Pages

Powered By Blogger

Wednesday, October 17, 2012

KÝ SỰ DU LỊCH
DU NGOẠN TRÊN SÔNG DANUBE Ở BUDAPEST
Bài và ảnh: TRỊNH HẢO TÂM

Sông Danube chảy ngang thành phố Budapest

Sông Danube dài 2,850 km là con sông huyết mạch và lớn thứ nhì ở Âu Châu chỉ sau sông Volga ở Nga. Khi nhắc đến dòng sông Danube thơ mộng, người ta thường nghĩ đó là tài sản riêng của nước Áo vì bản nhạc nổi tiếng theo điệu valse “Dòng Sông Xanh” (“The Blue Danube”) là sáng tác của nhà soạn nhạc tài hoa người Áo Johann Strauss II. Thật ra sông Danube bắt nguồn từ nước Đức chảy qua 9 quốc gia khác nữa là  Áo, Slovakia, Hungary, Croatia, Serbia, Bulgaria, Romania, Moldova và Ukraine, cuối cùng đổ ra Hắc Hải. Du ngoạn trên sông Danube là tiết mục tôi cho là quan trọng nhất trong chuyến đi Đông Âu kỳ này vì từ lâu bản nhạc “Dòng Sông Xanh” thôi thúc tôi phải tìm tới cho được dòng sông Danube và nhạc sĩ Phạm Duy qua nhạc phẩm “Bên Cầu Biên Giới” cũng đã mơ ước rằng:
“Ôi giấc mơ qua,
Mộng đời phiêu lãng giang hồ:
Sống trong lòng người đẹp Tô Châu
Hay là chết bên dòng sông Danube.”
Mơ ước của nhạc sĩ, một cách nôm na ngắn gọn là: “Nếu sống là phải sống với người đẹp đất Tô Châu bên Tàu và nếu có chết thì phải chết trên dòng sông Danube!” Con gái Tô Châu rất đẹp và có giọng nói thanh tao, ngọt ngào. Người Trung Hoa có câu “Thà là nghe con gái Tô Châu chưỡi lộn còn hơn nghe người Ninh Ba ca hát!”. Tôi đã đến Tô Châu nhưng “sống trong lòng người đẹp Tô Châu” thì không dám vì mình không biết tiếng Tàu mà sống với gái Tô Châu, ngôn ngữ bất đồng, chắc phải nghe “ngộ tả nị” suốt ngày! Còn chết bên dòng sông Danube, tôi lại cũng không muốn! Có chết về chết ở Bolsa, ngày ngày nằm trong Peak Family còn nghe tiếng Việt mến yêu. Khi buồn nằm trong mộ...réo tên người thì có người còn hiểu và hy vọng có người hỏi thăm:
Trời cuối thu rồi - Em ở đâu?
Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?
Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy,
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu.
(Gửi Người Dưới Mộ - Đinh Hùng)


Xe buýt đưa đoàn du lịch Đức chúng tôi chạy cập theo bờ sông lên hướng Bắc để đến bến du thuyền gần cầu và đảo Margeret (tên của một công chúa Hung). Cuối tháng Chín đã hết những tháng hè nên số du thuyền trên sông cũng đã giảm vì ít du khách. Trong mùa cao điểm suốt bờ sông bên thành phố Pest, du thuyền đông đảo neo đậu nơi những cầu tàu dọc theo bờ sông từ cầu Liberty Bridge gần chợ Budapest lên đến đảo Margeret (chỉ trừ đoạn bờ sông từ Cầu Dây Xích tới Cầu Margeret là không có bến du thuyền vì bảo vệ cảnh quan hoành tráng trước tòa nhà Quốc Hội). Có những du thuyền rất dài chở được hàng ngàn du khách, có nhà hàng ca nhạc, khiêu vũ trên đó. Vé du ngoạn với bữa ăn tối Buffet khoảng 5,000 Forints (25 USD) và không ăn tối là 2,200 Forints (11 USD). Du thuyền có ca nhạc và ăn tối chỉ hoạt động mỗi đêm (từ 7:30 đến 9:30) trong tháng hè (từ 8 tháng Năm cho đến 10 tháng Chín) và giãm xuống 3 đêm cuối tuần trong tháng Tư, tháng Chín và tháng Mười. Hôm nay chúng tôi du ngoạn trên sông vào ban ngày nên không có ăn tối cũng như giải khát nên vé là 11 USD. Chúng tôi đã đóng tiền và đặt vé trước, chuyến du ngoạn sẽ khởi hành lúc 3 giờ, kéo dài một tiếng đồng hồ.


Chúng tôi tuần tự theo nhau xuống cầu tàu, phải bước qua một tàu khác mới đến tàu của mình đậu phía ngoài. Ngoài hầm máy phía dưới, tầng giữa tàu là nhà hàng và phía trên sân thượng là phòng lái. Chúng tôi lên boong tàu trước phòng lái, nơi đây có hàng chục chiếc ghế nhựa sắp sẵn để du khách ngồi. Tàu không lớn, trọng tải chừng vài chục tấn và chỉ chỡ đoàn chúng tôi là 23 người. Vừa lên tàu là nghe âm thanh bản nhạc “Dòng Sông Xanh” dìu dặt phát ra từ những chiếc loa. Sau vài hồi còi theo luật lệ, thủy thủ tháo dây cột với tàu bên cạnh và tài công rồ máy để tàu rời bến. Sông Danube rất rộng, tàu chúng tôi đi cũng chỉ như một lá tre trôi giữa dòng. Tàu chạy đường cung để quay mũi lại về hướng Nam, chui qua cầu Margeret. Cầu Margaret cũng như cầu Chữ Y ở Sài Gòn: 2 nhánh bắc qua sông Danube và nhánh còn lại bắc qua đảo Margeret. Đảo Margeret nằm ở giữa sông thuộc vùng phía Bắc của Budapest, ngày xưa là vùng hoang vu để mùa hè hoàng gia đi săn bắn vịt trời, chim chóc, rái cá. Hiện nay đã xây dựng thành vườn hoa Nhật Bản, có dinh thự, tượng đài, khách sạn suối nước nóng, ban đêm có nhạc nước và muốn vào xem phải mua vé. Đảo lấy tên công chúa Margeret, nghe đâu công chúa này lý do gì đó mà bị hoàng gia bắt an trí tại đảo này cho tới khi qua đời!


Buổi chiều mùa thu nắng vàng nhàn nhạt, cây cối bên bờ sông cũng bắt đầu chuyển sang màu lá vàng, từng cơn gió lạnh mơn man trên mặt sông khiến tôi liên tưởng đến bản “Nắng Chiều” của Lư Trọng Nguyễn: “Qua bến nước xưa, lá hoa về chiều, lạnh lùng...mềm đưa trong nắng lưa thưa”. “Dòng Sông Xanh” nhưng nước sông hôm nay không xanh mấy mà hơi đục vì bị ô nhiễm nhưng dòng nước trôi êm ả, lặng lờ và gió thổi khiến mặt sông xôn xao, lung linh phản chiếu ánh nắng vàng như những ánh hào quang.

Toà nhà Quốc Hội Hung Gia Lợi

Tòa nhà Quốc Hội Parliament Building ở bên bờ Đông của sông đón nhận ánh nắng chiều từ hướng Tây rọi vào một màu vàng chói trông thật hoành tráng rực rỡ. Kế đến bên bờ Tây bên phải, Thành Những Người Đánh Cá (Fishermen’s Bastion) và ngôi nhà thờ cổ Matthias uy nghi, diễm lệ nằm trên ngọn đồi cao vươn những tháp nhọn lên trên bầu trời chiều. Thuyền lướt nhẹ dưới gầm của Cầu Dây Xích, mỗi trụ chân cầu chôn xuống nước là những khối đá chạm trổ nhiều hình tượng đầu người rất lạ mắt mà xe chạy bên trên không thấy được, chỉ có ngồi thuyền dưới sông mới thấy những bức tượng này. Kế đến du thuyền đi ngang qua Hoàng Thành Buda uy nghi ngạo nghễ nằm trên đồi, Sau đó đến cầu Elisabeth rộng lớn với 6 lanes xe lưu thông bên trên và 2 chân trụ cầu không cắm xuống sông mà lại chôn xuống đất ở trên bờ. Kế đến du thuyền qua đồi Gellért, trên đỉnh tượng Nữ Thần Tự Do tư thế nhẹ nhàng của vũ công ballet nâng cao cành lá cọ trên ngọn đồi xanh tươi nhiều cây cối. Du thuyền bắt đầu quay mũi trở về trước khi đến chân cầu Liberty. Trên đường về du thuyền nhẹ nhàng lướt ngược sóng, trời càng về chiều gió càng thắm lạnh và thuyền qua những con phố thương mại bên khu Pest, nơi đây có những cao ốc, công viên, khách sạn, những bến du thuyền.
Sông Danube chảy ngang qua nhiều thành phố nhưng không nơi nào sông Danube đẹp và lãng mạn như ở Budapest. Có lẽ vì nơi đây sông đã đổi khúc không còn chảy xiết theo hướng Tây Đông mà trở nên êm ả lặng lờ xuôi theo Bắc Nam. Budapest là một thành phố cổ, nét đẹp đài các như một vương phi và lại càng lộng lẫy, kiêu sa hơn nữa với dòng chuỗi hạt kim cương Danube lóng lánh trên cổ trắng ngần giữa đôi bờ vai cân đối. Ngoài vẻ đẹp, sông Danube và các phụ lưu của nó còn rất cần thiết cho đời sống người dân Hungary. Chúng là nguồn nước cho dân chúng dùng cũng như tiêu tưới mùa màng và nuôi gia súc. Ngoài ra trước đây, khi các hệ thống giao thông như đường xá, đường sắt và đường hàng không chưa phát triển, sông Danube là trục thủy lộ thương mại chính, là nơi vận chuyển hàng hoá xuất và nhập khẩu không những cho Hungary mà còn cho nhiều nước khác ở châu Âu. Hiện nay sông Danube vẫn được sử dụng để chuyên chở đồ nặng như sắt, xi-măng, gỗ v.v...
Sông Danube là nguồn cung cấp nhiều thủy sản như các loại cá nước ngọt trong đó nổi tiếng là cá tầm, con rất to, dùng làm thức ăn và lấy trứng làm trứng cá muối, tức caviar. Ai cũng biết caviar ở Romania là một trong những loại caviar ngon nhất thế giới hiện nay. Tại vùng châu thổ sông Danube, có hàng triệu chim di trú vào mùa Đông hoặc ghé qua trên đường thiên di hàng năm. Có khoảng 300 loại chim tới đây thường xuyên. Vào cuối mùa Xuân cho tới tháng 10, vùng châu thổ sông Danube là nơi tập trung khoảng 2 ngàn cặp chim bồ nông, loại thủy cầm có cái túi dưới mỏ dài để đựng thức ăn.
Năm 1856, nguyên thủ các cường quốc Âu châu ký một thoả ước về sông Danube, theo đó sông Danube là con đường thuỷ tự do dành cho tàu bè tất cả các nước. Họ cũng thành lập một Ủy ban Quốc tế nhằm quy định việc đi lại trên sông, giải quyết những vụ xung đột cũng như giữ cho giòng nước được trong sạch. Năm 1948, sau thế chiến thứ hai, uỷ ban này được thay thế bằng Ủy ban Sông Danube, trụ sở đặt tại thủ đô Budespest của Hungary. Thành viên của ủy ban là tất cả các nước có sông Danube chảy qua, ngoại trừ Đức. Một dịch vụ phát thanh đặc biệt được thành lập để cung cấp bản tin hàng ngày về mực nước sông Danube, giúp các thuyền trưởng điều khiển con tàu của mình dễ dàng hơn. Vì sông Danube đã trở thành dòng sông quốc tế nên bản tin đó được phát bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Sông Danube đã được cơ quan Văn Hóa Liên Hiệp Quốc là tổ chức UNESCO đưa lên danh sách Di Sản Văn Hóa Thế Giới cần được quan tâm bảo vệ.
Tiếc thay với sự phát triển kỹ nghệ, những năm gần đây, sông Danube đã rơi vào tình trạng bị ô nhiễm trầm trọng. Trong hai năm 1999 và 2000, sông Danube có hàm lượng xyanua (cyanide) cao, sau khi một mỏ vàng ở Romania vô ý làm đổ một khối lượng lớn xyanua, một hợp chất hoá học rất độc, xuống sông. Ba quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất là Romania, Hungary và Nam Tư. Sau tai nạn này, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) còn phát hiện là sông Danube có một số hoá chất nguy hiểm khác. Các quốc gia sở hữu dòng Danube đang làm hết sức mình để con sông nổi tiếng này trong xanh trở lại, không chỉ vì mục đích phát triển du lịch mà còn vì bảo vệ môi trường sống của chính mình.

