Pages

Powered By Blogger

Thursday, March 28, 2013

CHUYỆN RẮN NĂM QÚY TỴ
Trịnh Hảo Tâm


Rồng ra đi thì rắn lại trở về, rồng và rắn là hai con vật duy nhất thuộc loại bò sát trong 12 con giáp, rồng là con vật huyền thoại chưa ai trông thấy bao giờ nhưng rắn là con vật có thật, trong đời ai cũng đã từng thấy qua và có nhiều người còn bị rắn cắn! Rồng theo hình vẽ có 4 chân nhưng không đi trên mặt đất mà lại bay luợn trên mây trong khi rắn thân mình trụi lũi không chân tay nhưng lại bò rất nhanh, đôi khi phóng từ cây này sang cây khác:

“Rắn không chân đi năm rừng bảy rú,
Gà không vú nuôi chín mười con…”
(Ca dao)

Nhân năm rắn trở về, ta thử tìm hiểu rắn là con vật như thế nào? Có phải là con vật ghê rợn xấu xa, thường tượng trưng cho điều ác hơn là điền thiện, đem tai ương nhiều hơn là may mắn nhưng tại sao hình ảnh “logo” tượng trưng cho ngành y khoa cứu người lại là con rắn quấn trên cây gậy? Người tuổi rắn như thế nào, ta có nên chọn bạn mà chơi, chọn người tình mà kết nghĩa trên đường đời, chọn người hùn hạp làm ăn là người tuổi rắn? Đó là những điểm mà chúng ta cần bàn bạc sau đây trong những ngày năm tàn tháng Tết sắp đến.

THÂN HÌNH RẮN

Rắn có thân hình dài, không chân là động vật bò sát ăn thịt sống nằm trong nhóm khoa học gọi tên chung là Serpentes. Che phủ thân hình rắn có vảy nằm xếp lớp lên nhau, lớp vảy này chuyển động giúp cho rắn bò trên mặt đất hay di chuyển trên cành cây. Lớp vảy này cứ vài tháng là bong ra khiến rắn lột da, có lớp vảy mới và thân hình nhờ đó mà tăng trưởng lớn thêm. Đầu rắn hình tam giác có xương sọ được cấu tạo bởi nhiều khớp nối với xương quay hàm co giản giúp cho rắn ngoạm và nuốt những con mồi to lớn hơn rắn nhiều lần. Thân mình rắn nhỏ nhưng rất dài và cũng có đầy đủ lục phủ ngũ tạng như những động vật khác, những cơ quan này được xếp nằm dọc theo thân mình rắn như bao tử, phổi, ruột, gan, lá lách. Nếu cơ quan là một cặp như thận thì một trái nằm phía trước và một trái nằm phía sau cách nhau khá xa.

Rắn sinh sống ở khắp mọi lục địa trên thế giới ngoại trừ Nam Cực (Antarctica) và một số đảo không có rắn như Ái Nhĩ Lan (Ireland), Băng Đảo (Iceland) và Tân Tây Lan (New Zealand). Rắn có mặt trên đất liền, ngoài sa mạc, dưới biển và cả trên núi cao như dãy Hy Mã Lạp Sơn (Himalaya) cao 16,000 ft (4,900m) cũng có rắn sinh sống. Rắn được chia làm 20 dòng họ với 500 nhóm và tổng cộng có 3,400 loại rắn khác nhau. Thân mình rắn nhỏ nhất khoảng 10 cm (loại Threadsnake sinh sống ở  các dảo Caribbean và Barbados) cho đến những loại trăn khổng lồ dài đến 8.7 mét (29 ft) sinh sống ở Ấn Độ. Người ta đã từng tìm thấy xương rắn hoá thạch dài đến 15 mét (49 ft) và những xương rắn theo giám định có số tuổi đến 112 triệu năm về trước nghĩa là rắn đã sinh sống trên địa cầu rất lâu trước cả nhân loại (loài người chỉ có mặt khoảng hai ba triệu năm mà thôi). Các nhà vạn vật học cho rằng rắn là hậu duệ của rắn mối, kỳ nhông, các loài vật này sinh sống trong những môi trường chật hẹp như hang ổ, hốc đá, chỉ trườn bò nên không cần đến chân và lâu dần chân biến dạng mất đi trở thành giống rắn.

ĐẶC TÍNH CỦA RẮN

Rắn có nhiều cá tính đặc biệt mà các loài vật khác không có như:

- Nọc độc: chỉ một số ít loại rắn có nọc độc như rắn hổ mang (cobras), rắn lục (vipers), rắn rung chuông (rattlesnakes). Rắn dùng nọc độc để làm tê liệt và giết chết con mồi. Nọc rắn giống như nước bọt nằm trong tuyến nọc ở miệng rắn, khi cắn mồi rắn dùng răng nanh dài nhọn ở hàm trên và nọc truyền theo răng nanh vào cơ thể con mồi. Nọc rắn còn có chức năng như chất dịch tụy giúp phân hủy những con mồi to lớn, xương xẩu thành mềm nhũng dễ tiêu. Ngay cả những loại rắn không nọc độc, vết bị cắn tế bào nơi đó cũng bị hư hại. Có những giống chim, giống thú và những loại rắn khác (như kingsnakes) đã từng ăn thịt những loại rắn độc cũng trở thành miễn nhiễm với nọc độc. Rắn độc cắn chúng không chết, chỉ bị thương và đau nhức nơi vết cắn. Nọc rắn là hợp chất của nhiều chất đạm (proteins), tùy theo loại rắn có thể chia ra làm 3 nhóm nọc độc: nọc làm hư hại thần kinh, nọc tấn công hệ thống tuần hoàn huyết, nọc làm tê liệt nhiều cơ quan của cơ thể khiến nạn nhân tử vong. Điều cần nhất khi bị rắn cắn là cột chặt đừng cho nọc độc truyền vào cơ thể và phải đưa ngay vào bệnh viện cấp cứu.

- Thức ăn của rắn: tất cả rắn đều ăn thịt sống, không ăn trái cây rau củ, rắn ăn những con vật nhỏ như chim chuột, cá tôm, ếch nhái, thằn lằn rắn mối, trứng chim, cua ốc, côn trùng và luôn cả đồng loại là những con rắn khác. Rắn không thể cắn hay xé thức ăn thành nhiều mảnh nhỏ mà chỉ duy nhất là nuốt trọng luôn con mồi. Miệng rắn rộng và cấu tạo xương hàm uyển chuyển nên rắn có thể nuốt những con mồi to lớn hơn thân mình rắn, như rắn thường có thể nuốt nguyên con gà, trăn lớn có thể xơi cả nai con. Sau khi nuốt con mồi xong là rắn ngủ để tiêu hóa con mồi và  rắn có thể nhịn suốt cả tháng mà không cần phải ăn gì. Mùa Đông giá lạnh rắn không ngủ giấc đông miên như những thú vật khác mà vẫn thức nhưng rắn hạn chế hoạt động, nằm yên nơi kín đáo như hang hốc, trong đống lá khô để chờ mùa Xuân trở lại.

- Những giác quan đặc biệt của rắn: Rắn tìm mồi bằng cách đánh hơi, với cái lưỡi dài chẻ đôi khi rắn bò chiếc lưỡi thè ra thụt vào liên tục, đó là lúc rắn dùng chiếc lưỡi để hứng lấy những bụi hạt mùi hơi bay trong không khí. Những hạt này được đưa qua bộ phận Jacobson’s organ ở miệng rắn để phân tích và rắn biết con mồi đó là loài vật gì và ở hướng nào, cách bao xa. Một giác quan đặc biệt khác của rắn là xác định con mồi ở đâu bằng hơi nóng do con mồi tỏa nhiệt, bộ phận cảm nhận này gọi là “Pit” tức là 2 lỗ sâu ở gần mũi rắn. Trong đêm thật tối đen không trăng sao, rắn “thấy” rõ con mồi bằng cơ quan cảm ứng nhiệt này.

- Rắn lột da: Một hoặc hai lần trong năm rắn lột da, da cũ đã bị mòn trầy, chai cứng vì phải cọ sát trên đất hàng ngày, lột da giúp rắn có lớp da và vãy mới đồng thời làm rắn sạch sẽ hơn vì loại bỏ được những ký sinh, bọ rận bám trên da rắn. Khi sắp sửa lột da, rắn không ăn và tìm nơi an toàn ẩn núp, khi lớp da mới đã thành hình, mặt trong lớp da cũ bong ra và hở phần đầu trước. Từ đó rắn bò tới, lớp da cũ sẽ tụt dần ra phía sau với nguyên một bộ da rơi ra. Sự lột da thường xuyên của rắn khiến rắn được xem là con vật trường sinh bất tử, thương tích tự động lành lặn, làm cho rắn trở thành con vật trường sinh biểu tượng cho y học.

- Khi sinh sản rắn đẻ trứng, đa số loại rắn sau khi đẻ trứng nơi an toàn, kín đáo đều bỏ trứng mà đi tuy nhiên có một vài giống như rắn hổ mang chúa (king cobra) làm ổ cẩn thận và ấp trứng bằng cách cuộn mình tròn cho tới khi trứng nở thành con. Vài loại rắn được xếp trong nhóm “ovoviviparous” vẫn giữ trứng trong bụng cho tới khi trứng gần nở thành con nên người ta lầm tưởng là loại rắn này đẻ con thay vì đẻ trứng.

