizona cũng như Utah xài giờ Mountain Time. Con đường 15 dần lên miền cao và phong cảnh khá đẹp không còn sa mạc mà là đồi núi và thông xanh. Hơn nửa giờ sau chúng tôi lại vượt qua biên giới Arizona và tiến vào tiểu bang Utah ở thành phố địa đầu St George. Qua khỏi St. George một đoạn ngắn thì rẽ vào con đường nhỏ số 9 gặp lại dòng sông Trinh Nữ  chạy song song bên cạnh rồi ngang qua thị trấn Hurricane (Bảo tố) để vào thăm viếng thắng cảnh Zion National Park.

ZION NATIONAL PARK

Con đường số 9 len lỏi đi vào vùng núi Zion Canyon là con đường ngoạn cảnh đầy hoa thơm cỏ lạ, nơi đây thiên nhiên được bảo vệ và người ta đếm được có đến 800 loại thảo mộc, 75 loại động vật có vú, 271 loài chim, 32 bò sát và 8 loại cá. Công viên quốc gia Zion là một vùng núi non hùng vĩ, cảnh trí ngoạn mục với những núi đá đỏ dốc đứng thẳng như cảnh hòn non bộ lại nằm trong một vùng thảo hoa xanh tươi xinh đẹp. Zion National Park được thành lập từ năm 1909 đến 1919 được nới rộng và lấy tên là công viên quốc gia Zion. Công viên rộng 229 dặm vuông nằm trong vùng cao nguyên Colorado và nằm gần bờ phiá bắc của thắng cảnh Grand Canyon, trong khi bờ phiá nam của thung lũng Grand Canyon nằm bên Arizona. Zion theo tiếng cổ Hebrew có nghĩa là một vùng bình yên ẩn dật. Ngược dòng lịch sử người da đỏ thuộc bộ tộc Puebloans đã ở đây từ 2 ngàn năm trước, đến thập niên 1860 nhóm tiền phương giáo phái Mormon khám phá ra vùng thung lũng thần tiên này và họ gọi nơi đây là Kolob có nghĩa là cõi địa đàng rất gần Thiên Chúa.

Ngọn núi ở Zion Canyon Visitors Center

Chúng tôi dừng lại và xuống xe nơi Zion Canyon Visitors Center, bên trong có trưng bày nhiều hình ảnh, tài liệu, mẫu đá cũng như thu lệ phí cắm trại qua đêm, có nhân viên (Rangers) trả lời hướng dẫn tất cả những gì du khách muốn biết trong việc thăm viếng, tìm hiểu về thung lũng Zion. Nơi đây có một Tours du khảo 90 phút bằng xe Shuttle tôi nghĩ hữu ích cho những người không có nhiều thời giờ dừng chân lại nơi đây. Chúng tôi cũng vậy chỉ là khách cỡi ngựa xem hoa, chợt đến rồi chợt đi, chứ muốn thưởng thức hết cảnh đẹp thần tiên này phải cắm lều ngủ qua đêm, phải đi trên những con đường mòn (trails), trèo núi, lội suối băng rừng vì nơi đây có rất nhiều đỉnh cao, vách đá, khe suối, hồ trong với những điạ danh như Angels Landing, Emerald Pools, Hidden Canyon, Fatman’s Misery...

TRỊNH HẢO TÂM
Cùng tác giả đã phát hành 8 quyển ký sự du lịch: “Trên Những Nẻo Đường Việt Nam”, “Miền Tây Hoa Kỳ”, “Trung Quốc”, “Mùa Thu Đông Âu”, “Tây Âu Cổ Kính”, “Miền Đông Nước Mỹ và Canada”, “Hành Hương Thánh Địa Do Thái” và “Nhật Bản, Hồng Kông Macau, Thái Lan”. Đồng giá 15 USD mỗi quyển. Ở xa gởi ngân phiếu về tác giả, sách có chữ ký sẽ được gởi đến tận nhà (bao cước phí trong nước Mỹ):

TRINH HAO TAM
3683 Hawks Drive
Brea CA 92823
Ðiện thoại 714-528-1413
Email: trinhhaotam@yahoo.com

Wednesday, March 28, 2012





LỄ HỘI HOA ANH ĐÀO Ở WASHINGTON, D.C.
Bài và ảnh: TRỊNH HẢO TÂM



Năm nay 2012 kỷ niệm 100 năm ngày nước Nhật tặng 3,000 cây hoa anh đào cho thủ đô Washington, D.C. Lễ Hội Hoa Anh Đào tại Washington, D.C. sẽ diễn ra từ ngày 20 tháng Ba cho đến 27 tháng Tư , 2012 và cuộc diễn hành sẽ được tổ chức trọng thể vào ngày Thứ Bảy 14 tháng Tư, 2012 trên đại lộ Constitution Avenue đoạn giữa đường số 7th và số 17th Street khu NW. Diễn hành cho công chúng miễn phí tuy nhiên nếu muốn có chỗ ngồi xem thoải mái trên khán đài danh dự (Grandstand) có thể mua vé được bán qua hệ thống www.ticketmaster.com hay gọi số điện thoại 1-800-745-3000 với giá 20 USD mỗi vé và được gởi đến tận nhà.