Du khách Việt trên du thuyền

Trời đã về chiều, ánh nắng mặt trời sắp tắt le lói ở phía Tây, trả lại dòng sông êm đềm với nét lặng lờ cố hữu. Du thuyền đã trở về bến cũ, trên bờ Budapest đã bắt đầu lên đèn và trong khoang tàu âm thanh theo tiết tấuValse của bản nhạc “The Blue Danube” vẫn dìu dặt mênh mang như sóng vỗ mạn thuyền. Nhạc không lời nhưng âm vang như tiếng ai hát theo lời chuyển dịch của Phạm Duy:

“Một dòng xanh xanh, một dòng tràn mông mênh
Một dòng nồng ý biếc, một dòng sầu mấy kiếp
Một dòng trời xao xuyến, một dòng tình thương mến
Một dòng còn quyến luyến, một dòng nhớ
Quay về miền đời lúc mơ huyền...”

TRỊNH HẢO TÂM   

Sunday, October 14, 2012




KÝ SỰ DU LỊCH
FISHERMEN’S BASTION
THÀNH CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐÁNH CÁ Ở BUDAPEST
Bài và ảnh: TRỊNH HẢO TÂM

Một trong những kiến trúc đẹp nổi tiếng của Budapest là Fishermen’s Bastion tức Thành Của Những Người Đánh Cá nằm trên đồi Castle Hill bên hữu ngạn sông Danube. Sở dĩ nó được gọi tên như vậy là vì thời Trung Cổ vào thế kỷ 17 nơi đây có một pháo đài với những bức tường thành và một chợ cá lớn tọa lạc ngay bên cạnh nhà thờ Matthias và những người đánh cá buôn bán ở đây có nhiệm vụ bảo vệ khu vực đó. Di tích của tường thành còn sót lại cho đến cuối thế kỷ 19 vẫn còn.

Nhà thờ Matthias và Thành Những Ngư Dân

Rời đại giáo đường St. Stephen ở trung tâm thành phố, xe chúng tôi hướng ra phiá bờ sông Danube và vượt qua cây cầu đẹp nhất bắc ngang dòng sông êm đềm này. Cây cầu có tên là Cầu Dây Xích (Chain Bridge) là cây cầu đầu tiên được xây ngang sông nối đôi bờ của hai khu Buda và Pest mà trước đây chỉ có những bến đò hay cầu nồi tạm bằng những con thuyền ghép lại với nhau. Đây là cây cầu treo bằng dây cáp cong được chống đỡ bởi hai trụ chôn dưới lòng sông. Hai trụ này có kiến trúc như hai khải hoàn môn mà xe cộ lưu thông xuyên qua phiá dưới. Cầu được xây từ năm 1839 và kéo dài đến 10 năm mới hoàn tất, là công trình tuyệt tác của kiến trúc sư người Anh William Thierney Clark, một thời nổi tiếng là hiện đại nhất Âu Châu vào thế kỷ 19 và hiện tại vẫn là một hình ảnh tiêu biểu của thủ đô Budapest. Cầu có số tuổi gần 2 thế kỷ, thời đó phương tiện giao thông là những chiếc xe ngựa nên chiều ngang cầu không rộng mà chỉ có 2 làn lưu thông tức mỗi chiều một lane. Mỗi đầu cầu có hai tượng sư tử nằm chầu trong rất oai phong lẫm liệt. Từ đầu cầu bên bờ Pest người ta nhìn thấy bờ bên kia là thành lũy Buda hoành tráng, ngạo nghễ tọa lạc trên đồi cao, phiá dưới là 4 tầng cao độ với những đền đài và cây cối xanh tươi bao phủ.

Cầu tuy già nhưng sức chưa yếu vì thường xuyên được trùng tu định kỳ nên vẫn cho xe buýt lớn lưu thông. Sau khi qua cầu xe chúng tôi rẽ phải lên hướng Bắc và nhìn thấy những ngọn tháp trắng nhọn của thắng tích Fishermen’s Bastion hiện ra trên ngọn đồi. Những ngọn tháp này có hình thức cùng kiểu như những ngọn tháp của khu giải trí Disneyland gần khu Little Sài Gòn. Disneyland đã mô phỏng kiểu dáng của các tháp Fishermen’s Bastion để thiết kế những tháp của mình. Có tất cả 7 ngọn tháp tượng trưng cho 7 bộ lạc thuộc sắc dân Magyar đã đến đất Hung tức vùng bình nguyên Carpathian khai phá từ cuối thế kỷ thứ 9 (khoảng năm 896).

Sông Danube chảy ngang thành phố Budapest

Xe đậu vào con đường vòng cung lớn dưới chân đồi và đoàn du lịch đa số là người Đức của chúng tôi theo sau bà hướng dẫn viên Maria, bước hàng trăm bậc thang uốn khúc để lên đồi. Tuy leo dốc nhưng không cảm thấy mệt vì vài chục bậc thang lại có mặt bằng rộng để du khách dừng chân ngắm cảnh nhìn về phía bên kia bờ sông là khu Pest trung tâm của thành phố Budapest. Cứ mỗi nơi dừng chân là có nhiều cảnh đẹp để thu vào ống kính nhưng càng lên cao thì cảnh lại càng đẹp hơn vì phía dưới bao la hùng vĩ có sông, núi, lâu đài, cây cối và thành phố nhà cửa chạy dài xa tít tận chân trời. Ở một vị trí tôi cho là cao vừa đủ, tôi đã chụp Budapest nhiều khoảng cách khác nhau, cảnh sông Danube ghe thuyền xuôi ngược với những cây cầu kiểu dáng khác nhau. Cảnh tòa nhà Quốc Hội (Parliament Building) có kiến trúc hoành tráng và hết sức chi tiết cầu kỳ của hàng chục ngọn tháp vươn lên trời xanh. Du khách ở đây rất đông và cũng giống như tôi họ bị cuốn hút vì cảnh đẹp. Họ đưa máy ảnh nhắm và bấm liên tục, có những máy ảnh nhà nghề dùng phim, có những máy kỹ thuật số (digital) gọn nhỏ, máy quay phim cũng hoạt động không ngừng.

Toà nhà Quốc Hội Hung

Sân chính của Fishermen’s Bastion rất rộng lát đá bằng phẳng và vẫn còn đang được mở rộng và trùng tu. Kiến trúc Thành Của Những Người Đánh Cá là những cầu thang uốn khúc, khoảng sân thượng ngắm cảnh, những dãy hiên trống vách có hành lang chạy dài và những hàng cột tròn để du khách dạo bước mà không bị nắng mưa. Có những đoạn hành lang biến thành nhà hàng ăn với những bàn ăn phủ khăn trắng nhằm tăng thu nhập dùng vào việc điều hành thắng cảnh. Những lầu các (pavilions), tháp cao ở Fishermen’s Bastion có kiểu kiến trúc Tân Gothic và Tân La Mã được thiết kế bởi ông Frigyes Schulek và được xây dựng trong khoảng thời gian từ 1895 đến 1902 cùng thời gian với việc xây dựng lại nhà thờ Matthias tọa lạc gần đó. Trong một khoảng sân trống giữa thành và nhà thờ Matthias là tượng vua Stephen Đệ Nhất (có công thành lập nước Hung vào năm 1000) bằng đồng có màu xanh ngồi trên ngựa được dựng lên trên một bệ đá cao vào năm 1906. Du lịch Âu Châu người ta thường thấy những tượng cũng như các mái nhà thờ, dinh thự có màu xanh mà không biết làm bằng vật liệu gì? Sau khi tìm hiểu được biết các tượng hay mái nhà làm bằng đồng và ở ngoài trời lâu ngày đóng một lớp ten rỉ màu xanh. Lớp ten này không bị rỉ sét và màu xanh luôn luôn tươi sáng không cần phải tu bổ hay sơn phết lại.Tượng Nữ Thần Tự Do ở New York cũng được mạ bên ngoài bằng một lớp đồng nên cũng có màu xanh.