RẮN ĐỐI VỚI CON NGƯỜI

Đối với nhân loại rắn tượng trưng cho gian ác, độc địa, xấu xa (khẩu Phật tâm xà, cõng rắn cắn gà nhà). Trong thánh kinh cựu ước bà Eva bị con rắn cám dỗ, xúi biểu bà ăn trái cấm sẽ đẹp và quyền năng như Chúa Trời. Chẳng những bà ăn còn đưa cho chồng là Adam ăn khiến Chúa đuổi hai ông bà ra khỏi vườn địa đàng. Từ đó con người phải làm lụng vất vả mới có mà ăn, chịu bệnh tật tai ương. Từ khai thiên lập địa rắn đã là con vật xấu xa mang lại những điều bất hạnh. Nhưng sao trong ngành y học người ta lại dùng hình ảnh rắn quấn quanh cây gậy làm biểu tượng cho ngành cứu nhân độ thế này?
Lý do là từ thời xa xưa trước công nguyên người Hy Lạp đã tạc tượng ông thày thuốc Asclepius với con rắn thần quấn tròn quanh cây gậy. Ông được tôn kính nhờ công lao giúp chữa trị nhiều bệnh nan y hiểm nghèo với sự trợ giúp của con rắn thần. Ngày nay hình ảnh con rắn quấn quanh cây gậy được xem là biểu tượng cho y khoa và hình ảnh con rắn nhả nọc trên cái chén cổ là biểu tượng cho ngành dược bào chế thuốc men.

Theo đông y thịt rắn được coi là một vị thuốc bổ có công dụng chữa trị những bệnh về thần kinh như đau nhức, tê liệt, kinh phong, bán thân bất toại. Cũng theo đông y máu rắn pha với rượu uống có tính hoạt huyết, trị được chứng nhức mỏi thấp khớp. Còn mật rắn có vị đắng hoà với rượu để trị đau lưng nhưng tính độc phải dùng liều thấp. Trong các tua du lịch Thái Lan thường du khách được đưa đến viếng trại nuôi rắn hổ mang, xem người ta biểu diễn màn tay không bắt rắn hổ mang chúa (king cobra) to lớn dài hơn 2 mét. Sau đó anh chàng dùng gậy chọc một bầy rắn khiến chúng tức giận ngóc cổ cao lên toan cắn nhưng anh ta nhanh nhẹn né tránh và dùng tay không chụp một con rắn. Một tay bóp mạnh vào cổ rắn khiến nó há miệng ra, tay kia cầm một chén nhỏ đưa vào nanh rắn lấy nọc độc. Theo trại rắn họ nuôi rắn để lấy nọc bán cho các dược phòng sản xuất thuốc vì nọc rắn có đặc tính làm loãng máu để cứu những người bị tai biến mạch máu não (stroke). Ngoài ra còn làm thuốc trị đau nhức và hiện nay được nghiên cứu để bào chế thuốc chống ung thư, những độc tố trong nọc rắn như cobratoxin của rắn hổ mang thí nghiệm với chuột làm tiêu tan hoàn toàn tế bào ung thư trong những ung bướu độc.

Ở Việt Nam rắn được ngâm rượu trong những lọ thủy tinh bán giá rất cao để trị nhiều chứng bịnh như phong thấp, đau xương, nhức cơ, tê liệt. Rượu rắn các viện bào chế dược phẩm vẫn thường sản xuất theo công thức sau: Rắn hổ mang, rắn cạp nong, rắn ráo mỗi thứ một con kết hợp với cẩu tích, hà thủ ô đỏ, ngũ gia bì, thiên niên kiện (mỗi thứ 80g), tiểu hồi, vỏ quýt (mỗi thứ 30g), kê huyết đằng (120g), đường phèn (660g), rượu 60 độ (3-4 lít), rượu 40 độ (10lít). Ngâm trong 100 ngày (rượu bách nhật) thì dùng được. Rượu rắn ngâm không đúng cách thường làm giảm dược tính. Mỗi ngày dùng 15-20ml trước khi đi ngủ.

Ở nông thôn rắn giúp nhà nông trong công tác diệt chuột phá hoại ruộng lúa mùa màng. Ở Ấn Độ có năm phát động chiến dịch tiêu diệt rắn vì rắn hay cắn chết người, người ta giết rắn gần hết thì liền trong năm sau đó chuột sinh sản rất nhiều, cắn hết lúa đang chín khiến nhà nông mất mùa lâm vào cảnh đói kém. Ở những nhà hàng quán nhậu đặc sản Việt Nam, sau khi uống máu rắn hòa với rượu mà dân nhậu truyền tụng là đại bổ “ông uống bà khen”, thịt rắn được chế biến nhiều món như rắn xào lăn, gỏi rắn, lẫu rắn v.v…mùi thơm vang lừng, bia khui như pháo Tết, cảnh ăn uống thật tưng bừng, hầu như ai cũng khoái thịt rắn vì ngon lạ miệng. Người ta ăn thịt rắn thì trái lại như để trả thù, rắn đôi khi cũng thịt luôn người, ở Ấn Độ có những con trăn to lớn đã từng nuốt nguyên người vào bụng!

RẮN TRONG VĂN HỌC SỬ VIỆT NAM

Trong văn học nước ta Nguyễn Trãi (1380–1442) là nhà thơ cũng là công thần của nhà Hậu Lê nhưng ông bị án tử hình cũng vì liên quan đến người tì thiếp mà người ta cho rằng vốn là con rắn đầu thai để trả thù ông. Nguyễn Trãi trước kia từng làm quan dưới triều nhà Hồ, sau khi Việt Nam bị nhà Minh (Trung Quốc) cai trị ông tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo như một nhà bày mưu tính kế. Đánh thắng quân Minh ông là công thần của nhà Hậu Lê nhưng sau đó năm 1442 gia đình ông bị tru di tam tộc trong vụ án Thị Lộ.

Đầu đuôi vụ án như sau: Vào năm Nhâm Tuất (1442), vua Lê Thái Tông đi tuần mìền Đông, duyệt quân ở thành Chí Linh, Hải Dương, nhân khi nhà vua ghé thăm chùa Côn Sơn, nơi Nguyễn Trãi ở, thấy nàng tì thiếp của ông là Nguyễn Thị Lộ, nhan sắc lộng lẫy, lại có tài văn chương nên nhà vua liền phong ngay cho chức Lễ Nghi Học Sĩ, ngày đêm hầu cạnh nhà vua. Khi đến Đông Tuần, xa giá vua Thái Tông đến vườn Lệ Chi, xã Đại Lai, huyện Gia Định, hiện nay là Gia Bình, thình lình nhà vua nhuốm bịnh sốt, Thi Lộ hầu hạ suốt đêm, rồi vua Lê Thái Tông mất lúc mới 20 tuổi trong khi Thị Lộ 40. Các quan hốt hoảng, vội vã bí mật phụng giá về kinh, nửa đêm mới làm lễ phát tang. Tất cả triều thần đều cho là Thị Lộ âm mưu giết vua, liền đem nàng giết chết. Lại có nhiều người trước đây đố kỵ việc Nguyễn Trãi được Lê Thái Tổ trọng dụng, đem lòng oán ghét, nhân cơ hội này vu cho ông là chủ mưu giết vua nên ông bị tử hình và tru di cả họ. Mãi tới 22 năm sau, vua Lê Thánh Tông mới xét lại vụ án, thấy nhiều điểm hàm hồ, oan ức cho vị khai quốc công thần, liền truyền hủy bỏ án trước, truy phục chức cho Nguyễn Trãi, con cháu ông được trọng dụng làm quan, cấp tư điền để lo việc tế tự hàng năm. Riêng nàng Thị Lộ, nhiều người bàn tán rằng: nàng là hóa thân của rắn hổ mang, có thù oán sâu nặng với cha của Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh vì trước kia khi khai hoang cất trường học ông này đã giết một bầy rắn. Rắn mẹ hoá thân thành Thị Lộ đã tìm cách trả thù dòng họ Nguyễn Trãi.

Trong văn chương Việt Nam có bài thơ của nhà bác học Lê Qúy Đôn để tự trách mình biếng học, trong mỗi câu đều có kể tên một loài rắn:

“Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà
Rắn đầu biếng học chẳng ai tha
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ
Nay thét mai gầm rát cổ cha
Ráo mép chỉ quen tuồng nói dối
Lằn lưng cam chịu tiếng roi tre
Từ rày Châu, Lỗ chăm nghề học
Kẻo hổ mang danh tiếng mẹ cha”
(Rắn đầu biếng học – Lê Qúy Đôn)

NGƯỜI TUỔI RẮN

Theo tử vi Đông phương người tuổi Tỵ (Rắn) số may mắn về tài chánh dư dã hơn mức cần thiết, có tài ngoại giao và nổi tiếng ở chốn đông người. Người tuổi Tỵ có cá tính mạnh mẽ, tự cao, không tin ai mà thường căn cứ vào bản thân để phán đoán và quyết định, khi gặp khó khăn họ giải quyết rất dễ dàng. Nghề thích hợp cho người tuổi Tỵ là: khoa học, xã hội, dinh dưỡng, họa sĩ, nắn tượng, kim hoàn. Người tuổi Tỵ hợp với các tuổi Sửu, Dậu và khắc với các tuổi Dần, Thân và Hợi.
Năm Qúy Tỵ sắp đến sẽ là năm tốt cho những bé gái sinh trong năm này và cũng sẽ là năm không xấu với tất cả mọi người, kinh tế sẽ phục hồi với thị trường địa ốc thăng tiến, các điểm nóng chiến tranh sẽ được giải quyết ôn hòa.

TRỊNH HẢO TÂM

Friday, December 14, 2012

KÝ SỰ DU LỊCH
RIVERSIDE, THÀNH PHỐ VEN SÔNG
Bài và ảnh: TRỊNH HẢO TÂM

Riverside như tên đã gọi nằm cạnh sông Santa Ana River là thành phố nằm trong nội địa lớn thứ 4 ở California sau Fresno, Sacramento và Bakersfield, cách Los Angeles khoảng 60 miles (97 km) về hướng Đông. Thành phố được thành lập vào đầu thập niên 1870 và là cái nôi của kỹ nghệ trồng cam ở California.