“ Mùa Xuân sang có hoa anh đào
Màu hoa tôi trót yêu từ lâu
Lòng bâng khuâng nhớ ai năm nào
Hẹn hò nhau dưới hoa anh đào
Mình nói chuyện ngày sau...”
(Nhạc phẩm “Mùa Hoa Anh Đào” của Thanh Sơn)

Mùa Xuân là mùa hoa anh đào, hoa anh đào có nhiều màu từ trắng, hồng cho đến đỏ thắm, màu hoa tươi sắc rực rỡ nở trên những cành cây chưa ra lá. Một cây anh đào không đẹp lắm nhưng cả một rừng nở hoa cùng một lúc thì rực rỡ vô cùng. Xem hoa nở lòng người phấn khởi, dâng lên một niềm tin, một sức sống mới tràn đầy. Đặc điểm của hoa anh đào là cho tới lúc hoa rơi, hoa vẫn giữ nét sung mãn không héo úa tàn phai như những loài hoa khác. Hoa nở đã đẹp nhưng lúc hoa tàn, bay bay trong gió Xuân nhiều người cho rằng càng đẹp hơn, giống như những cánh tuyết. Hoa anh đào chỉ nở độ hai tuần nên nhiều người cho rằng hoa tượng trưng cho đời người phù du ngắn ngủi. Khi hoa tàn không héo úa phai màu nên người Nhật cho hoa anh đào tượng trưng tiết tháo của người quân tử, cho đến lúc chết vẫn hiên ngang, bất khuất.

Hoa anh đào có hàng trăm loại, nở vào đầu Xuân trên những quốc gia có thời tiết lạnh từ Trung Hoa, Nhật Bản cho đến Âu Châu và ngay cả miền Bắc Việt Nam hay Đà Lạt đều có hoa anh đào. Có lẽ hoa anh đào nổi tiếng đẹp nhất là hoa anh đào Nhật Bản từng là đề tài gây cảm hứng cho các thi văn họa sĩ sáng tác những tác phẩm để đời.

MÙA HOA ANH ĐÀO Ở WASHINGTON, D.C.




Hoa anh đào Nhật cũng đã du nhập sang Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ 20 và được trồng nhiều ở Washington, D.C. thủ đô của Hoa Kỳ để ngày nay hàng năm vào mỗi độ Xuân về hoa anh đào nở rất đẹp quanh bờ hồ Tidal Basin cạnh dòng sông Potomac và đài kỷ niệm Washington tức ngọn tháp “bút chì” bằng đá cẩm thạch trắng. Mỗi năm vào đầu Xuân từ cuối tháng Ba cho đến đầu tháng Tư, rừng cây anh đào ở Washington DC nở bung những cánh hồng giữa bầu trời xanh biếc, mang đến cho thủ đô Hoa Kỳ một nét đẹp rực rỡ rất riêng tư đặc biệt. Người dân cũng như chính quyền Washington, D.C. chào đón và thưởng thức sắc hoa bằng những lễ hội kéo dài hơn hai tuần gọi là Lễ Hội Hoa Anh Đào (National Cherry Blossom Festival). Lễ hội quy tụ du khách từ khắp nơi trên thế giới đổ về cũng như người Mỹ từ các tiểu bang khác hội tụ về thủ đô vui Xuân du lịch nhân dịp Lễ Phục Sinh (Easter). Trong suốt hai tuần lễ hội, vùng thủ đô Washington DC tấp nập du khách gây cảnh kẹt xe và từ nhà ga xe điện ngầm Metro Center cho đến viện bảo tàng Smithsonian đông nghẹt những người. Lễ Hội Hoa Anh Đào với chương trình quy tụ nhiều tiết mục văn hóa vui tươi phong phú như hàng chục quầy thức ăn truyền thống Nhật Bản, các gian hàng trưng bày sản phẩm thủ công, nghệ thuật Nhật Bản, các màn trình diễn vũ điệu, nhạc cụ cổ truyền Nhật Bản như múa trống, múa dù và bầu người đẹp quốc phục Kimono, hoa hậu Queen of Cherry Festival. Đặc biệt buổi lễ khai mạc với những màn biểu diễn vui tươi, ngoạn mục với nhiều nghệ sĩ nhảy múa rất chuyên nghiệp không thua gì Micheal Jackson. Du khách đến Washington, D.C. tham dự Lễ Hội Hoa Anh Đào nhớ lấy bản chương trình có ghi chú giờ giấc cũng như địa điểm cho mỗi tiết mục để có thể tham dự thưởng thức trọn vẹn hết các sinh hoạt của lễ hội.