Khoảng sân dưới chân tượng vua Stephen Đệ Nhất luôn luôn có đông đảo du khách chụp hình, ngồi nghỉ hay ăn kem vì gần đó có con phố với những cửa hàng bán đồ lưu niệm. Nơi đây là phía sau của ngọn đồi Castle Hill dốc thoai thoải có đường cho xe hơi chạy lên trong khi phía trước nhìn ra bờ sông dốc đứng chỉ có những cầu thang uốn khúc dành cho người đi bộ. Những cầu thang này hợp với 7 ngọn tháp và các lầu các tạo thành tiền diện nguy nga hoành tráng cho khung cảnh Thành Của Những Người Đánh Cá. Ngày nay ở đây không còn thấy một người bán cá nào có chăng là lúc vào tôi gặp 4 ông nghệ sĩ hè phố với đàn Tây Ban Cầm, vĩ cầm, phong cầm hoà tấu các bản nhạc như Back To Sorriento (Về Mái Nhà Xưa) và The Blue Danube (Dòng Sông Xanh). Bốn ông này chắc người gốc Thổ Nhĩ Kỳ hay Tây Ban Nha gì đó mà rất giống người Mễ Tây Cơ ở California?

Cách khoảng sân rộng nơi phía Tây là nhà thờ cổ Matthias, tên gọi chính thức của nhà thờ là Nhà Thờ Đức Bà (Church of Our Lady) nhưng dân chúng thuờng gọi là nhà thờ Matthias vì do vua Matthias Corvinus ra lệnh xây thêm ngọn tháp cao vào ngôi nhà thờ cổ xây từ thế kỷ 13. Matthias Corvinus là một vị vua anh hùng chinh phạt cả một vùng Trung Âu rộng lớn và đã từng chiến thắng quân Ottoman. Ông thuộc dòng Vlach cai trị xứ Hung từ năm 1458 đến năm 1490 (chân dung của ông được in trên tiền giấy mệnh giá 1,000 Forint).  Dưới triều đại của ông, Hung là một đế quốc hùng mạnh, năm 1469 ông cũng đồng thời là vua của nước Bohemia cai trị các vùng Moravia, Silesia và Lusatia. Đến năm 1486 ông cũng là vua xứ Áo, danh tiếng lừng lẫy nhưng 4 năm sau ông lại băng hà. Ông có một bà vợ người Ý và bà này yêu thích nghệ thuật cho xây nhiều dinh thự với các kiến trúc sư, nghệ sĩ được tuyển dụng từ Ý và Pháp. Sau khi ông qua đời, đế quốc hùng mạnh của ông cũng tàn lụi, đến năm 1521 thành phố Belgrade ở phía Nam thất thủ trước sự tấn công của quân Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ). Năm 1526 quân đội Hung bị đánh tan ở trận Mohács và năm 1541 quân Thổ chiếm Buda. Sau đó nước Hung bị chia làm 3 mảnh: phía Tây dòng họ Habsburg nước Áo cai trị, miền Trung quân Thổ chiếm và phía Đông độc lập lấy tên là Transylvania. Năm 1686 triều đình Habsburg đánh đuổi quân Thổ ra khỏi Buda và cai trị nước Hung cho đến Đệ Nhất Thế Chiến.

Năm 1541 trong thời kỳ nước Hung bị quân Ottoman chiếm đóng kéo dài hơn 150 năm, nhà thờ Matthias bị biến thành đền thờ Hồi giáo. Cuối thế kỷ 19 nhà thờ được xây lại gần đúng với kiểu nguyên thủy từ thế kỷ 13 theo kiến trúc Tân Gothic dưới sự chỉ huy của kiến trúc sư Frigyes Schulek vào năm 1896. Vua Matthias Corvinus từng cữ hành hôn lễ tại đây 2 lần (vì hoàng hậu đầu tiên chết). Nhà thờ còn là nơi  từng tổ chức lễ đăng quang của 3 vị vua trong đó có Charles IV là vua cuối cùng của triều đại Habsburg vào năm 1916. Hiện nay nhà thờ trở thành nhà bảo tàng bên trong có chứa xác ướp khô của những vị vua (như vua Béla III và hoàng hậu được chôn trong nhà thờ), những bức điêu khắc đá thời Trung Cổ cũng như các vương miện, long bào, cây can vương quyền và các món vàng ngọc trang sức cho các vua chúa trong lễ đăng quang.

Nhà thờ Matthias được xây trên ngọn đồi cao nhất trong dãy đồi Castle Hill cách hoàng thành Buda ở về phía Nam không đầy 1 cây số. Cửa chính của nhà thờ không quay ra phía bờ sông Danube mà quay về hướng Tây là hướng tòa thánh La Mã. Thành của Những Người Đánh Cá và Nhà Thờ Matthias được công nhận là Di Sản Văn Hóa Thế Giới vào năm 1988.

Cũng trên dãy đồi Castle Hill về hướng Nam là Hoàng Cung (Royal Palace) là một công trình kiến trúc đồ sộ và hoành tráng nhìn ra bờ sông Danube. Hoàng Cung là những dãy dinh thự liên tiếp nối nhau cao 3, 4 tầng lầu và chính giữa là một tháp đồng màu xanh hình bán cầu được xây vào cuối triều đại Habsburg khoảng cuối thế kỷ 19. Công trình này được thiết kế theo kiểu Tân Baroque bởi hai kiến trúc sư Miklós Ybl và Alajos Hauszmann. Tại nơi đây vào thế kỷ 13 cũng là Hoàng Cung và thành Buda nhưng sau đó vào năm 1241 và 1242 bị quân Mông Cổ sang tàn phá và thiêu rụi tất cả gây ra bịnh dịch hạch và nạn đói. Cuối cùng quân Mông Cổ cũng không dám ở lại phải rút binh về. Cuối thế kỷ 19, triều đình Habsburg cho xây lại Hoàng Thành mới khi đào móng còn phát hiện dấu vết của kinh thành Buda cũ vào thế kỷ 13. Tuy triều đình Habsburg cho xây hoàng cung Buda nhưng họ không ở đây mà đóng đô ở Vienna (Áo quốc), các ông hoàng chỉ dừng lại đây nghỉ ngơi mỗi khi kinh lý và thị sát Buda. Hoàng cung xây xong không bao lâu thì bị phá hủy bởi máy bay Anh, Mỹ trong Đệ Nhị Thế Chiến vì lúc đó Hung đứng về phía Đức. Sau chiến tranh khoảng những năm 1950 Hoàng Cung Buda được xây lại một lần nữa với dáng dấp như ngày nay mà chúng ta nhìn thấy.
Cầu Dây Xích bắc ngang sông Danube phía sau là Hoàng Cung

Từ bên phía thành phố thương mại Pest nhìn qua bên kia sông Danube gần Cầu Dây Xích, Thành của Dân Đánh Cá với những tháp nhọn phiá sau là ngọn giáo đường cổ Matthias và cạnh đó ngạo nghễ trên đỉnh đồi nhìn xuống dòng sông là Hoàng Cung nguy nga hoành tráng soi bóng trên mặt nước là bức tranh vô cùng linh động và ngoạn mục. Các kiến trúc trên là một trong những hình ảnh đẹp nhất của thủ đô Budapest khiến thành phố này trở thành “Paris của Đông Âu”, “Viên ngọc của dòng sông Danube” hàng năm thu hút hàng triệu du khách viếng thăm, là thành phố thu hút đông đảo du khách nhất Đông Âu hiện nay.

TRỊNH HẢO TÂM   

Tuesday, September 11, 2012

KÝ SỰ DU LỊCH
ĐƯỜNG ĐẾN VIENNA THỦ ĐÔ ÁO QUỐC
Bài và ảnh: TRỊNH HẢO TÂM

Chúng tôi rời khách sạn Holiday Inn ở Passau là thành phố có 3 sông giao nhau gần biên giới Đức-Áo lúc 7 giờ 30. Buổi sáng mùa thu trời u ám nhiều mây, Passau vẫn còn đang ngáy ngủ chỉ có mấy cụ già trong áo măng tô ra phố uống cà phê và đi chợ trời mua rau cải, trái cây. Xe chúng tôi qua cầu trên sông Donau tức là sông Danube viết theo tiếng Đức, từ giã những nóc giáo đường đang mập mờ trong sương phủ để nhập vào xa lộ A8 đi về hướng đông là hướng các thành phố Linz và Wien (tiếng Anh là Vienna). Con đường có ba làn xe mỗi chiều mặc dù là xa lộ xuyên Âu Châu và xe lưu thông cũng ít. Tốc độ trên xa lộ Đức không giới hạn có những xe BMW hay Mercedes phóng đến 180 cây số giờ (113 mile giờ) nhưng xe buýt chỉ chạy được 100 cây số giờ thôi và tài xế Đức rất kỷ luật họ lái xe rất thong thả, an toàn. Anh chàng tài xế xe chúng tôi tên Manfred người Đức gốc Ba Lan thỉnh thoảng còn dùng micro để giải thích những di tích lịch sử dọc hai bên đường và kể những chuyện tiếu lâm. Mỗi khi bắt đầu câu chuyện anh ta mở lời bằng hai tiếng “À zô” cũng như Nhật là “À no” và Mỹ là “Hmm”. Anh ta ghiền thuốc lá và chỉ phì phèo thuốc lá mỗi hai tiếng đồng hồ khi ghé những trạm xăng có quán cà phê cho chúng tôi đi nhà vệ sinh và xuống xe cho thư giãn. Nhà vệ sinh sử dụng phải trả tiền là 50 xu tiền Euro nhưng nhiều nơi nếu du khách mua đồ hay ăn uống, 50 xu này sẽ được trừ ra.