Những ngày đầu mới tới định cư ở miền Nam California giở bản đồ ra xem, tôi cứ ngỡ sông Santa Ana River lớn lắm, giống như sông ở Việt Nam nước chảy cuồn cuộn và thành phố ven sông Riverside tàu thuyền tấp nập, kẻ buôn người bán như ở…Cần Thơ. Khi mới có chiếc xe đầu tiên ở Mỹ là chiếc Ford Pinto số tay đời 1972, tôi liền đi Riverside để nhìn dòng sông quê người cho đỡ nhớ quê hương đã bỏ lại. Đến Riverside theo bản đồ tìm đến con sông Santa Ana làm tôi ngỡ ngàng thất vọng giống như tâm trạng hồi còn đi học qua mục tìm bạn bốn phương, hẹn với một “em”:

“Chưa gặp em tôi cứ nghĩ rằng:
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng
Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại
Âu yếm nhìn tôi không nói năng…”
(Mộng Dưới Hoa – thơ Đinh Hùng, Phạm Đình Chương phổ nhạc)

Khi gặp rồi thì…hoàn toàn chán “noản” không thể “tỏa”, sông Santa Ana chỉ là một lạch nước cạn nằm giữa vùng lau sậy đìu hiu! Tôi lái xe thơ thẩn đi vào thành phố Riverside, lạ một điều, trái với con sông thành phố này thật sự đã lôi cuốn tôi, nó có cái gì êm đềm cổ kính, lãng mạn trầm tư, đơn sơ quyến rũ lạ kỳ! Thành phố đầy cây xanh bóng mát với những khu phố cổ tường trắng ngói đỏ êm đềm của miền viễn Tây lịch sử  hào hùng thời tìm vàng, khai sơn phá thạch. Không như những thành phố tân thời với những cao ốc nhiều tầng, những thương xá nhộn nhịp, khu trung tâm “downtown” Riverside vẫn còn giữ được những kiến trúc xưa, những ngôi nhà cổ kính như khách sạn Mission Inn, rạp chiếu bóng Fox Theater, nhà bảo tàng Riverside Metropolitan Museum và những khu phố cổ ở đó những ngôi nhà xưa từ cuối thế kỷ 19 thời gian Riverside mới thành lập được bảo tồn cẩn thận.

                                                  Trung tâm Riverside êm đềm cổ kính

PHỐ CỔ RIVERSIDE

Rồi thời gian định cư xứ người trôi qua mau chóng, có những lần tôi tới Riverside vì công việc sở làm, thăm thân nhân bạn bè mới sang, đến vì việc gì thì xong việc đó lại lo trở về nhà chứ không có dịp la cà thăm chơi đây đó nơi thành phố này. Cho tới đầu năm nay tôi có dịp đến Riverside nhiều lần là vì thằng con út chọn đây làm nơi dừng bước giang hồ…với bạn gái của nó! Nó dừng chân là tốt rồi, có an cư mới lạc nghiệp, nó đi tìm nhà nhưng lại thích ở những vùng nhà cũ 5, 6 mươi năm nó cho rằng giá nhà rẻ, sườn gỗ tốt, vườn rộng, cây cối nhiều, mình không cần phải làm gì cả. Những lần tìm nhà với nó là những lần tôi có dịp đi sâu vào các khu vực dân cư, khám phá thành phố Riverside nhiều hơn và mới biết rằng Riverside có rất nhiều khu phố cổ mà thành phố đã liệt vào “Historic Districts” như các vùng: Mount Rubidoux, Colony Heights, North Hill, Heritage Square, Seventh Street...Khi đã liệt vào nhà lịch sử (historic landmark), nhà hư hao xuống cấp chủ nhân sửa chữa phải giữ y lối kiến trúc cũ, kể cả vật liệu phải dùng y như vật liệu lúc ban đầu, thí dụ như gỗ sồi (oak) không được thay bằng gỗ thông (pine) cho rẻ hơn, đá phải dùng đá thật chứ không được dùng đá giả. Phải tham khảo ý kiến với chính quyền trước khi sửa chữa nhưng được một điều nếu còn kinh phí, thành phố sẽ tài trợ cho 50% chi phí sửa chữa. Ngoài “Historic Districts” Riverside còn có những khu có tiềm năng trở thành khu lịch sử (Potential Historic District) và những khu bảo tồn (Neighborhood Conservation Areas) luật lệ sửa chữa tu bổ sẽ dễ dãi hơn.

Rồi cũng tìm được căn nhà vừa ý, đủ sức trả góp nhưng không trong vùng phố cổ lịch sử mà ở vùng Victoria phía Đông Nam thành phố gần sân “golf” có con đường Victoria hai bên là những hàng cây cọ (palm) hơn trăm tuổi cao ngất chạy qua những vườn cam mà mỗi cây trở thành cổ thụ. Qúy độc giả nào ở Riverside chắc biết con đường Victoria chạy song song  ở phía Đông với xa lộ 91 này, đó là con đường…tình ta đi, tôi cho là rất đẹp, một trong những con đường thơ mộng của Cali nắng ấm tình nồng.

VƯỜN CÂY ĐẠI HỌC UCR

Về phương diện giáo dục Riverside có trường đại học UCR (University of California Riverside) nổi tiếng nhiều ngành trong đó có ngành nông lâm nghiệp. Lần đến Riverside vừa rồi chúng tôi vào viếng qua trường đại học này nơi có rất nhiều sinh viên người Việt theo học và đi thăm Vườn Bách Thảo (Botanic Gardens) của trường nói trên. Đại học UCR nằm ở phía Đông xa lộ 215 (hay 60 vì đoạn này 2 xa lộ nhập làm một). Nếu dùng 215 ngả rẽ Exit ở đường Martin Luther King rồi theo bảng chỉ dẫn để đến vườn (vườn nằm ở bìa góc Đông Nam của khu Campus trên một sườn đồi). Nếu đi từ Little Saigon dùng xa lộ 91 East khi đến Riverside Exit đường 14 và đường 14 này trở thành đường Martin Luther King để đi vào khu đại học.

Vườn cây trong đại học UCR

Vườn cây rộng 40 mẫu Anh (16.2 hecta) trồng trên 3,500 loại cây mọc khắp nơi trên thế giới. Không có lệ phí vào cửa nhưng phải lấy vé đậu xe với lệ phí rất nhỏ không hơn 1 USD. Trong vườn cây có nhiều lối đi tráng nhựa dành cho người tàn tật, có những con đường mòn men theo khe suối hay vượt dốc trên sườn đồi. Những khu vực trồng cây được xếp theo từng giống loại như khu Alder Canyon trồng các loại hoa như azaleas (đỗ quyên), camellias (trà hoa nữ), hydrangeas và những loại ferns. Vườn hoa hồng với 300 giống loại, vườn hoa Iris với 150 loại, vườn dược thảo (herb) nhiều loại để làm thuốc hay gia vị nấu nướng, vườn cây ăn trái có cam, ổi, sapotes (một loại trái ngọt của Nam Mỹ), bơ (avocados) và vài loại trái cây nhiệt đới lạ tôi không biết tên. Khu trồng các loại xương rồng, những loại cây sa mạc không cần nước, rất nhiều giống loại cho hoa rất đẹp. Có khu quy tụ những loài bướm, khi chúng tôi đến đây bổng thấy bướm bay rất nhiều. Về thú hoang vườn là nơi sinh sống của 195 loại chim, nhiều loại động vật có vú như sóc (squirrels), chuột (kangaroo rats), chó sói (coyotes), mèo rừng và những loại chồn (gray foxes), thỏ rừng, chuột to (opossums, skunks) v.v…

Dạo trong vườn xem nhiều hoa thơm cỏ lạ cũng rất thú vị cho những người yêu thiên nhiên cây cối. Nên đến đây vào những ngày mùa Xuân nhiều hoa, mùa Thu mát mẻ.

KHÁCH SẠN CỔ MISSION INN

Rời vườn cây UCR chúng tôi lái xe về hướng Tây vào trung tâm thành phố Riverside để đến khách sạn cổ Mission Inn Hotel ở địa chỉ 3649 Mission Inn Ave. Riverside (góc đường Mission Inn và Orange St.). Tên khách sạn đặt cho đại lộ chính ở trung tâm thành phố đủ biết rằng đây không phải là khách sạn bình thường mà là kiến trúc cổ nổi tiếng về nét uy nghi cổ kính như một khu tu viện cổ Âu Châu. Khách sạn chiếm nguyên một vuông (block) đường với cửa chính vào nhìn về hướng Nam trên đại lộ Mission Inn và những kiến trúc phía sau là hội trường, nhà thờ, nhà hàng, nhà bảo tàng v.v…Mission Inn Hotel được xếp là cao ốc theo kiểu Mission Revival Style to lớn nhất ở Hoa Kỳ, đây là kiến trúc Tây Ban Nha cải cách theo kiểu các tu viện truyền giáo xây trên đất California thời kỳ người Tây Ban Nha sang Bắc Mỹ truyền giáo cho người da đỏ vào thế kỷ 18. Kiểu kiến trúc này gần giống như các tu viện truyền giáo ở San Juan Capistrano, Santa Barbara v.v…

Tiền diện khách sạn Mission Inn ở trung tâm Riverside

Theo lịch sử của khách sạn, đầu tiên chỉ là một nhà nghỉ nhỏ có tên là “Glenwood Hotel” xây vào năm 1876 bởi kỹ sư công chánh tên Christopher Columbus Miller. Đến năm 1902 con trai của ông Miller là Frank quyết định xây tòa khách sạn mới đặt tên là “Mission Inn”. Kế hoạch qúa lớn nên công việc xây cất không ngừng nghỉ trải qua nhiều thời kỳ với nhiều ngôi nhà thêm vào kết hợp nhiều kiểu kiến trúc Tây Ban Nha khác nhau cho đến khi ông Frank qua đời vào năm 1935 việc xây dựng vẫn còn dang dở. Với khu nhà này thêm vào khu kia, kết qủa là một quần thể phức tạp tập hợp những phòng khánh tiết, phòng ngủ, nhà hàng, những lối đi hun húc, những mái hiên ngoài trời, ngọn tháp theo kiểu lâu đài với đồng hồ thời trung cổ, mái vòm tròn cao bằng tòa nhà 5 tầng, những cột chống đỡ bên ngoài như phía sau nhà thờ Đức Bà ở Paris và có cả một cây cầu trên cao bắc ngang con đường để nối khách sạn với khu nhà phụ phía sau. Trải qua 30 năm xây cất, ông Frank Miller chu du khắp thế giới mua sắm mang về nhiều vật lạ mắt trưng bày trong nhà bảo tàng khách sạn (ở phía sau). Những món này ngày nay trở thành cổ vật trị gía hơn 5 triệu mỹ kim.