Cao điểm là ngày thứ Bảy cuối cùng của lễ hội là một cuộc diễn hành xe hoa trên đại lộ Constitution từ đường số 7 đến đường 17 rất ngoạn mục và thích thú. Tham dự diễn hành gồm có nhiều hội đoàn văn hóa, nghệ thuật của nhiều sắc dân trên thế giới ngoài người Mỹ còn có các dân tộc Á Châu như Nhật Bản, Đại Hàn, Trung Hoa, các nước Nam Mỹ, Trung Đông, Phi Châu v.v…vì thủ đô Washington, D.C. là nơi định cư của nhiều chủng tộc khác nhau. Hình thức trong cuộc diễn hành là những ban nhạc, những điệu vũ trong quốc phục nhiều màu sắc như múa trống, múa dù, những trò chọc cười làm xiếc như đi cà khêu, cỡi xe đạp một bánh v.v…

LỊCH SỬ HOA ANH ĐÀO WASHINGTON DC

Lễ Hội Hoa Anh Đào truyền thống hàng năm nhằm kỷ niệm tặng vật vào năm 1912 của Thị Trưởng Tokyo là Yukio Ozaki trao tặng thành phố Washington DC là 3,000 cây anh đào Nhật Bản. Món qùa này nhằm bồi đấp tình thân hữu giữa hai quốc gia Hoa Kỳ và Nhật Bản và tiếp tục kết chặt mối dây liên kết giữa hai dân tộc. Một buổi lễ đơn giản diễn ra vào ngày 27 tháng Ba 1912 có sự hiện diện của Đệ Nhất Phu Nhân Hoa Kỳ là bà Helen Herron Taft và bà Viscountess Chinda phu nhân của Đại Sứ Nhật, hai người đã trồng hai cây anh đào đầu tiên tại bờ phía Bắc hồ Tidal Basin trong công viên West Potomac Park. Năm 1915 Hoa Kỳ đáp lễ trao tặng nhân dân Nhật những cây hoa Dogwood. Năm 1935 Lễ Hội Hoa Anh Đào đầu tiên được tổ chức do sự tài trợ của những hội đoàn dân sự tại vùng thủ đô.

Vào năm 1965 Đệ Nhất Phu Nhân Hoa Kỳ là Lady Bird Johnson tiếp nhận thêm 3,800 cây hoa anh đào nữa. Một chuyện khá lý thú là vào năm 1981 một nhóm nhà cây cảnh Nhật lại đến hồ Tidal Basin chiết nhánh những cây anh đào ở đây mang về Nhật để trồng lại thay thế cho những cây anh đào Yoshino bị lũ lụt tàn phá. “Bánh ít đi bánh quy lại”, năm 1999 vườn hoa anh đào bên hồ Tidal Basin được trùng tu để thay thế những cây già cỗi bằng những cây mới được chiết từ rừng anh đào nổi tiếng hơn 1,500 năm tại tỉnh Gifu bên Nhật. Những sự kiện này một lần nữa cho thấy cây anh đào giữ vai trò sứ giả trong bang giao giữa hai nước Mỹ Nhật.

Từ năm 1994 Lễ Hội Hoa Anh Đào bắt đầu kéo dài ra đến hai tuần để có đủ thời gian cho những tiết mục ngày càng phong phú trong mùa hoa anh đào còn nở. National Cherry Blossom Festival, Inc. là tổ chức quy tụ các nhà văn hóa, thuơng mại và chính quyền đứng ra tổ chức và bảo trợ cho lễ hội văn hóa này. Hàng năm ước lượng có hơn một triệu người về thưởng lãm hoa đào và tham dự lễ hội trong những ngày đầu Xuân tại thủ đô Washington, D.C. thanh lịch này.