Nửa giờ sau tài xế thông báo đến biên giới Áo quốc. Trạm biên giới có những dãy nhà vắng vẻ treo cờ Đức và Áo và để cho nhân viên quan thuế qua lại từ bên này qua bên kia xa lộ, họ xây cây cầu vượt có mái che như dãy nhà phía bên trên xa lộ. Xe buýt chúng tôi không phải dừng lại mà cứ vọt qua, chỉ những xe vận tải hàng hóa lớn phải đậu lại mà thôi. Nước Áo có 8.2 triệu dân, ngôn ngữ cũng nói tiếng Đức nhưng nghe nói là tiếng Đức cổ, đúng và hay hơn tiếng Đức dùng bên Đức. Áo cũng nằm trong Liên Hiệp Âu Châu (Europe Union) nên cũng dùng tiền tệ là đồng Euro.

Phong cảnh trong nước Áo cũng giống như bên Đức, những đồng ruộng thoai thoải trồng cải mù tạt (mustard) vàng mượt cả cánh đồng. Những cánh rừng nho nhỏ cây cối um tùm rậm rạp nằm rải rác trên những sườn đồi. Những dòng sông lặng lờ chảy qua những ngôi làng lúc nào cũng có ngôi nhà thờ tháp cao ở giữa nhưng không thấy bóng người. Điều làm tôi ngạc nhiên là Âu Châu dân chúng sống thưa thớt trái với Trung Quốc thành phố nào cũng cả chục triệu dân, nơi nào người cũng đông di chuyển như những đoàn quân diễn tập. Đường chúng tôi đang đi nằm về miền bắc nước Áo nằm trong thung lũng sông Danube và con đường song song với dòng sông Danube chảy từ tây sang đông. Miền nam nước Áo là vùng núi Alps cao ngất có nhiều ao hồ mùa đông tuyết phủ nơi có thành phố núi Graz và Salzburg là quê hương của nhà soạn nhạc Mozart cũng là nơi quay những cảnh trong phim “The Sound of Music”.

Tài xế Manfred cho biết sắp sửa đi ngang qua một nhà dòng nơi đây làm rượu bia rất danh tiếng. Đầu tiên các tu sĩ cất bia để nhà dòng uống nhưng sau đó vì bia ngon nổi tiếng nên các thày dòng bán ra thị trường gây qũy cho tu viện. Ngôi nhà dòng xây trên đồi trông như một lâu đài cổ. Anh ta có nói tên nhưng tiếng Đức tôi không ghi lại được. Chúng tôi ngang qua phía nam của thành phố Linz là một thành phố lớn từng là cố đô nước Áo. Từ đây xa lộ đổi thành A1 và hai giờ sau đó chúng tôi đến ngoại ô thủ đô Vienna mà người địa phương gọi là Wien.

                                                                   Thành phố Vienna

 Vienna là thủ đô của Áo quốc đồng thời cũng là một trong 9 tỉnh bang của Áo, dân số 1.6 triệu (2.2 triệu nếu tính luôn ngoại thành) so với cả nước là 8.2 triệu. Là thành phố lớn nhất cũng là trung tâm văn hóa, chính trị của nước Áo. Thành phố được chia là 23 quận nằm trong 4 khu vực khác nhau. Khu trung tâm thành phố quận 1 là khu phố cổ, nơi đây chứa nhiều di tích lịch sử nhất như các nhà thờ, hoàng cung và con đường vòng đai nổi tiếng Ringstrasse bao quanh khu phố cổ. Đại lộ vòng đai (Ringstrasse) được xây trên khu đất ngày xưa là tường thành thời trung cổ bảo vệ cho thành phố cổ Vienna. Vào trước ngày Giáng Sinh năm 1857 hoàng đế Franz Josef I ra lệnh phá bỏ tường thành để xây đại lộ hoàng cung như vinh danh triều đại huy hoàng Habsburg nhưng khi công trình hoàn thành năm 1890 thì triều đại Habsburg đã chấm dứt! Ngày nay đại lộ vòng đai của Vienna trông đẹp hơn rất nhiều so với thời kỳ đế chế Habsburg suy vong. Trên con đường này du khách có dịp chiêm ngưỡng tất cả 12 kiến trúc công cộng to lớn như Kịch Viện Quốc Gia (State Opera House), Tòa Thị Chính, Toà Nhà Chứng Khoán (Stock Exchange), Trường Đại Học, Hí Viện (Burgtheater), tòa Nhà Quốc Hội (Parliament) và hai Viện Bảo Tàng. Quận 1 không chỉ là trung tâm lịch sử, văn hóa của thành phố mà còn là nơi thanh lịch, vật giá đắt nhất với những khu mua sắm sang trọng, những khách sạn đắt tiền và những nhà hàng với thực đơn nhiều nước trên thế giới. Sông Danube không chảy ngang quận 1 mà chỉ có một nhánh nhỏ của nó là Dunaukanal chảy qua mà thôi. Do đó ngồi du thuyền trên sông Danube ở Vienna khung cảnh hai bên bờ sông chỉ là những nhà cửa, phố xá bình thường không nguy nga hoành tráng như ở Budapest thủ đô của Hung mà chúng tôi sẽ đến chiều nay.

Về khía cạnh lịch sử, thành phố Vienna thành lập từ năm 500 BC, nguyên thủy là vùng định cư Celtic. Năm 15 BC là tỉnh tiền đồn của đế quốc La Mã chống lại các bộ lạc người Đức ở phía Bắc. Thời Trung Cổ là đế đô của triều đại Babenburg bị quân Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ xăm lăng vào thế kỷ 16 – 17. Đến năm 1805 là thủ đô của đế quốc Áo. Sau Đệ Nhất Thế Chiến 1918 là thủ đô của Đệ Nhất Cộng Hòa Áo. Áo bị Đức chiếm năm 1938 khai mào cho Đệ Nhị Thế Chiến và sau khi Đức đầu hàng, chiến tranh kết thúc chính quyền Áo tái lập ngày 27-04-1945. Sau 1945 Áo giữ thế trung lập. Sau chiến tranh lạnh kết thúc Vienna liên kết nhiều với các nước Đông Âu. Dân số Vienna 1 phần 3 có gốc Slavic hay Hung Gia Lợi, 50% theo đạo Thiên Chúa Giáo La Mã và 8% theo đạo Hồi.

Xe chúng tôi từ hướng Tây đi vào vùng ngoại ô thành phố bằng đại lộ Wiener-Bundesstrasse, con đường chạy cập theo con sông nhỏ chảy vào khu phố cổ quận 1. Xe đậu lại ở khu hoàng cung mùa hè Schonbrunn Palace để chúng tôi thăm viếng chụp hình cũng như đón bà hướng dẫn viên du lịch địa phương Vienna. Bà cũng nói tiếng Đức, người mảnh mai trên 60 tuổi, bà có nhiệm vụ hướng dẫn đoàn chúng tôi trong khi tham quan ngắm cảnh ở thành phố Vienna. Chúng tôi đến đây lúc 10 giờ, du khách rất đông phải sắp hàng để mua vé. Điểm đặc biệt của cung điện này là hoàng đế nước Pháp Nã Phá Luân (Napoléon) đã từng ngự trị nơi đây.

Trịnh Hảo Tâm trước lâu đài Belvedere xây 1721 ở Vienna

Cung điện mùa hè Schonbrunn Palace sơn màu vàng hoàn tất năm 1700 dưới triều vua Leopold I bởi kiến trúc sư chuyên xây hoàng cung là Johann Fischer von Erlach. Hoàng cung được nới rộng dưới triều nữ hoàng Áo Maria Theresia và thời ấy có đến 2,000 căn phòng, có nhà nguyện và rạp hát riêng cũng như sở thú thành lập năm 1752 đuợc xem là sở thú đầu tiên trên thế giới. Nã Phá Luân sống tại đây từ 1806 đến 1809 và vua Francis Joseph I chào đời tại đây năm 1830 cũng như sống những năm cuối đời tại cung điện này. Cung điện được triều đại Habsburg dùng làm nơi nghỉ mát trong những tháng hè.

Tại sao hoàng đế nước Pháp là Nã Phá Luân lại sống trong hoàng cung nước Áo? Lật lại những trang sử Pháp thì được biết Nã Phá Luân có tên là Napoléon Bonaparte sinh năm 1769 tại đảo Corse ở miền Nam nước Pháp. Ông tốt nghiệp trường Quân Sự Hoàng Gia Pháp với chức vụ thiếu úy. Tham gia vào cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789, vốn là một sĩ quan thông minh tài giỏi, ông từng lập chiến công với trận đánh ở quân cảng Toulon nằm ở miền Nam nước Pháp vẫn còn bị quân bảo hoàng và quân Anh chiếm đóng. Giải phóng được Toulon ông được thăng chuẩn tướng. Sau đó ông dẹp được bạo loạn tại Paris năm 1795 do những thành phần bảo hoàng gây rối và kể từ đó đường công danh của ông rộng mở.

Cách mạng Pháp làm chấn động cả Âu Châu, các thế lực phong kiến châu Âu liên kết để tấn công nước Pháp. Năm 1796 các nước Anh, Nga, Áo liên kết với nhau tập trung tấn công nước Pháp. Chính phủ Pháp phái 4 đạo quân ra chận đánh và Nã Phá Luân được bổ nhiệm làm tư lệnh đạo quân thứ 4 đánh sang nước Ý để ngăn chận quân Áo. Chỉ trong một thời gian ngắn ông đánh tan quân Áo tại Ý và tiến quân vào lãnh thổ nước Áo tới sát kinh đô Vienna làm Áo phải ký hiệp định đình chiến. Sau đó để ngăn chận sự bành trướng của nước Anh  khi nước này đem quân từ Ai Cập tiến sang Ấn Độ, Nã Phá Luân được cử làm tư lệnh đoàn quân Đông chinh đã nhanh chóng đánh chiếm Ai Cập. Nhưng tại châu Âu tình hình chuyển biến bất lợi cho Pháp, quân Pháp bị đánh bại trên các chiến trường, các vùng đất tại Ý đều bị mất. Nã Phá Luân quyết định phải trở về Pháp.