Sau khi ông Frank Miller qua đời năm 1935 khách sạn được con gái là Allis và con rể DeWitt Hutchings kế nghiệp và cũng qua đời vào năm 1952 và 1953 sau đó khách sạn đổi chủ nhiều lần. Năm 1985 công ty Carley Capital Groupe mua lại với giá 55 triệu USD và đóng cửa tu sửa tân trang rất nhiều vì khách sạn xuống cấp trầm trọng. Cuối năm 1988 khách sạn mở cửa lại hoạt động với tên Omni Mission Inn. Cuối năm 1992 bán lại cho Duane R. Roberts một thương gia địa phương Riverside, ông ta yêu khách sạn cổ này nên mua và sửa sang một thơì gian ngắn trước khi mở cửa trở lại.

Hậu diện khách sạn Mission Inn xây từ 1902

Sau hơn 135 năm hoạt động, khách sạn cổ này đã là nơi Richard Nixon và Pat làm đám cưới ở một trong 2 nhà thờ nhỏ trong khách sạn là nhà thờ St. Francis có bàn thờ bằng gỗ Cedar và cẩn vàng lá cùng với 4 cửa kính màu rất đẹp. Ronald Regan và Nancy trải qua tuần trăng mật cũng tại nơi đây và 8 Tổng Thống Hoa Kỳ đã đến viếng khách sạn trong đó có Theodore Roosevelt, John Kennedy, Gerald Ford, George W. Bush kể cả nhà bác học Albert Einstein còn các đại gia, tài tử, minh tinh thì rất nhiều.

Hiện nay giá phòng khoảng 150 USD một đêm với bữa ăn sáng và thư giãn trong Spa. Hôm nay chúng tôi ghé thăm khách sạn đang sắp tới mùa lễ Tạ Ơn, khách sạn trang hoàng với hoa cúc mùa Thu và những trái bí đỏ. Sau Lễ Tạ Ơn bắt đầu mùa lễ Giáng Sinh theo truyền thống hàng năm mỗi đêm khách sạn sẽ thắp sáng hàng ngàn đèn màu rực rỡ lung linh huyền ão rất đẹp.

NHÀ BẢO TÀNG RIVERSIDE METROPOLITAN MUSEUM

Ngang bên kia đường là Tòa Thị Chính Riverside cũng là một ngôi nhà cổ và cạnh đó là nhà Bảo Tàng Thành Phố Riverside Metropolitan Museum ở số 3580 Mission Inn Ave..  Chúng tôi vào xem chơi cho biết có gì bên trong? Miễn lệ phí vào cửa nhưng đề nghị tặng góp 5 USD và không ai hỏi han gì chỉ có một bà chắc là tình nguyện viên đứng bên trong quày giải đáp thắc mắc và bán đồ kỷ niệm. Giờ mở cửa từ Thứ Ba đến Chủ Nhật từ 9 AM đến 5 PM (đóng cửa ngày Thứ Hai và các ngày lễ lớn).

Nhà bảo tàng thành phố Riverside Metropolitan Museum

Nhà bảo tàng thuộc quyền quản lý của thành phố ngoài ngôi nhà này còn 2 kiến trúc khác là ngôi nhà cổ Di Sản Quốc Gia ở số 8193 đường Magnolia (mở cửa 3 ngày cuối tuần từ 12 PM đến 3:30 PM) và ngôi nhà của người Nhật tên là Harada cũng là Di Sản Lịch Sử cấp Quốc Gia. Nhà Bảo Tàng Thành Phố là nơi nghiên cứu, sưu tầm, trưng bày, giải thích về văn hóa và lịch sử địa lý thiên nhiên vùng đất Riverside. Nhà bảo tàng tri ơn và hoan nghênh mọi đóng góp để ngày càng phát triển hơn. Qua những gian trưng bày nơi đây, tuy không lớn nhưng cũng rất hấp dẫn gây thích thú cho những ai có lòng hoài cổ muốn biết những gì đã xảy ra tại địa phương này. Nơi đây mấy ngàn năm trước người da đỏ sinh sống, du khách nhìn lại những căn lều, dụng cụ nấu ăn bằng gốm, vũ khí săn thú bằng đá, quần áo da thú và gần nhất là dệt đan thổ cẩm. Món cổ vật đầu tiên nhà bảo tàng mua là chiếc rổ rá đám cưới của bộ lạc Navajo với giá $6 vào năm 1900 ở tiệm của ông Fred Harvey. Kế đến là vũ khí như gươm đao, súng ống, quân phục dùng trong 2 trận thế chiến và câu chuyện của chú quân khuyển Rin Tin Tin của điện ảnh Hollywood. Về động vật sinh sống trong thiên nhiên người ta đã thực hiện những con thú giống như thật tất cả những sinh vật sống ở vùng Nam California này, không thiếu thứ gì từ côn trùng ong bướm cho đến những con gấu đen, chó sói, beo, sư tử núi v.v…Nhà bảo tàng này trước kia là trụ sở bưu điện thành phố.

Riverside còn nhiều nơi để xem nữa như nhà Bảo Tàng Nghệ Thuật ở số 3425 cùng đường, rạp chiếu bóng xưa Fox Theater cách 1 vuông đường hướng Tây, Bảo Tàng Nhiếp Ảnh California ở số 3824 Main St. v.v…Hẹn một dịp khác sẽ trở lại. Về cộng đồng người Việt sinh sống tại đây cũng rất đông ước lượng khoảng trên 5,000 người với nhiều chợ, nhà hàng, tiệm phở tập trung trên đường Magnolia và Arlington Ave. phía Nam thành phố. Riverside chỉ cách Little Saigon khoảng 45 miles, lái xe theo Google mất khoảng 51 phút nhưng giá nhà rẻ hơn gần một nửa và đất rộng nên nhà người Việt nào cũng trồng nhiều cây ăn trái. Vườn cây người Việt trồng thường là những loại trái cây nhiệt đới như xoài, bưởi, chuối, hồng, thanh long, ổi, táo tàu, nhản v.v…đến mùa chín rộ ăn không hết phải cho nhà thờ, chùa, bạn bè. Mùa hồng chín nếu mua họ bán cả cây cứ trèo lên mà hái! Cây không phải nhỏ, tàng rộng lớn như cổ thụ, giá bán chỉ vài mươi đồng!

TRỊNH HẢO TÂM
Độc giả có thể xem đoạn video clip ngắn của tác giả về Mission Inn Hotel, xin nhấn vào (hoặc Copy và Paste) link dưới đây:
http://www.youtube.com/watch?v=pQUBnuXeQ1c

Friday, December 7, 2012

KÝ SỰ DU LỊCH
SANTA MONICA, PHỐ BIỂN THANH LỊCH
Bài và ảnh: TRỊNH HẢO TÂM

Cách trung tâm thành phố Los Angeles 14 miles (23 km) về hướng Tây, Santa Monica là thành phố biển nhộn nhịp nhất miền Nam California. Ngày xưa nơi đây là chốn nghỉ mát, hẹn hò của tài tử minh tinh điện ảnh Hollywood, ngày nay là địa điểm du lịch với bờ biển nước xanh cát trắng, trên phố là những cửa hàng sang trọng, dưới bến nhà hàng thanh lịch nơi lui tới của những người nổi tiếng.

                                      Vòng đu quay Ferris Wheel cạnh cầu tàu Santa Monica

Lâu lắm rồi tôi không có trở lại bờ biển Santa Monica mặc dù đêm nào tin thời tiết của đài truyền hình ABC số 7 cũng thường lấy bối cảnh phía sau là cầu tàu Santa Monica với chiếc vòng đu quay rực rỡ đèn màu. Bạn bè phương xa từ Úc qua,  đòi xem cho được con đường tình Hollywood để mong thấy tận mặt những minh tinh tài tử màn bạc, để bước lên những ngôi sao đồng khắc tên những thần tượng mến mộ. Nể tình bạn ở xa nửa vòng trái đất tận miệt dưới của Nam bán cầu, tôi phải lái xe lên tận vùng Los Angeles xe cộ như mắc cửi để bạn thăm kinh đô điện ảnh Hồ Ly Vọng cho thỏa chí tang bồng hồ thỉ, thú đam mê ao ước bấy lâu nay!

Xong màn du ngoạn Hồ Ly Vọng thì “tà tà bóng ngả về Tây”, thay vì “chị em thơ thẩn dang tay ra về”, sẵn đường tôi xuống hướng Nam cho xe vào xa lộ liên bang 10 để đi Santa Monica miền biển xanh cát trắng có chiếc cầu tàu rất nhộn nhịp. Xe về hướng Tây tới lãnh địa Santa Monica cũng là lúc xa lộ 10 kết thúc, sợ đến qúa gần bờ biển xe cộ đông đảo khó khăn nên tôi tìm ngã rẽ ra sớm. Cuối tuần tìm bãi đậu xe ở gần cầu tàu là cả một vấn đề, sau khi chạy lòng vòng một hồi chúng tôi tìm thấy một buyn đinh đậu xe của thành phố ở góc Đông Nam của ngã tư Arizona Ave. và 4th St. cạnh ngân hàng Wells Fargo. Tưởng rằng sẽ phải trả tiền nhưng lúc lấy xe ra thì lại được miễn phí. Tuy khi đem xe vào buyn đinh cũng hơi khó vì lối đi hẹp và mình phải lấy tấm cạt điện tử lúc mới vào cổng, khi trở ra cửa, bỏ tấm cạt vào máy sẽ biết phải trả bao nhiêu tiền, nhưng hôm nay không biết lý do gì mà lại được miễn phí? Chắc là thời gian đậu dưới 2 tiếng đồng hồ, thành phố không tính tiền? Phải đậu xe trên nóc buyn đinh vì các tầng phía dưới không còn một chỗ trống, chúng tôi lấy thang máy để ra khỏi nhà đậu xe và ra đường Arizona rồi đi về hướng Tây Nam tức là phía biển. Đến đây gặp con đường bộ hành số 3 tức Third Street Promenade.