Du khách từ xa đổ về thủ đô Hoa Kỳ tham dự ngày Hội Hoa Anh Đào truyền thống hàng năm vừa chiêm ngưỡng cảnh đẹp rừng hoa vừa khám phá những di tích lịch sử có từ thời thành lập thủ đô (1790) như Điện Capitol tòa nhà Quốc Hội nơi 4 năm một lần diễn ra Lễ Tuyên Thệ Nhậm Chức Tổng Thống, tòa nhà trắng White House nơi cư ngụ và làm việc của Tổng Thống, nhà in giấy bạc (Bureau of Engraving & Printing), Thư Viện Quốc Gia và Viện BảoTàng Smithsonian nổi tiếng thế giới về tàng trữ sưu tầm các tác phẩm nghệ thuật, khoa học, nhân văn v.v...Ngoài ra thủ đô Washington DC còn có rất nhiều công viên, hồ nước, các đài kỷ niệm vinh danh các Tổng Thống, các chiến sĩ trận vong trong các cuộc chiến tranh Thế Giới Thứ Nhất, Thứ Nhì, Chiến Tranh Cao Ly và Chiến tranh Việt Nam. Ở thủ đô Washington DC có 173 tòa đại sứ có thiết lập quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ cũng là nơi có nhiều sắc dân sinh sống với khu Chợ Tàu đông đúc và khu thương mại Việt Nam (Eden Business Center) có hàng trăm cửa hàng là nơi hội tụ người Việt vào dịp cuối tuần hay các ngày Lễ Tết.

ANH ĐÀO TRONG CỔ THI

Sắc màu tươi thắm của hoa đào, người xưa thường so sánh với khuôn mặt của thiếu nữ đẹp. Thôi Hộ người tỉnh Trực Lệ bên Tàu sống trong khoảng triều vua Đường Đức Tông. Một hôm trong tiết Thanh Minh, buồn vì thi rớt (ở bên Tàu người thi rớt thường làm thơ rất hay như trường hợp của Trương Kế với bài thơ “Phong Kiều Dạ Bạc”), ông dạo chơi phía Nam thành Lạc Dương trong một vùng trồng hoa đào. Đi một lúc khát nước, ông gõ cửa một ngôi nhà ven đường xin nước uống. Một thiếu nữ diễm kiều xuất hiện mang nước ra cho ông. Hai bên trao đổi câu chuyện và hỏi tên nhau, ra chiều tương đắc. Năm sau cũng tiết Thanh Minh, ông trở lại ngôi nhà cũ, thấy cửa đóng then gài, gọi mãi không thấy ai ra. Ông viết bài thơ dán trên cổng. Vài hôm sau Thôi Hộ trở lại nghe trong nhà văng vẳng tiếng khóc, một ông lão bước ra hỏi ông có phải là Thôi Hộ không? Ông lão cho biết con gái ông sau khi đọc bài thơ của Thôi Hộ dná trên cổng đã tương tư, vật vờ bỏ cả ăn uống và nằm thiêm thiếp như xác không hồn! Thôi Hộ nghe vậy vội tìm vào bên trong, thấy người con gái nằm mê man trên giường nhưng mặt mày còn ấm. Chàng qùy xuống úp mặt vào nàng mà than van kể lể. Người con gái hồi sinh, tỉnh lại và chàng xin cưới nàng làm vợ. Năm 796 niên hiệu Trinh Nguyên, Thôi Hộ đậu tiến sĩ và làm quan Tiết Độ Sứ ở Lĩnh Nam. Bài thơ chàng dán trên cổng khiến cô gái tương tư, được viết như sau:

Khứ niên kim nhật thử môn trung,
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Ðào hoa y cựu tiếu đông phong.
(Thôi Hộ)

Bản dịch của Tản Đà thi sĩ Việt Nam ta theo thể thơ Đường Luật:

Cửa đây năm ngoái cũng ngày này,
Má phấn, hoa đào ửng đỏ hây.
Má phấn giờ đâu, đâu vắng tá,
Hoa đào còn bỡn gió xuân đây.

Có người bàng quan ở xứ Bổn Xà dịch qua thể Lục Bát như sau:

Năm xưa ngày đó bên song
Hoa đào giống tựa má hồng mỹ nhân.

Năm nay người ấy về đâu ?
Hoa đào năm cũ vẫn cười gió Đông.

TRỊNH HẢO TÂM

Cùng tác giả đã phát hành 8 quyển ký sự du lịch: “Trên Những Nẻo Đường Việt Nam”, “Miền Tây Hoa Kỳ”, “Trung Quốc”, “Mùa Thu Đông Âu”, “Tây Âu Cổ Kính”, “Miền Đông Nước Mỹ và Canada”, “Hành Hương Thánh Địa Do Thái” và “Nhật Bản, Hồng Kông Macau, Thái Lan”. Đồng giá 15 USD mỗi quyển. Ở xa gởi ngân phiếu về tác giả, sách có chữ ký sẽ được gởi đến tận nhà (bao cước phí trong nước Mỹ):

TRINH HAO TAM
3683 Hawks Drive
Brea CA 92823
Ðiện thoại 714-528-1413
Email: trinhhaotam@yahoo.com