Năm 1800 Nã Phá Luân thân chinh cầm quân vượt dãy núi Alps sang Ý đánh đoàn quân Áo tan tác tại trận Marengo. Sau thất bại đó liên quân Anh, Áo, Nga phải ký hòa ước Amiens trả lại Pháp những thuộc địa của Pháp trước kia. Ông đánh bại những kẻ thù của Pháp nên đầu năm 1804 ông tự thăng làm hoàng đế nước Pháp lấy hiệu là Napoléon Đệ Nhất. Năm 1806 nước Anh không cam chịu thất bại đã thành lập một liên minh mới chống Pháp nhưng đã bị Nã Phá Luân đánh bại tại Austerlitz. Thừa thắng ông chiếm luôn kinh đô Vienna của Áo và Áo phải gả công chúa Marie Louise cho Nã Phá Luân để cầu hòa. Đó là lý do tại sao Nã Phá Luân lại sinh sống trong cung điện Schonbrunn của hoàng gia Áo. Sau đó ông còn đánh nước Phổ (nước Đức ngày nay) và chiếm Berlin làm Nga và Phổ phải ký hiệp ước cầu hòa cử ông làm “bảo hộ liên bang sông Rhein” tức có quyền điều binh trong một vùng rộng lớn của nước Phổ.

Thời kỳ đầu những năm 1800 Nã Phá Luân được xem như là hoàng đế cả một vùng Tây Âu, ông mang danh hiệu vua nước Ý và phong người em mình là Louis Bonaparte làm vua Hòa Lan, người anh là Joseph Bonaparte được phong làm vua Napoli. Trong thời gian này ông ra lịnh phong tỏa kinh tế đối với nước Anh. Năm 1810 lợi dụng lúc hoàng gia Tây Ban Nha rối loạn, Nã Phá Luân đưa 30 vạn quân chiếm Tây Ban Nha và cử anh mình là Joseph làm quốc vương Tây Ban Nha.
Chu kỳ của tạo hóa theo thuyết âm dương, trong dương đã có nhân âm và ngược lại, những gì lên đến hồi cực thịnh là bắt đầu giai đoạn suy vong. Thấy Nga không tuân thủ lệnh cấm vận mà vẫn còn giao thương với Anh, năm 1812 Nã Phá Luân chỉ huy 61 vạn quân tiến đánh nước Nga. Quân Pháp mau chóng chiếm được thành Kremlin ở thủ đô Moskva nhưng chỉ thành không nhà trống vì quân Nga đã rút lui để bảo toàn lực lượng. Trong 5 tháng đóng quân tại Nga vì thời tiết giá lạnh, lương thực khó khăn tiếp tế nhiều lần ông đề nghị cầu hòa với Nga hoàng Aleksander I nhưng không được đáp ứng. Cuối cùng Napoléon buộc phải hạ lệnh rút quân khỏi Nga. Trên đường rút quân, quân Pháp bị quân Nga truy kích quyết liệt nên bị thiệt hại nặng nề. Khi ra khỏi lãnh thổ nuớc Nga, trong tay Napoléon chỉ còn hai vạn bảy nghìn quân.
Sau khi quân Pháp thất trận, trên toàn châu Âu các nước đã liên kết với nhau để chống lại Napoléon. Không khí chống Pháp nổi lên khắp nơi, năm 1814 liên quân Anh, Nga, Áo, Phổ và quân Pháp đánh nhau dữ dội tại Leipzig. Quân Pháp bại trận. Thừa thắng liên quân đã tấn công chiếm thủ đô Paris. Napoléon phải thoái vị và bị đày ra đảo Elba một hòn đảo nhỏ ở Địa Trung Hải. Triều đình phong kiến Bourbon trở về nước Pháp bắt đầu chiếm lại đất đai đã bị mất trong cuộc cách mạng.
Một buổi tối tháng 3 năm 1815 Nã Phá Luân từ đảo Elba bí mật trở về Lyon. Triều đình Bourbon phái nhiều quân đoàn đến đánh nhưng tất cả đều hô to “Hoàng đế vạn tuế” rồi chạy theo ông. Ông trở lại ngôi vị hoàng đế mà không tốn một viên đạn nào! Tin tức Nã Phá Luân quay trở về khiến các nước châu Âu hốt hoảng, họ vội vàng liên minh với nhau kéo quân từ bốn phương tám hướng đổ về nước Pháp. Nã Phá Luân chỉ huy quân Pháp đánh bại nhiều cánh của liên quân tại Bỉ. Cuối cùng tháng 6 năm 1815, trong trận chiến tại Waterloo, quân Pháp bại trận trước liên quân Anh, Hoà Lan và Phổ, Nã Phá Luân buồn bã kéo quân trở về Paris, lần thứ hai ông bị buộc thoái vị và bị đày ra đảo Saint Helena tại đây ông đã sống cho đến năm 1821. Ngày 5-5-1821 vị hoàng đế Pháp một thời bá chủ châu Âu Napoléon I qua đời. Đến năm 1840 chính phủ Pháp đưa thi hài ông trở về Paris.


                                                                Đường phố Vienna






Wednesday, September 5, 2012

KÝ SỰ DU LỊCH
VIẾNG CHỢ TRỜI “BỐN CON HỔ” Ở BUDAPEST
Bài và ảnh: TRỊNH HẢO TÂM


Theo báo Người Việt số ngày 2-9-12 chợ trời “Tứ Hổ” ở Hungary đứng trước nguy cơ bị chính quyền đóng cửa vì là nơi “hội tụ của các băng đảng tội phạm và làm ăn phi pháp”. Cũng theo báo Người Việt: “Tin này khiến hàng chục ngàn thương nhân Việt Nam đang sinh sống tại Hungary cũng như người cung cấp hàng hóa từ Việt Nam lo lắng. Chợ trời Tứ Hổ đóng cửa sẽ khiến họ mất đi nguồn lợi tức đáng kể. Ðó là chưa kể việc họ lo lắng không biết phải làm việc gì để sinh nhai trong thời gian tới”.
Để độc giả biết qua khu chợ trời nói trên sinh hoạt buôn bán ra sao, xin đăng bài phóng sự viếng chợ trời “Tứ Hổ” ở Budapest thủ đô Hung Gia Lợi (Hungary) của tác giả cách vài năm, thiết nghĩ ngày nay cũng không thay đổi bao nhiêu:
Đi đến đâu nơi xứ người tôi cũng muốn tìm đến khu thương mại VN để thăm dân cho biết sự tình, xem đồng hương làm ăn sinh sống ra sao? Môi trường, hoàn cảnh sinh hoạt của đồng bào mỗi nơi khác nhau nên tâm tư hoài bảo của người Việt mỗi xứ mỗi khác. Hỏi thăm vài ba câu sẽ gặp đôi điều rất lạ để ghi lại trong những chuyện bên lề chuyến đi. Ở Budapest cũng vậy, sau những ngày theo Tour du lịch để được hướng dẫn đi thăm các di tích thắng cảnh của thành phố. Sáng hôm nay là ngày được tự do dong ruỗi muốn đi đâu thì đi, tôi có ý định tìm tới thăm khu chợ trời có người VN buôn bán. Chiều hôm qua tôi hỏi bà Maria, hướng dẫn viên du lịch người Hung, về khu thương mại VN ở Budapest. Tưởng bà không biết nhưng bà trả lời ngay là bà thường đến đó! Nghe vậy mừng quá sẵn cầm bản đồ Budapest trong tay, tôi đưa cho bà và nhờ bà chấm vị trí khu VN trên bản đồ. Rồi từ đó tôi sẽ liệu phương tiện mà đi: dễ thì đi bằng xe điện hay xe buýt công cộng, còn khó thì kêu taxi. Bà Maria khoanh một vòng nhỏ trên bản đồ ở góc đường Kóbanyai út và Fuimei út thuộc Quận 8 gần nghĩa trang Kerepesi và bà cho biết bà thường tới đây để mua sắm quần áo vì hàng hóa hợp thời trang giá lại hợp với...túi tiền. Bà chỉ chúng tôi nên dùng Métro cho rẻ, hết Métro đổi qua xe buýt, hết xe buýt đi bộ một khoảng vài trăm thước là tới, bà nói rất dễ tìm.

Ăn sáng ở khách sạn xong, bốn người chúng tôi (vợ chồng tôi và vợ chồng cô em gái tôi định cư ở Đức) chuẩn bị gọn gàng, đem theo dù (vì trời có vẻ âm u) và nước uống. Quan trọng hơn hết, không bao giờ được quên là máy chụp hình và pin phải sạt đầy đủ vì máy mới, nòng zoom cực mạnh mà...hết pin thì cũng như không! Khách sạn Wien chúng tôi cư ngụ thuộc Quận 11 nằm ở hướng Nam bên thành phố núi Buda, trong khi khu chợ VN nằm ở hướng Tây bên thành phố thương mại Pest. Từ khách sạn tọa lạc trên con đường chính tên Budaorsi chúng tôi lấy xe buýt số 139 lên hướng Bắc để đến ga xe điện ngầm đầu tiên của tuyến đường M2. Xe buýt mang số 139 buổi sáng rất đông người nên không còn ghế ngồi, nếu ở VN thì chắc có vài bạn trẻ sẽ đứng lên nhường ghế cho tôi nhưng ở đây thì không có tục lệ...kính già, yêu trẻ, tử tế với phụ nữ đó! Nhưng một lúc sau cũng có một phụ nữ dẫn thằng con trai đi học xuống xe và tôi lập tức... “điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa”! Đi xe buýt số 139 này không sợ lạc vì chạy tới ga xe điện ngầm là trạm cuối đường nên hành khách xuống xe hết, mình cũng xuống theo. Ga Pályaudvar là ga đầu của tuyến Métro M2  chạy từ Buda sang Pest cũng tấp nập người đi. Chúng tôi đi thang bộ xuống hầm và mua vé dùng trong một ngày, có nghĩa là trong hệ thống xe điện ngầm Métro, với vé này có thể đi đến bất cứ ga nào cũng được miễn sao dùng trong ngày đó. Tôi nhớ vé này giá khoảng 4, 5 USD gì đó.