PHỐ ĐI BỘ THIRD STREET PROMENADE

Third Street Promenade kéo dài trên 3 vuông (blocks) đường, từ đường Wilshire Blvd. cho đến đường Broadway. Đoạn này chỉ dành cho người đi bộ với các hàng quán, tượng đồng, băng đá ở giữa lòng đường. Phố đi bộ rất đông vui và lũ lượt du khách tài tử giai nhân lên xuống như đi trẫy hội, hai bên đường là nhà hàng, quán cà phê, ba rượu lại có thêm 2 rạp chiếu phim AMC 7 và AMC 4 với tổng cộng 11 màn ảnh bên trong. Phố xá thanh lịch với hai hàng cây cọ, những chậu hoa treo và giữa đường là những nghệ sĩ hè phố với nhiều bộ môn cầm kỳ thi họa, ảo thuật, hóa trang thành tượng đồng, rô bô người máy. Các hiệu buôn ở đây thấy có cửa hàng nội y phụ nữ Victoria’s Secret, Banana Republic, Apple, Abercrombie & Flich, Anthropologie, Gap, Lewi’s v.v…Phố đi bộ hoa lá râm mát như công viên, du khách vừa tảng bộ vừa thưởng thức những điệu nhạc hòa tấu bập bùng của những sắc dân hải đảo vùng Caribbean.

Third Street Promenade đi về hướng Tây qua khỏi con đường Broadway là đi thẳng vào thương xá sang trọng cao cấp Santa Monica Place Shopping Center với nhiều tầng lầu có các cửa hàng mua sắm nổi tiếng như Sears, Tumi, Barneys New York, Magical Blooms. Nơi đây cũng có buyn đinh đậu xe nhưng chắc là phải trả tiền hoặc là xuất trình hóa đơn mua hàng thì sẽ được miễn lệ phí. Chúng tôi ra ngoài thương xá và theo đường Colorado đi về hướng biển.

                                                Con đường đi bộ 3rd Street Promenade

CẦU TÀU SANTA MONICA PIER

Con đường Colorado Ave. sẽ dẫn xuống cầu tàu, trước khi tới cầu tàu chúng tôi đi ngang qua hồ nuôi cá Santa Monica Aquarium và những quán ăn, nhà hàng. Sau đó đến một công viên giải trí nhỏ tên Pacific Park có vòng đu quay Ferris Wheel cao nghệu bằng tòa nhà 9 tầng và trò chơi “ride” xe chạy trên cao qua những vòng cua ngoằn ngoèo, cao thấp. Trong khu này có nhiều quán ăn, cửa hàng kỷ niệm. Trên cầu tàu du khách tới lui nhộn nhịp, ăn uống, mua sắm, chụp hình, có nhiều họa sĩ ngồi vẽ chân dung cho du khách với giá vài chục, nhiều nghệ sĩ hè phố ngồi đánh đàn hát dân ca đồng quê Hoa Kỳ hay thổi kèn saxo những điệu nhạc buồn da diết áo nảo.

                                               Hàng quán dọc theo bờ biển cạnh cầu tàu

Cầu tàu khá dài và cuối là một quán thức ăn nhanh hamburger, hot dog. Người ta câu cá cũng khá đông nhưng hôm nay sóng to nên cá không mấy ăn mồi. Nước biển trong xanh nhìn thấy đá tảng rong rêu dưới đáy, nhìn lại trong bờ bãi cát trắng chạy dài với hàng ngàn người phơi nắng hay đùa nghịch cùng những đợt sóng. Phía Bắc là rặng núi Santa Monica cao ngất nằm sát biển chạy qua các thành phố Beverly Hills, Malibu, Oxnard. Phía Nam đảo Santa Catalina với những dãy núi hiện rõ nơi chân trời.

Lịch sử chiếc cầu tàu phải ngược dòng thời gian vào đầu thế kỷ 20 thành phố Santa Monica đương đầu với vấn nạn là phải làm sao tìm nơi phế thải nước cống rảnh. Cuối cùng quyết định xây một chiếc cầu dài 1,600 ft để đặt bên dưới cầu một đường ống nước thải đã được sát trùng đổ ra biển ở phía ngoài xa. Trước kia những trụ cầu đều bằng gỗ nên chịu đựng sóng gió không bao lâu và đây là lần đầu tiên ở miền Tây Hoa Kỳ trụ cầu được đúc bằng bê tông. Ngày 9 Tháng 9 năm 1909 (người Mỹ chắc cũng tin dị đoan nên chọn ngày toàn số 9) cầu tàu được khánh thành với hàng ngàn người tham dự có sự hiện diện của chiến hạm USS Albany ghé thăm. Những năm sau đó cầu tàu được dân chúng ưa chuộng dùng làm nơi câu cá và hóng gió. Thấy du khách kéo đến ngày càng đông, ông Charles Looff bèn xây khu giải trí với các trò chơi đu quay vào năm 1916. Nổi tiếng nhất là trò chơi ride Looff Hippodrome vĩ đại với những chiếc xe điện chạy trên giàn gỗ ở trên cao, kế tiếp là Blue Streak Racer roller coaster và xây thêm gian nhà chơi Bowling và Billiards. Hàng ngày cầu tàu tấp nập du khách và có ban nhạc sống chơi thường xuyên để chào mừng du khách. Thời ấy những tàu chiến thường hay ghé thăm cầu tàu, năm 1919 hai chiến hạm USS Texas và USS Prairie ghé cầu tàu, có thị trưởng Samuel Berkley ra đón mừng với rất đông dân chúng, bất ngờ cầu tàu kêu răng rắc và sụp xuống 2 ft khiến đám đông một phen hú vía, hóa ra trụ bê tông cầu vẫn bị nước mặn làm rỉ sét. Cầu tàu mất 2 năm để sửa chữa và các trụ cầu được thay trở lại bằng gỗ đã được chống mục bằng cách ngâm dầu. Sàn mặt cầu bằng xi măng cũng được thay bằng gỗ.

Ngày 23 Tháng 7 năm 1924 khánh thành một vũ trường lớn có tên là La Monica Ballroom ngay cạnh khu trò chơi “ride” nhưng sau đó bị cuộc đại suy thoái toàn cầu khiến vũ trường ế khách và khu giải trí cũng đành đóng cửa theo. Khoảng giữa thập niên 1930 vũ trường biến thành trung tâm hội họp (convention center) và trụ sở của toán cứu cấp dưới biển, có lúc trở thành khám đường của thành phố. Những năm kế tiếp cầu tàu trở thành bến đậu của những người chơi thuyền buồm (yacht) và xây thêm một dãy cầu ở phía ngoài tạo cầu tàu thành chữ T. Trong thời Đệ Nhị Thế Chiến hải quân kiểm soát toàn bộ các hải cảng lớn ở miền Tây và buộc các thuyền đánh cá phải dời về neo đậu tại cầu tàu Santa Monica. Chiến tranh kết thúc nhà tài phiệt ngân hàng Walter Newcomb mua lại khu giải trí và mở cửa lại các trò chơi vào năm 1947. Năm sau ông ta chết và vợ ông tiếp tục điều hành khu giải trí đến năm 1973 sang lại cho công ty khác. Năm 1983 cầu tàu bị bão tố làm hư hại nhiều và công tác xây lại toàn bộ cầu tàu mới bắt đầu năm 1987 và hoàn tất năm 1990 tức cầu tàu hiện nay. Vật liệu hoàn toàn bằng bê tông cốt thép đã được kỹ thuật hiện đại cải tiến tốt hơn rất nhiều so với trước kia. Ngoài ra mục đích tiên khởi để xây dựng cầu tàu là dẫn đường ống nước cống ra biển may thay đã chấm dứt từ những năm 1920.

                                      Cầu tàu Santa Monica hiện nay được xây lại năm 1990

Trong lịch sử của cầu tàu Santa Monica cũng có nhiều chi tiết khá lạ như có lần người ta muốn xây một hòn đảo nhân tạo ngoài biển để thiết lập thêm một công viên giải trí trên đó và nối dài cầu tàu để ra công viên giải trí nói trên. Một lần khác vào thập niên 1960 Bộ Giao Thông tiểu bang California có dự án biến cầu tàu thành một đoạn của con đường Santa Monica – Malibu “Causeway” xây trên biển bằng những chiếc cầu bắc qua những hòn đảo nhân tạo nhằm giảm lượng lưu thông trên đường Pasific Coast Highway. Một chuyện khác xảy ra vào năm 1938 thời gian đó những con tàu sòng bài rất thịnh hành vì luật lệ Cali chỉ cấm cờ bạc trên đất liền còn sòng bài trên tàu thì luật không đề cập đến nên coi như hợp pháp. Ông Tony “The Hat” Cornero chủ nhân con tàu Casino SS Rex neo ngoài biển chỉ cách bờ 3 dặm và đòi biến cầu tàu thành bến thuyền taxi để chuyên chở khách ra đánh bài. Chính quyền thành phố bác bỏ đòi hỏi này, chánh án Earl Warren ngăn chận việc đậu tàu phạm luật của Cornero và ra lệnh cho ông ta phải dời tàu ra xa hơn vài miles. Ông ta không tuân lệnh, khi nhân viên công lực dùng thuyền ra bắt Cornero thì bị thủy thủ tàu Casino dùng vòi rồng xịt nước cản trở. Sau 8 ngày dằng co với chính quyền cuối cùng Cornero phải đầu hàng và để vớt vát ông tuyên bố rằng: “Chấm dứt đối đầu vì cần phải đi hớt tóc”!

NHỮNG NƠI NÊN THĂM THÚ Ở SANTA MONICA

Ngoài bờ biển thơ mộng với công viên cây cối xanh tươi trên bờ, những địa điểm du lịch ở Santa Monica rất gần nhau có thể đi bộ đến dễ dàng. Thêm vào đó hệ thống xe buýt Big Blue Bus của thành phố hoạt động trên nhiều tuyến đường không những phục vụ trong phạm vi thành phố mà còn nối sang các vùng lận cận như Brentwood, Westwood, Venice Beach khiến Santa Monica là một trong những nơi ở Los Angeles người ta không cần phải lái xe riêng. Đến Santa Monica du khách được phòng chỉ dẫn du lịch mách nên viếng những nơi sau:

- Bergamot Station Art Center ở số 2525 Michigan Ave. , điện thoại 310-453-7535 mở cửa từ Thứ Hai đến Thứ Bảy từ 9 AM đến 5 PM. Vào cửa tự do. Có tất cả 30 phòng tranh kể cả Nhà Bảo Tàng Nghệ Thuật Santa Monica.

- Angels Attic Museum ở số 516 Colorado Ave. , điện thoại 310-394-8331mở cửa chỉ từ Thứ Năm đến Thứ Bảy từ 12 PM đến 4 PM, chuyên sưu tầm và trưng bày búp bê và đồ chơi từ cổ xưa cho đến hiện đại. Không có bãi đậu xe riêng phải đậu xe ngoài đường có cột thu tiền, nhà bảo tàng có thu lệ phí 5$ trẻ con và 8$ người lớn.

- Công Viên Đánh Cờ (Chess Park) ở phía trên cầu tàu. Du khách theo dõi người địa phương thi tài cao thấp trong các ván cờ Tây.

- Montana Ave. ở phía Tây Bắc thành phố, con phố thanh lịch quy tụ những tiệm hàng hóa và nhà hàng, quán rượu mà giới nghệ sĩ, thượng lưu, tài phiệt thường lui tới.

- Main Street, con phố nhỏ tập trung dân chơi lướt sóng và nhào lộn xe đạp, chỉ cách 2 blocks từ bờ biển với nhiều tiệm cà phê, quán rượu dành cho giới trẻ, híp py.

- Twilight Dance Series (trên Cầu Tàu), mỗi chiều Thứ Năm trong mùa Hè bắt đầu lúc 7:30 PM là những buổi hòa nhạc miễn phí bắt đầu tổ chức từ năm 1983 từ nhạc đồng quê cho đến Rock. Rất đông người tham dự và không có ghế ngồi, du khách phải mang theo ghế xếp và đến sớm giữ chỗ.

Cho đến nay Santa Monica là thành phố có bờ biển hấp dẫn du khách đến chơi tấp nập nhất vùng Los Angeles. Ngày xưa trên bờ biển có một quán chuyên bán cua hấp con to màu đỏ thắm rất đông khách, tôi có đến một lần vào năm 1979 và nghe nói khi còn sống mỗi lần ghé Los Angeles cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đều yêu cầu được đưa tới đây. Nay tôi đến tìm lại, hàng quán qúa nhiều tìm chưa thấy quán cua ngày trước không biết còn không?

Đến Santa Monica khi giã từ du khách nào cũng luyến tiếc cảnh bờ biển thơ mộng, không khí đông vui trên cầu tàu và những cửa hàng thanh lịch trên những con phố hoa lá xanh tươi.

TRỊNH HẢO TÂM
  
Độc giả có thể xem đoạn video clip ngắn của tác giả về Santa Monica, xin nhấn vào (hoặc Copy và Paste) link dưới đây:
http://www.youtube.com/watch?v=LCh_goi47Lo

Wednesday, October 17, 2012

KÝ SỰ DU LỊCH
DU NGOẠN TRÊN SÔNG DANUBE Ở BUDAPEST
Bài và ảnh: TRỊNH HẢO TÂM

Sông Danube chảy ngang thành phố Budapest

Sông Danube dài 2,850 km là con sông huyết mạch và lớn thứ nhì ở Âu Châu chỉ sau sông Volga ở Nga. Khi nhắc đến dòng sông Danube thơ mộng, người ta thường nghĩ đó là tài sản riêng của nước Áo vì bản nhạc nổi tiếng theo điệu valse “Dòng Sông Xanh” (“The Blue Danube”) là sáng tác của nhà soạn nhạc tài hoa người Áo Johann Strauss II. Thật ra sông Danube bắt nguồn từ nước Đức chảy qua 9 quốc gia khác nữa là  Áo, Slovakia, Hungary, Croatia, Serbia, Bulgaria, Romania, Moldova và Ukraine, cuối cùng đổ ra Hắc Hải. Du ngoạn trên sông Danube là tiết mục tôi cho là quan trọng nhất trong chuyến đi Đông Âu kỳ này vì từ lâu bản nhạc “Dòng Sông Xanh” thôi thúc tôi phải tìm tới cho được dòng sông Danube và nhạc sĩ Phạm Duy qua nhạc phẩm “Bên Cầu Biên Giới” cũng đã mơ ước rằng:
“Ôi giấc mơ qua,
Mộng đời phiêu lãng giang hồ:
Sống trong lòng người đẹp Tô Châu
Hay là chết bên dòng sông Danube.”
Mơ ước của nhạc sĩ, một cách nôm na ngắn gọn là: “Nếu sống là phải sống với người đẹp đất Tô Châu bên Tàu và nếu có chết thì phải chết trên dòng sông Danube!” Con gái Tô Châu rất đẹp và có giọng nói thanh tao, ngọt ngào. Người Trung Hoa có câu “Thà là nghe con gái Tô Châu chưỡi lộn còn hơn nghe người Ninh Ba ca hát!”. Tôi đã đến Tô Châu nhưng “sống trong lòng người đẹp Tô Châu” thì không dám vì mình không biết tiếng Tàu mà sống với gái Tô Châu, ngôn ngữ bất đồng, chắc phải nghe “ngộ tả nị” suốt ngày! Còn chết bên dòng sông Danube, tôi lại cũng không muốn! Có chết về chết ở Bolsa, ngày ngày nằm trong Peak Family còn nghe tiếng Việt mến yêu. Khi buồn nằm trong mộ...réo tên người thì có người còn hiểu và hy vọng có người hỏi thăm:
Trời cuối thu rồi - Em ở đâu?
Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?
Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy,
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu.
(Gửi Người Dưới Mộ - Đinh Hùng)


Xe buýt đưa đoàn du lịch Đức chúng tôi chạy cập theo bờ sông lên hướng Bắc để đến bến du thuyền gần cầu và đảo Margeret (tên của một công chúa Hung). Cuối tháng Chín đã hết những tháng hè nên số du thuyền trên sông cũng đã giảm vì ít du khách. Trong mùa cao điểm suốt bờ sông bên thành phố Pest, du thuyền đông đảo neo đậu nơi những cầu tàu dọc theo bờ sông từ cầu Liberty Bridge gần chợ Budapest lên đến đảo Margeret (chỉ trừ đoạn bờ sông từ Cầu Dây Xích tới Cầu Margeret là không có bến du thuyền vì bảo vệ cảnh quan hoành tráng trước tòa nhà Quốc Hội). Có những du thuyền rất dài chở được hàng ngàn du khách, có nhà hàng ca nhạc, khiêu vũ trên đó. Vé du ngoạn với bữa ăn tối Buffet khoảng 5,000 Forints (25 USD) và không ăn tối là 2,200 Forints (11 USD). Du thuyền có ca nhạc và ăn tối chỉ hoạt động mỗi đêm (từ 7:30 đến 9:30) trong tháng hè (từ 8 tháng Năm cho đến 10 tháng Chín) và giãm xuống 3 đêm cuối tuần trong tháng Tư, tháng Chín và tháng Mười. Hôm nay chúng tôi du ngoạn trên sông vào ban ngày nên không có ăn tối cũng như giải khát nên vé là 11 USD. Chúng tôi đã đóng tiền và đặt vé trước, chuyến du ngoạn sẽ khởi hành lúc 3 giờ, kéo dài một tiếng đồng hồ.


Chúng tôi tuần tự theo nhau xuống cầu tàu, phải bước qua một tàu khác mới đến tàu của mình đậu phía ngoài. Ngoài hầm máy phía dưới, tầng giữa tàu là nhà hàng và phía trên sân thượng là phòng lái. Chúng tôi lên boong tàu trước phòng lái, nơi đây có hàng chục chiếc ghế nhựa sắp sẵn để du khách ngồi. Tàu không lớn, trọng tải chừng vài chục tấn và chỉ chỡ đoàn chúng tôi là 23 người. Vừa lên tàu là nghe âm thanh bản nhạc “Dòng Sông Xanh” dìu dặt phát ra từ những chiếc loa. Sau vài hồi còi theo luật lệ, thủy thủ tháo dây cột với tàu bên cạnh và tài công rồ máy để tàu rời bến. Sông Danube rất rộng, tàu chúng tôi đi cũng chỉ như một lá tre trôi giữa dòng. Tàu chạy đường cung để quay mũi lại về hướng Nam, chui qua cầu Margeret. Cầu Margaret cũng như cầu Chữ Y ở Sài Gòn: 2 nhánh bắc qua sông Danube và nhánh còn lại bắc qua đảo Margeret. Đảo Margeret nằm ở giữa sông thuộc vùng phía Bắc của Budapest, ngày xưa là vùng hoang vu để mùa hè hoàng gia đi săn bắn vịt trời, chim chóc, rái cá. Hiện nay đã xây dựng thành vườn hoa Nhật Bản, có dinh thự, tượng đài, khách sạn suối nước nóng, ban đêm có nhạc nước và muốn vào xem phải mua vé. Đảo lấy tên công chúa Margeret, nghe đâu công chúa này lý do gì đó mà bị hoàng gia bắt an trí tại đảo này cho tới khi qua đời!