KHU CHỢ TRỜI BỐN CON HỔ

Xuống xe điện ngầm ở ga Keleti pu. tức là ga số 3 sau nhà ga trung ương, chúng tôi lấy xe điện trên mặt đường số 24 để đi đến khu chợ trời. Xe điện 24 là loại xe nhỏ chỉ có 3 toa tàu, chạy bằng dây điện từ nóc tàu móc vào dây treo dọc theo đường ray. Đến ngã tư đường Fiumei út và Kobanyai út chúng tôi xuống xe đi bộ về hướng Đông chừng vài trăm thước là thấy khu Chợ Trời Bốn Con Hổ (4 Lions Market) nằm bên trái và bên phải là một khu phố khác cũng có chợ trời nhưng bên trong một ngôi nhà lớn. Đến đây chúng ta sẽ thấy khung cảnh quen thuộc của chợ VN với những bảng hiệu 3 thứ tiếng Việt, Tàu và Hung như “Bán Sỉ Hải Sản”, “Hớt Tóc”, “Thời Trang, Y Phục”, “Da Giày”, “Điện Máy”, “Đồ Chơi” v.v...Những chậu bonsai, thiên tuế (sago palm), quần áo may sẵn, đồ chơi quen thuộc của khu Bolsa hay Chợ Tàu Los Angeles xuất hiện bày ra trên dĩa hè. Không có những ngôi chợ thực phẩm Á đông lớn nhưng có một vài cửa hàng bày rau muống, rau thơm, nước mắm, xì dầu, mì gói, các CD, DVD nhạc VN, tuồng cải lương v.v...Khu Chợ Trời Bốn Con Hổ có hàng trăm sạp hàng có mái che bằng vật liệu nhẹ bày bán quần áo, áo khoát, áo lông, giày dép, bóp phụ nữ, va li, túi xách, đồ điện tử, đồ chơi làm từ Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ. Khu Chợ Trời Bốn Con Hổ đa số người bán hàng là người Trung Quốc chỉ có khoảng 10 đến 20% là người VN. Tôi nhận ra đồng hương VN là vì nghe họ nói chuyện hoặc mở nhạc VN hay cầm trên tay những tờ báo tiếng Việt. Báo tiếng Việt ở đây tôi thấy có 2 tờ đều in đen trắng hay một màu ở khổ 8.5 x 11  inches: tờ Bạn Đường là nhật báo phát hành 6 ngày trong tuần với tiêu đề là “Báo của người Việt tại Đông Âu” địa chỉ tòa soạn là “H – 1076 Budapest, Garay u.23. Nhật báo Bạn Đường có 24 trang, trách nhiệm biên tập là Trọng Hiếu, không ghi giá bán nhưng nghe nói là khoảng 1 USD. Tờ thứ nhì là “Nhịp Cầu Thế Giới”, bán nguyệt san tin tức và văn hóa, dầy 36 trang ghi giá là 200 Forint (1 USD), chủ bút là Hoàng Linh. Nội dung cả hai tờ báo là tin tức Hung Gia Lợi, VN, thế giới, văn nghệ, thể thao, phụ nữ, giải trí, ô chữ, tử vi và quảng cáo, rao vặt. Những quảng cáo như rao bán các sạp hàng (gọi là Pavilon) ở chợ trời Bốn Con Hổ với giá hạ còn 300,000 Forints (1,500 USD) (Là chủ sạp hàng nhưng mỗi tháng còn phải trả tiền thuê chỗ cho chủ Chợ Trời). Những rao vặt như nhà hàng, quán karaoke, bán sỉ quần áo, văn phòng dịch vụ như phiên dịch, làm giấy tờ, nộp hồ sơ xin định cư, nhập quốc tịch, mua bán bất động sản, bán vé máy bay, bán các căn hộ chung cư, nhà có vườn, giữ trẻ, kèm trẻ, dạy tiếng Hung, tiếng Hoa v.v...

Người đầu tiên tôi gặp rất vui vẻ là cô Hương khoảng dưới 40 tuổi bán quần áo, quần jean, đồ lót phụ nữ ở một gian hàng chợ trời trong nhà (ngày xưa là kho hàng của hãng sản xuất bình điện xe) đối diện với Chợ Trời Bốn Con Hổ. Cô nói tiếng nghe như người miền Trung, tôi ngạc nhiên hỏi:
- Đa số ở đây người miền Bắc, còn cô là người Trung à?
Cô cho biết là:
- Em người Quảng Bình sang đây hợp tác lao động từ 1988.
Tôi chụp hình nhưng cô e thẹn, ngại ngùng che mặt hoài không cho chụp.

Người thứ nhì tôi gặp trong Chợ Trời Bốn Con Hổ là một người đàn ông trên 55 nhưng trông còn trẻ hơn số tuổi, anh cho biết tên Nguyễn Thái Nhiên, cũng rất cởi mở. Tôi hỏi anh:
- Anh là người miền Bắc?
- Vâng, tôi là người Hà Nội.
- Anh sang đây năm nào và theo diện gì?
- Sang đây lâu lắm rồi, có hơn mười mấy năm và đi theo diện hợp tác lao động?
- Anh có gia đình vợ con tại đây không?
- Vợ con, bố mẹ gia đình vẫn còn ở Hà Nội.
- Anh có về thăm nhà không?
- Chừng như năm nào tôi cũng đều về hết.
- Anh buôn bán ở đây có khá không?
- Phải nói là thoải mái hơn là ở VN.
- Anh làm chủ một cửa hàng ở chợ trời này?
- Tôi có 3 cửa hàng, tôi điều hành một còn hai cửa hàng kia cho người ta thuê.
- Tiền thuê mỗi cửa hàng như vậy là bao nhiêu một tháng?
- Một ngàn đồng mỗi tháng.
Thấy đắt qúa nên tôi hỏi lại:
- Anh nói một ngàn đô la Mỹ mỗi tháng?
- Vâng, một ngàn tiền Mỹ.
- Mỗi ngày tiền thuê trên 33 đô la, như vậy lời bao nhiêu mỗi ngày mới đủ sống?
- Phải trên vài trăm mới có lãi, chủ yếu là bán buôn (bán sỉ) cho người Hung từ các làng quê về mua để bán lại.
- Chủ chợ trời này là người Hung?
- Vâng người Hung, ngày xưa đây là hãng sản xuất bình điện ắc quy, nơi chợ trời này là bãi chất hàng lên tàu hỏa để chở sang Tiệp và Ba Lan.

Tác giả Trịnh Hảo Tâm bên trong chợ “Bốn Con Hổ”

Chúng tôi theo Nguyễn Thái Nhiên đến quán Hà Nội ở gần dãy nhà kho cho các tiểu thương trong chợ trời mướn để chứa hàng hóa. Tại đây có một dãy quán ăn gồm 4, 5 căn của người VN bán cà phê, bia, thức ăn trưa cho đồng hương buôn bán trong chợ trời. Các quán có vẻ lôi thôi, nhếch nhác giống như ở trại tỵ nạn ngày trước, phía trong quán là quày pha cà phê và những thau chứa thức ăn nấu sẵn mà người Hung gọi là Bufé. Những món ở đây tôi thấy có sườn chiên, cá kho, canh cải, rau muống xào, cà ry gà v.v...Nhiều khách hàng VN cũng như người Hung, Thổ Nhĩ Kỳ khuân vác trong chợ trời đang ngồi ăn trên những dãy bàn dài đặt phía patio bên ngoài. Các quán không tên chỉ có quán duy nhất có đề bảng hiệu màu xanh là quán Hà Nội. Quán Hà Nội đang có mấy người Thổ ngồi ăn chiếm hết một bàn dài nên chúng tôi sang quán bên cạnh. Mấy hôm nay uống cà phê trong khách sạn nhạt nhẻo qúa nên tôi kêu ly cà phê đen Trung Nguyên nhưng quán này chỉ có cà phê Hung Gia Lợi, tôi phải qua quán Hà Nội kêu ly cà phê Trung Nguyên với giá 300 Forints (1.5 USD) trong khi cà phê Hung ở quán tôi ngồi chỉ có 100 Forints. Gọi tắt là “cà phê Hung” chứ thực ra Hung là xứ lạnh không trồng được cà phê, cũng nhập cảng đâu đó từ Nam Mỹ. Quán Hà Nội có bán phở nhưng chúng tôi không có ăn, một phần vì chưa đói, hai là vì quán bày biện lôi thôi sợ không sạch!

                                                              Trong quán ăn Hà Nội

Đến gần 12 giờ trưa khách đến ăn bắt đầu đông, toàn là đàn ông VN đa số đến từ miền Bắc. Thấy chúng tôi là những khuôn mặt lạ nên có một số người hỏi thăm, tưởng chúng tôi từ Nga, Ba Lan mới qua để...bán chợ trời. Một lát sau có anh chàng trẻ, tuổi độ 35 nói giọng miền Đà Nẵng từ phía sau quán đi ra hút thuốc, chào tôi và vui vẻ muốn góp chuyện. Anh ta cho biết tên Thắng đang làm đầu bếp cho quán này và là người Đà Nẵng đi lao động ở Hung 15 năm nay, anh tự giới thiệu:

- Cháu ở Đè Nẽn sang đây theo chương trình đi lao động từ lúc 20 tuổi.
- Anh có vợ con gì chưa?
- Buồn quá chú ơi! Ngày cháu đi vừa mới cưới vợ, cháu định đi ra nước ngoài lao động để kiếm tiền gởi về nuôi vợ và gây dựng một số vốn để vợ lòm en. Nhưng đi nem, sấu nem (5, 6 năm) không có gởi về đồng nào!
- Anh làm không có dư?
- Cũng có dư chứ chú! Nhưng dư không nhiều, cháu lại cờ boạc...thua hết!
- Thì mình đừng chơi, để dành tiền gởi về?
- Chú nghĩ coi, bên này xa xứ buồn lắm, cuối tuần rẻn rang không đi lòm chỉ có nước tụ họp nhau nhậu nhẹt và cờ boạc, mới đầu đánh lai rai với nhau cho vui. Thét rồi đâm ra ghiền và đánh lớn, lòm được bao nhiêu thua hết! Không có tiền gởi về, riết rồi vợ cũng bỏ luôn, nghe nói có chồng khác!
- Anh có trở về Đà Nẵng lần nào không?
- Không có tiền nên mười mấy nem nay đâu có về! Cháu nhớ nhà lắm chứ, nhưng về không có tiền cho cha mẹ, anh em thì càng thêm nhục!
- Anh không tìm nghề khá hơn để kiếm tiền nhiều hơn?
- Không biết chữ, không biết tiếng, không có vốn thì chỉ đi lòm công hoặc nấu en thôi!
- Anh biết nấu nhiều món không?
- Cháu nấu món Tàu, Tây gì cũng hết xẩy vì đã từng nấu nhà hàng, nhất là mấy món nhậu thì...bá chấy! Chú mà en...không muốn về Mỹ nữa!