Buổi chiều mùa thu nắng vàng nhàn nhạt, cây cối bên bờ sông cũng bắt đầu chuyển sang màu lá vàng, từng cơn gió lạnh mơn man trên mặt sông khiến tôi liên tưởng đến bản “Nắng Chiều” của Lư Trọng Nguyễn: “Qua bến nước xưa, lá hoa về chiều, lạnh lùng...mềm đưa trong nắng lưa thưa”. “Dòng Sông Xanh” nhưng nước sông hôm nay không xanh mấy mà hơi đục vì bị ô nhiễm nhưng dòng nước trôi êm ả, lặng lờ và gió thổi khiến mặt sông xôn xao, lung linh phản chiếu ánh nắng vàng như những ánh hào quang.

Toà nhà Quốc Hội Hung Gia Lợi

Tòa nhà Quốc Hội Parliament Building ở bên bờ Đông của sông đón nhận ánh nắng chiều từ hướng Tây rọi vào một màu vàng chói trông thật hoành tráng rực rỡ. Kế đến bên bờ Tây bên phải, Thành Những Người Đánh Cá (Fishermen’s Bastion) và ngôi nhà thờ cổ Matthias uy nghi, diễm lệ nằm trên ngọn đồi cao vươn những tháp nhọn lên trên bầu trời chiều. Thuyền lướt nhẹ dưới gầm của Cầu Dây Xích, mỗi trụ chân cầu chôn xuống nước là những khối đá chạm trổ nhiều hình tượng đầu người rất lạ mắt mà xe chạy bên trên không thấy được, chỉ có ngồi thuyền dưới sông mới thấy những bức tượng này. Kế đến du thuyền đi ngang qua Hoàng Thành Buda uy nghi ngạo nghễ nằm trên đồi, Sau đó đến cầu Elisabeth rộng lớn với 6 lanes xe lưu thông bên trên và 2 chân trụ cầu không cắm xuống sông mà lại chôn xuống đất ở trên bờ. Kế đến du thuyền qua đồi Gellért, trên đỉnh tượng Nữ Thần Tự Do tư thế nhẹ nhàng của vũ công ballet nâng cao cành lá cọ trên ngọn đồi xanh tươi nhiều cây cối. Du thuyền bắt đầu quay mũi trở về trước khi đến chân cầu Liberty. Trên đường về du thuyền nhẹ nhàng lướt ngược sóng, trời càng về chiều gió càng thắm lạnh và thuyền qua những con phố thương mại bên khu Pest, nơi đây có những cao ốc, công viên, khách sạn, những bến du thuyền.
Sông Danube chảy ngang qua nhiều thành phố nhưng không nơi nào sông Danube đẹp và lãng mạn như ở Budapest. Có lẽ vì nơi đây sông đã đổi khúc không còn chảy xiết theo hướng Tây Đông mà trở nên êm ả lặng lờ xuôi theo Bắc Nam. Budapest là một thành phố cổ, nét đẹp đài các như một vương phi và lại càng lộng lẫy, kiêu sa hơn nữa với dòng chuỗi hạt kim cương Danube lóng lánh trên cổ trắng ngần giữa đôi bờ vai cân đối. Ngoài vẻ đẹp, sông Danube và các phụ lưu của nó còn rất cần thiết cho đời sống người dân Hungary. Chúng là nguồn nước cho dân chúng dùng cũng như tiêu tưới mùa màng và nuôi gia súc. Ngoài ra trước đây, khi các hệ thống giao thông như đường xá, đường sắt và đường hàng không chưa phát triển, sông Danube là trục thủy lộ thương mại chính, là nơi vận chuyển hàng hoá xuất và nhập khẩu không những cho Hungary mà còn cho nhiều nước khác ở châu Âu. Hiện nay sông Danube vẫn được sử dụng để chuyên chở đồ nặng như sắt, xi-măng, gỗ v.v...
Sông Danube là nguồn cung cấp nhiều thủy sản như các loại cá nước ngọt trong đó nổi tiếng là cá tầm, con rất to, dùng làm thức ăn và lấy trứng làm trứng cá muối, tức caviar. Ai cũng biết caviar ở Romania là một trong những loại caviar ngon nhất thế giới hiện nay. Tại vùng châu thổ sông Danube, có hàng triệu chim di trú vào mùa Đông hoặc ghé qua trên đường thiên di hàng năm. Có khoảng 300 loại chim tới đây thường xuyên. Vào cuối mùa Xuân cho tới tháng 10, vùng châu thổ sông Danube là nơi tập trung khoảng 2 ngàn cặp chim bồ nông, loại thủy cầm có cái túi dưới mỏ dài để đựng thức ăn.
Năm 1856, nguyên thủ các cường quốc Âu châu ký một thoả ước về sông Danube, theo đó sông Danube là con đường thuỷ tự do dành cho tàu bè tất cả các nước. Họ cũng thành lập một Ủy ban Quốc tế nhằm quy định việc đi lại trên sông, giải quyết những vụ xung đột cũng như giữ cho giòng nước được trong sạch. Năm 1948, sau thế chiến thứ hai, uỷ ban này được thay thế bằng Ủy ban Sông Danube, trụ sở đặt tại thủ đô Budespest của Hungary. Thành viên của ủy ban là tất cả các nước có sông Danube chảy qua, ngoại trừ Đức. Một dịch vụ phát thanh đặc biệt được thành lập để cung cấp bản tin hàng ngày về mực nước sông Danube, giúp các thuyền trưởng điều khiển con tàu của mình dễ dàng hơn. Vì sông Danube đã trở thành dòng sông quốc tế nên bản tin đó được phát bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Sông Danube đã được cơ quan Văn Hóa Liên Hiệp Quốc là tổ chức UNESCO đưa lên danh sách Di Sản Văn Hóa Thế Giới cần được quan tâm bảo vệ.
Tiếc thay với sự phát triển kỹ nghệ, những năm gần đây, sông Danube đã rơi vào tình trạng bị ô nhiễm trầm trọng. Trong hai năm 1999 và 2000, sông Danube có hàm lượng xyanua (cyanide) cao, sau khi một mỏ vàng ở Romania vô ý làm đổ một khối lượng lớn xyanua, một hợp chất hoá học rất độc, xuống sông. Ba quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất là Romania, Hungary và Nam Tư. Sau tai nạn này, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) còn phát hiện là sông Danube có một số hoá chất nguy hiểm khác. Các quốc gia sở hữu dòng Danube đang làm hết sức mình để con sông nổi tiếng này trong xanh trở lại, không chỉ vì mục đích phát triển du lịch mà còn vì bảo vệ môi trường sống của chính mình.

Du khách Việt trên du thuyền

Trời đã về chiều, ánh nắng mặt trời sắp tắt le lói ở phía Tây, trả lại dòng sông êm đềm với nét lặng lờ cố hữu. Du thuyền đã trở về bến cũ, trên bờ Budapest đã bắt đầu lên đèn và trong khoang tàu âm thanh theo tiết tấuValse của bản nhạc “The Blue Danube” vẫn dìu dặt mênh mang như sóng vỗ mạn thuyền. Nhạc không lời nhưng âm vang như tiếng ai hát theo lời chuyển dịch của Phạm Duy:

“Một dòng xanh xanh, một dòng tràn mông mênh
Một dòng nồng ý biếc, một dòng sầu mấy kiếp
Một dòng trời xao xuyến, một dòng tình thương mến
Một dòng còn quyến luyến, một dòng nhớ
Quay về miền đời lúc mơ huyền...”

TRỊNH HẢO TÂM   

Sunday, October 14, 2012




KÝ SỰ DU LỊCH
FISHERMEN’S BASTION
THÀNH CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐÁNH CÁ Ở BUDAPEST
Bài và ảnh: TRỊNH HẢO TÂM

Một trong những kiến trúc đẹp nổi tiếng của Budapest là Fishermen’s Bastion tức Thành Của Những Người Đánh Cá nằm trên đồi Castle Hill bên hữu ngạn sông Danube. Sở dĩ nó được gọi tên như vậy là vì thời Trung Cổ vào thế kỷ 17 nơi đây có một pháo đài với những bức tường thành và một chợ cá lớn tọa lạc ngay bên cạnh nhà thờ Matthias và những người đánh cá buôn bán ở đây có nhiệm vụ bảo vệ khu vực đó. Di tích của tường thành còn sót lại cho đến cuối thế kỷ 19 vẫn còn.

Nhà thờ Matthias và Thành Những Ngư Dân

Rời đại giáo đường St. Stephen ở trung tâm thành phố, xe chúng tôi hướng ra phiá bờ sông Danube và vượt qua cây cầu đẹp nhất bắc ngang dòng sông êm đềm này. Cây cầu có tên là Cầu Dây Xích (Chain Bridge) là cây cầu đầu tiên được xây ngang sông nối đôi bờ của hai khu Buda và Pest mà trước đây chỉ có những bến đò hay cầu nồi tạm bằng những con thuyền ghép lại với nhau. Đây là cây cầu treo bằng dây cáp cong được chống đỡ bởi hai trụ chôn dưới lòng sông. Hai trụ này có kiến trúc như hai khải hoàn môn mà xe cộ lưu thông xuyên qua phiá dưới. Cầu được xây từ năm 1839 và kéo dài đến 10 năm mới hoàn tất, là công trình tuyệt tác của kiến trúc sư người Anh William Thierney Clark, một thời nổi tiếng là hiện đại nhất Âu Châu vào thế kỷ 19 và hiện tại vẫn là một hình ảnh tiêu biểu của thủ đô Budapest. Cầu có số tuổi gần 2 thế kỷ, thời đó phương tiện giao thông là những chiếc xe ngựa nên chiều ngang cầu không rộng mà chỉ có 2 làn lưu thông tức mỗi chiều một lane. Mỗi đầu cầu có hai tượng sư tử nằm chầu trong rất oai phong lẫm liệt. Từ đầu cầu bên bờ Pest người ta nhìn thấy bờ bên kia là thành lũy Buda hoành tráng, ngạo nghễ tọa lạc trên đồi cao, phiá dưới là 4 tầng cao độ với những đền đài và cây cối xanh tươi bao phủ.