Mỗi người một hoàn cảnh riêng, có người sống thoải mái gởi tiền về nuôi gia đình, có người còn lang bạt ngược xuôi vì tuổi trẻ nhiều đam mê mà ở nơi đâu “cờ bạc vẫn là bác thằng bần”! Budapest cũng không là ngoại lệ!

TRỊNH HẢO TÂM
   
                               Chợ trung tâm Budapest giống như chợ Bến Thành ở Sài Gòn

Thursday, July 26, 2012

KÝ SỰ DU LỊCH
LUÂN ĐÔN ĐÔ THỊ CỔ KÍNH
Bài và ảnh: TRỊNH HẢO TÂM
 
Luân Đôn là vùng đô thị lớn nhất và là thủ đô của Anh quốc có chiều dài lịch sử đến 2 ngàn năm thành hình từ thời đế quốc La Mã. Luân Đôn có rất nhiều di tích lịch sử, một mình sở hữu đến 4 Di Sản Văn Hóa Thế Giới là Cung Điện Westminster (Palace of Westminster, bao gồm Tu Viện Westminster (Westminster Abbey) và nhà thờ St. Margaret), Hoàng Thành Luân Đôn (Tower of London), Làng Hàng Hải Greenwich và Vườn Thượng Uyển Kew mỗi năm thu hút hàng triệu du khách. Ngày nay Luân Đôn là một trong những trung tâm của thế giới dẫn đầu về thương mại, tài chánh và văn hóa, ảnh hưởng toàn cầu trong các lãnh vực như chính trị, giáo dục, giải trí, truyền thông, thời trang và nghệ thuật.

                                                  Cung điện Westminster và tháp Big Ben

PHI TRƯỜNG HEATHROW

Tám giờ 10 phút sáng phi cơ chúng tôi đáp xuống phi trường Heathrow (ký hiệu LHR) ở phía Tây thành phố London (Luân Đôn). Mặc dù là phi trường lớn và bận rộn nhất Âu Châu nhưng quang cảnh có vẻ yên tịnh, trầm lắng khác với không khí nhộn nhịp, hối hả của phi trường Los Angeles (LAX), có lẽ mang nét đặc thù của dân Âu Châu, cái gì cũng nhàn nhã, tà tà. Phi trường cách trung tâm thủ đô London 15 miles (24 km) có 2 phi đạo chính nằm theo hướng Đông Tây và 5 nhà ga hành khách (terminals). Terminal số 5 mới khánh thành ngày 14-3-2008 chỉ dành riêng cho hãng máy bay nhà là British Airways và sẵn sàng đón những chuyến bay Airbus kiểu mới A380 sau khi chuyến bay đầu tiên thử nghiệm vào ngày 18-3-2008 vừa qua với Singapore Airlines chở 470 hành khách thành công. Chuyến bay số SQ308 này đánh dấu chuyến bay thương mại đầu tiên đến Âu Châu bằng phi cơ mới khổng lồ A380.

Heathrow Airport là phi trường lớn nhất trong vùng London hàng năm có 67 triệu hành khách qua phi trường này. Hiện có 90 hãng máy bay đi và đến, nối kết với 170 phi trường ở khắp nơi trên thế giới. Nhược điểm của phi trường Heathrow là nằm trên vùng đất thấp chỉ cao hơn mặt biển 83 feet (25m) nên thường bị sương mù (xứ Anh nơi nào cũng có sương mù) cũng như 2 phi đạo nằm theo hướng Đông Tây khiến đường bay lúc cất cánh cũng như sắp đáp đều bay ngay trên thành phố London gây ồn ào và nguy hiểm cho dân chúng phía dưới. Trong vùng London còn có 5 phi trường khác là Gatwick, Stansted, Luton, Southend và City. Nhà ga đi và đến của các máy bay hãng United Airlines chúng tôi đi nằm ở Terminal số 3 cũng như 3 Terminal kia (số 1, 2 và 4) đều lọt thõm ở chính giữa phi trường bao quanh là các phi đạo và đường băng, muốn ra ngoài xe cộ phải theo các đường ngầm nằm dưới các phi đạo. Qua lại giữa các Terminal có xe đưa đi miễn phí

Ra khỏi phi cơ quang cảnh nhà ga cũng rộng rãi, sáng sủa, các bảng hướng dẫn khá rõ ràng. Nhân viên chỉ dẫn phi trường đa số là phụ nữ Ấn Độ nhưng nhân viên di trú kiểm soát Passport (thông hành hay hộ chiếu) là phụ nữ Anh. Cô nhân viên xem Passport tôi là một người đàn bà trẻ khuyết tật không có cánh tay phải. Cô làm việc bằng tay trái, dù tàn tật nhưng cô ta vẫn đi làm và vui vẻ không mặc cảm về khuyết tật của mình. Xem 3 thông hành của gia đình chúng tôi và mẫu giấy “xin” nhập cảnh rất đơn giản (chỉ hỏi tên họ, số Passport và địa chỉ cư trú ở Anh) phát trên máy bay, cô ta hỏi với nụ cười: “Vào nước Anh để làm gì và ở bao lâu?” Cô ta còn chúc “du lịch vui vẻ”. Đối với tôi phi trường là bộ mặt của quốc gia, thái độ của nhân viên nhà nước ở phi trường khiến du khách có muốn trở lại nữa hay không? Cũng như nhà vệ sinh ở phi trường nói lên được nếp sống văn minh của dân nước đó tân tiến hay lạc hậu.

Sau khi lấy hành lý (hơi chậm nhưng không thất lạc món nào), ra cửa có rất nhiều hãng du lịch cầm bảng đón khách hàng của mình nhưng hãng Trafalgar tổ chức chuyến du lịch Scenic Europe chúng tôi tham gia thì không thấy ai ra đón. Trong lúc chúng tôi hoang mang chờ đợi người tới đón thì có một nhóm người Mỹ da màu cười nói vui vẻ đi ngang qua thấy chúng tôi cài trên ngực phù hiệu Trafalgar. Một bà trong nhóm 5 người đó nói rằng họ cũng đi theo Tour Trafalgar, bà cho biết là hãng xe Shuttle đưa chúng ta về khách sạn có tên là “Dot 2 Dot” quày của họ ở chỗ cho mướn xe, chúng ta nên tới đó. Có lẽ trước khi đi hãng Trafalgar có nói mà tôi không hiểu nên ra khỏi nơi nhận hành lý là cứ chờ người của Trafalgar tới đón! Qủa nhiên đi thêm một quãng ngắn là tới quày của các hãng cho mướn xe trong đó có hãng “Dot 2 Dot” hãng này có hợp đồng với các khách sạn mà Trafalgar đặt phòng, có nhiệm vụ đưa khách hàng của Trafalgar về khách sạn. Cô nhân viên “Dot 2 Dot” có sẵn danh sách của chúng tôi, sau khi chờ đợi thêm vài du khách nữa của Trafalgar lần lượt tới, cô đưa chúng tôi ra phía ngoài và lên một xe Mini Bus 20 chỗ ngồi. Tài xế là một anh chàng người Pakistan vui vẻ, anh ta đứng lên bảo chúng tôi nịt dây an toàn, chỉ 2 cửa thoát hiểm (có lẽ luật bắt buộc) và phát mỗi người một cuốn sổ (booklet) giới thiệu về London. Trong đó có bản đồ đường phố, xe điện ngầm, xe buýt, các trang quảng cáo và các phiếu giảm giá (coupon) của các nhà hàng ăn, quán rượu, các nơi giải trí. Tập quảng cáo này rất hữu ích, tôi dùng nó trong 2 ngày đêm ở London.

ĐƯỜNG VÀO LONDON

“Đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần buồn” nhưng đường vào London buồn hay vui tùy tâm trạng mỗi người. Cho dù mỗi sáng ở Cali đều nghe “tiếng nói từ Luân Đôn” qua đài BBC nhưng đây là lần đầu tôi đến London nên tâm trạng háo hức bồn chồn như sắp sửa gặp mặt ai đó trong cuộc hẹn hò. Tôi đã biết London qua sách vở, phim ảnh, truyền hình du lịch và những ngày trước khi lên đường tôi đã để thời giờ tìm hiểu thêm về London, không ngờ là một thành phố qúa lớn, có rất nhiều di tích lịch sử trải dài qua 2 thiên niên kỷ. Lịch sử London là lịch sử cả khối Âu Châu và nền văn minh Anh quốc là nền văn minh cả thế giới vì trong thế kỷ 19 “mặt trời không bao giờ lặn ở đế quốc Anh”. Anh quốc có thuộc địa trên khắp 5 châu của thế giới. Giờ Greenwich (một “quận” của London) được chọn là giờ quốc tế và kinh độ đi ngang qua đây được chọn là “Kinh độ 0” tức điểm mốc địa dư để rồi từ đó chia trái đất ra 360 kinh độ (180 kinh độ Đông và 180 kinh độ Tây bắt đầu từ kinh độ số 0 ở Greenwich). Như vậy London là tâm của địa cầu kể cả thời gian lẫn không gian. Cuộc đời giang hồ trôi nổi của tôi đã qua nhiều nơi nhưng hôm nay mới đến được trung tâm của thế giới hỏi không khỏi nôn nao sao được?

Từ phi trường Heathrow vào London đường dài 15 miles (24 km), sau khi quanh co trong vùng phi trường xe Van chúng tôi vào xa lộ. Xa lộ không thênh thang rộng lớn nhiều lane như Cali nhưng quang cảnh hai bên đồng cỏ, cây cối mơn mởn xanh tươi đầy mạch sống. Hôm nay ngày 2 tháng 5, miền Bắc Âu Châu như mới vào Xuân nên hoa nở khắp nơi, rực rỡ nhất là những cây đào, cây mận, mộc lan và dường như cỏ dại nào cũng đều nở hoa. Hầu hết cây cối ở đây đều khác với Cali và dù cho cùng loại như đào, mận, dáng dấp màu sắc hoa lá cũng khác với Cali, xanh tươi và rực rỡ có lẽ nơi đây nhiều mưa và sương mù vì Anh quốc là một hòn đảo.

Qua vùng ven đô xanh ngát ruộng đồng, xe chúng tôi vào vùng ngoại ô lưa thưa nhà cửa và những cao ốc chung cư. Có những cao ốc rất xưa tường xây gạch đỏ, trên nóc có những ống khói to thoát khói cho nhiều đơn vị gia cư ở phía dưới, bên cạnh tua tủa những ăng ten truyền hình. Khi vào đến thành phố nhà cửa vẫn mang nét cổ xưa, tường đá, mái ngói xanh rêu cổ kính êm đềm. Hôm nay là sáng thứ Sáu không biết dân chúng London có đi làm hay không mà đường sá vắng vẻ, khách bộ hành trên đường trong những áo khoát blouse sậm màu có vẻ thanh thản an nhàn. Dân London có vẻ chuộng màu đen nên ngoài y phục đen, xe cộ lưu thông cũng nhiều xe sơn đen, xe nhà nhiều kiểu giống xe xưa sơn đen và cả taxi cũng màu đen. Đặc biệt ở London có những xe buýt 2 tầng gọi là “double deck” thường không sơn đen mà sơn đỏ rất tươi. Vì là thành phố cổ, tuổi đời cả ngàn năm đường phố nhỏ hẹp, nhiều nơi vì dốc đồi đường lại quanh co nên xe di chuyển khá chậm chạp. Chiều lưu thông chạy bên trái ngồi trên xe nhiều lúc rất hồi hộp và nghĩ rằng dù có mướn xe ở London chắc chắn rằng mình không dám lái vì đến ngã tư không biết quẹo vào đường nào cho đúng! Ở những ngã tư có 2 làn vạch sơn trắng dành cho người đi bộ băng ngang qua đường, lại phải vẽ thêm hai chữ “Look Right” để nhắc nhở người đi bộ nhìn về hướng xe đang tới.

Anh chàng tài xế xe Van Shuttle người Pakistan nhỏ con rất vui vẻ, anh ta cầm micro nói luôn suốt buổi. Lúc nói về các khu phố đang đi qua, lúc nói về thời tiết. Anh ta cho biết tuần qua mưa dai dẳng suốt tuần, lưu thông rất chậm vì kẹt xe. Hôm nay trời có nắng nhưng buổi chiều có thể mưa lất phất trở lại. Tôi hỏi anh ta người nước nào, anh ta nói là cha mẹ người Pakistan nhưng anh sinh trưởng ở Nam Phi và ở London được 15 năm. Anh ta đưa những người cũng là khách du lịch hãng Trafalgar nhưng khác Tour với chúng tôi về các khách sạn trước (khác Tour nên khác khách sạn). Còn 3 người chúng tôi anh ta nói là đưa về sau cùng vì khách sạn ở giữa trung tâm khu Westminster, cuối tuyến đường của anh ta. Có những khách sạn ở những con đường rất hẹp chỉ vừa đủ cho 2 xe qua lại, nên khi một xe đậu trước khách sạn cho người xuống cũng như hành lý là các xe khác phải nối đuôi nhau chờ! Mỗi lần có người xuống là tôi phải xuống theo vì vợ tôi sợ họ lấy nhầm hành lý của mình nên “sai” tôi xuống đứng nhìn!

Cuối cùng sau một đoạn đường vất vả vì kẹt xe và ngừng lại nhiều nơi, chúng tôi về tới khách sạn của mình. Đó là khách sạn Park Plaza County Hall ở cạnh nhà ga Waterloo thuộc “quận” Lambeth. Khách sạn nằm phía Đông của tòa nhà County Hall, tòa nhà xưa này chắc không còn là County Hall nữa mà là các cửa hàng ăn uống, bán đồ lưu niệm cho du khách ngày đêm tấp nập vì gần cầu Westminster và vòng quay London Eye. London Eye (Con Mắt London) là một cái vòng quay lớn cạnh bờ sông Thames,  khi tôi mới đến tưởng là trò chơi Ride nhưng thật ra nó là “observation wheel”, du khách mua vé lên đó để ngắm cảnh London.

Đến khách sạn khoảng 10 giờ nhưng nhận phòng chưa được vì giờ Check-in là 2 giờ chiều. Vì trái giờ nên rất buồn ngủ (giờ này Cali đã 2 giờ sáng), trên máy bay bị nhồi vì Turbulance, ngồi xe từ phi trường về đây kẹt xe, thắng tới thắng lui nên mệt mõi, rã rời mong mau có phòng để tắm rữa, nghỉ ngơi. Nhân viên ở đây chắc là sinh viên làm thêm hay sao mà làm việc chậm chạp, lề mề (chắc phong thái Ăng lê mà tôi chưa quen) nhưng hứa là sẽ dọn phòng cho chúng tôi càng sớm nếu có thể vì thấy chúng tôi ai nấy đều mệt mõi. Khách sạn là một buyn đinh cao 14 tầng có 398 phòng thuộc loại 4 sao nhưng phòng lễ tân để khách chờ đợi rất nhỏ hẹp, khách hàng lại ra vào thường xuyên ồn ào chộn rộn. Chúng tôi rời phòng lễ tân lên tầng trên là nhà hàng ngồi nghỉ ở các sofa cho yên tịnh hơn, sau khi hành lý đã gởi tạm vào phòng chứa đồ. Trong lúc vợ tôi còn chóng mặt ngồi nghỉ chờ phòng tôi mang máy ảnh ra phía bờ sông Thames và cầu Westminster đi dạo một vòng quan sát xem gần khách sạn có những gi?

Cách khách sạn vài trăm mét là tòa nhà County Hall có 6 tầng lầu, được biết bắt đầu xây năm 1911 nhưng mãi đến năm 1922 mới hoàn tất và vua George V khánh thành. Được dùng làm trụ sở cho Greater London Council (hội đồng thành phố London) suốt 63 năm sau đó bán lại cho tư nhân và hiện nay dùng như một thương xá trong đó có nhà bảo tàng phim ảnh (The Movieum of London), hồ nuôi cá (Aquarium), các quán cà phê và nhà hàng, có nhà hàng Nhật và tiệm ăn Buffet Tàu giá 7 Đồng Bảng Anh (Pound Sterling) mỗi người, hôm sau chúng tôi ăn ở đây, thức ăn tương đương với Chinese Buffet dở nhất ở Cali nhưng đông du khách vào ăn vì 7 Pound một bữa ăn ở đây được xem là rất rẻ mặc dù tính theo hối xuất hiện nay là 14 USD!

Cạnh bờ sông về phía Bắc là vòng quay London Eye, tôi thấy người ta sắp một hàng dài ngoằn ngoèo chờ để lên xem. Vòng quay có chiều cao 443 feet (135m), di chuyển rất chậm đứng từ xa mình tưởng nó không quay. Du khách đứng trong lồng kính nhìn xuống thành phố. Mỗi chuyến lên ngắm cảnh mất nửa tiếng đồng hồ và giá vé cho người lớn là 15 Pound.

                               Bến du thuyền, vòng quay London Eye và tòa nhà County Hall

Dọc theo bờ sông Thames du khách đủ mọi quốc tịch tấp nập như trẩy hội và địa điểm này được xem là nơi đông du khách nhất của London. Tôi băng qua cầu Westminster để sang phía có tháp đồng hồ Big Ben. Bờ sông cạnh đầu cầu, đối diện với Big Ben là cầu tàu Westminster Pier, bến của những chuyến du thuyền chạy trên sông Thames. Ở đây quy tụ nhiều hàng quán, có quán bán Hot Dog, mùi thịt nướng thơm ngạt ngào với giá mỗi cái là 3 Pound nhưng không gọi là Hot Dog mà gọi là Sausage. Trời xanh nhưng thỉnh thoảng nhiều cụm mây đen bay đến rơi xuống lất phất những hạt mưa Xuân và gió trên sông thổi bần bật khá lạnh nhưng vẫn không làm du khách nản lòng, họ chụp hình, kêu réo, cười nói rộn rã vui tươi. Khi thấy hình ảnh tháp đồng hồ Big Ben nhiều người tưởng là London nhưng thật ra nơi đây không nằm trong Thành Phố Luân Đôn (City of London) mà là thuộc Thành Phố Westminster (City of Westminster), cả 2 đều là “Quận” (Boroughs) trong 32 “Quận” của Đại Đô Thị Luân Đôn (Greater London) có dân số năm 2006 là 7,355,400 người.

                                  Tác giả Trịnh Hảo Tâm trong khu Phố Tàu Soho London

Đến Westminster Luân Đôn lại nhớ về Westminster Cali nơi có Little Saigon. Westminster chính gốc Luân Đôn chỉ có Fish And Chips và Hot Dog trong khi Little Saigon thì đủ mọi món ngon vật lạ. Westminster Cali có Little Saigon trong khi London lại có Little Hanoi. Nói về Hà Nội là phải nói tới 36 phố phường và thịt chó Quảng Bá Hồ Tây. Không biết Little Hanoi ở London có những món ngon...ngày ấy hay không?

TRỊNH HẢO TÂM