Cầu tuy già nhưng sức chưa yếu vì thường xuyên được trùng tu định kỳ nên vẫn cho xe buýt lớn lưu thông. Sau khi qua cầu xe chúng tôi rẽ phải lên hướng Bắc và nhìn thấy những ngọn tháp trắng nhọn của thắng tích Fishermen’s Bastion hiện ra trên ngọn đồi. Những ngọn tháp này có hình thức cùng kiểu như những ngọn tháp của khu giải trí Disneyland gần khu Little Sài Gòn. Disneyland đã mô phỏng kiểu dáng của các tháp Fishermen’s Bastion để thiết kế những tháp của mình. Có tất cả 7 ngọn tháp tượng trưng cho 7 bộ lạc thuộc sắc dân Magyar đã đến đất Hung tức vùng bình nguyên Carpathian khai phá từ cuối thế kỷ thứ 9 (khoảng năm 896).

Sông Danube chảy ngang thành phố Budapest

Xe đậu vào con đường vòng cung lớn dưới chân đồi và đoàn du lịch đa số là người Đức của chúng tôi theo sau bà hướng dẫn viên Maria, bước hàng trăm bậc thang uốn khúc để lên đồi. Tuy leo dốc nhưng không cảm thấy mệt vì vài chục bậc thang lại có mặt bằng rộng để du khách dừng chân ngắm cảnh nhìn về phía bên kia bờ sông là khu Pest trung tâm của thành phố Budapest. Cứ mỗi nơi dừng chân là có nhiều cảnh đẹp để thu vào ống kính nhưng càng lên cao thì cảnh lại càng đẹp hơn vì phía dưới bao la hùng vĩ có sông, núi, lâu đài, cây cối và thành phố nhà cửa chạy dài xa tít tận chân trời. Ở một vị trí tôi cho là cao vừa đủ, tôi đã chụp Budapest nhiều khoảng cách khác nhau, cảnh sông Danube ghe thuyền xuôi ngược với những cây cầu kiểu dáng khác nhau. Cảnh tòa nhà Quốc Hội (Parliament Building) có kiến trúc hoành tráng và hết sức chi tiết cầu kỳ của hàng chục ngọn tháp vươn lên trời xanh. Du khách ở đây rất đông và cũng giống như tôi họ bị cuốn hút vì cảnh đẹp. Họ đưa máy ảnh nhắm và bấm liên tục, có những máy ảnh nhà nghề dùng phim, có những máy kỹ thuật số (digital) gọn nhỏ, máy quay phim cũng hoạt động không ngừng.

Toà nhà Quốc Hội Hung

Sân chính của Fishermen’s Bastion rất rộng lát đá bằng phẳng và vẫn còn đang được mở rộng và trùng tu. Kiến trúc Thành Của Những Người Đánh Cá là những cầu thang uốn khúc, khoảng sân thượng ngắm cảnh, những dãy hiên trống vách có hành lang chạy dài và những hàng cột tròn để du khách dạo bước mà không bị nắng mưa. Có những đoạn hành lang biến thành nhà hàng ăn với những bàn ăn phủ khăn trắng nhằm tăng thu nhập dùng vào việc điều hành thắng cảnh. Những lầu các (pavilions), tháp cao ở Fishermen’s Bastion có kiểu kiến trúc Tân Gothic và Tân La Mã được thiết kế bởi ông Frigyes Schulek và được xây dựng trong khoảng thời gian từ 1895 đến 1902 cùng thời gian với việc xây dựng lại nhà thờ Matthias tọa lạc gần đó. Trong một khoảng sân trống giữa thành và nhà thờ Matthias là tượng vua Stephen Đệ Nhất (có công thành lập nước Hung vào năm 1000) bằng đồng có màu xanh ngồi trên ngựa được dựng lên trên một bệ đá cao vào năm 1906. Du lịch Âu Châu người ta thường thấy những tượng cũng như các mái nhà thờ, dinh thự có màu xanh mà không biết làm bằng vật liệu gì? Sau khi tìm hiểu được biết các tượng hay mái nhà làm bằng đồng và ở ngoài trời lâu ngày đóng một lớp ten rỉ màu xanh. Lớp ten này không bị rỉ sét và màu xanh luôn luôn tươi sáng không cần phải tu bổ hay sơn phết lại.Tượng Nữ Thần Tự Do ở New York cũng được mạ bên ngoài bằng một lớp đồng nên cũng có màu xanh.

Khoảng sân dưới chân tượng vua Stephen Đệ Nhất luôn luôn có đông đảo du khách chụp hình, ngồi nghỉ hay ăn kem vì gần đó có con phố với những cửa hàng bán đồ lưu niệm. Nơi đây là phía sau của ngọn đồi Castle Hill dốc thoai thoải có đường cho xe hơi chạy lên trong khi phía trước nhìn ra bờ sông dốc đứng chỉ có những cầu thang uốn khúc dành cho người đi bộ. Những cầu thang này hợp với 7 ngọn tháp và các lầu các tạo thành tiền diện nguy nga hoành tráng cho khung cảnh Thành Của Những Người Đánh Cá. Ngày nay ở đây không còn thấy một người bán cá nào có chăng là lúc vào tôi gặp 4 ông nghệ sĩ hè phố với đàn Tây Ban Cầm, vĩ cầm, phong cầm hoà tấu các bản nhạc như Back To Sorriento (Về Mái Nhà Xưa) và The Blue Danube (Dòng Sông Xanh). Bốn ông này chắc người gốc Thổ Nhĩ Kỳ hay Tây Ban Nha gì đó mà rất giống người Mễ Tây Cơ ở California?

Cách khoảng sân rộng nơi phía Tây là nhà thờ cổ Matthias, tên gọi chính thức của nhà thờ là Nhà Thờ Đức Bà (Church of Our Lady) nhưng dân chúng thuờng gọi là nhà thờ Matthias vì do vua Matthias Corvinus ra lệnh xây thêm ngọn tháp cao vào ngôi nhà thờ cổ xây từ thế kỷ 13. Matthias Corvinus là một vị vua anh hùng chinh phạt cả một vùng Trung Âu rộng lớn và đã từng chiến thắng quân Ottoman. Ông thuộc dòng Vlach cai trị xứ Hung từ năm 1458 đến năm 1490 (chân dung của ông được in trên tiền giấy mệnh giá 1,000 Forint).  Dưới triều đại của ông, Hung là một đế quốc hùng mạnh, năm 1469 ông cũng đồng thời là vua của nước Bohemia cai trị các vùng Moravia, Silesia và Lusatia. Đến năm 1486 ông cũng là vua xứ Áo, danh tiếng lừng lẫy nhưng 4 năm sau ông lại băng hà. Ông có một bà vợ người Ý và bà này yêu thích nghệ thuật cho xây nhiều dinh thự với các kiến trúc sư, nghệ sĩ được tuyển dụng từ Ý và Pháp. Sau khi ông qua đời, đế quốc hùng mạnh của ông cũng tàn lụi, đến năm 1521 thành phố Belgrade ở phía Nam thất thủ trước sự tấn công của quân Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ). Năm 1526 quân đội Hung bị đánh tan ở trận Mohács và năm 1541 quân Thổ chiếm Buda. Sau đó nước Hung bị chia làm 3 mảnh: phía Tây dòng họ Habsburg nước Áo cai trị, miền Trung quân Thổ chiếm và phía Đông độc lập lấy tên là Transylvania. Năm 1686 triều đình Habsburg đánh đuổi quân Thổ ra khỏi Buda và cai trị nước Hung cho đến Đệ Nhất Thế Chiến.

Năm 1541 trong thời kỳ nước Hung bị quân Ottoman chiếm đóng kéo dài hơn 150 năm, nhà thờ Matthias bị biến thành đền thờ Hồi giáo. Cuối thế kỷ 19 nhà thờ được xây lại gần đúng với kiểu nguyên thủy từ thế kỷ 13 theo kiến trúc Tân Gothic dưới sự chỉ huy của kiến trúc sư Frigyes Schulek vào năm 1896. Vua Matthias Corvinus từng cữ hành hôn lễ tại đây 2 lần (vì hoàng hậu đầu tiên chết). Nhà thờ còn là nơi  từng tổ chức lễ đăng quang của 3 vị vua trong đó có Charles IV là vua cuối cùng của triều đại Habsburg vào năm 1916. Hiện nay nhà thờ trở thành nhà bảo tàng bên trong có chứa xác ướp khô của những vị vua (như vua Béla III và hoàng hậu được chôn trong nhà thờ), những bức điêu khắc đá thời Trung Cổ cũng như các vương miện, long bào, cây can vương quyền và các món vàng ngọc trang sức cho các vua chúa trong lễ đăng quang.

Nhà thờ Matthias được xây trên ngọn đồi cao nhất trong dãy đồi Castle Hill cách hoàng thành Buda ở về phía Nam không đầy 1 cây số. Cửa chính của nhà thờ không quay ra phía bờ sông Danube mà quay về hướng Tây là hướng tòa thánh La Mã. Thành của Những Người Đánh Cá và Nhà Thờ Matthias được công nhận là Di Sản Văn Hóa Thế Giới vào năm 1988.

Cũng trên dãy đồi Castle Hill về hướng Nam là Hoàng Cung (Royal Palace) là một công trình kiến trúc đồ sộ và hoành tráng nhìn ra bờ sông Danube. Hoàng Cung là những dãy dinh thự liên tiếp nối nhau cao 3, 4 tầng lầu và chính giữa là một tháp đồng màu xanh hình bán cầu được xây vào cuối triều đại Habsburg khoảng cuối thế kỷ 19. Công trình này được thiết kế theo kiểu Tân Baroque bởi hai kiến trúc sư Miklós Ybl và Alajos Hauszmann. Tại nơi đây vào thế kỷ 13 cũng là Hoàng Cung và thành Buda nhưng sau đó vào năm 1241 và 1242 bị quân Mông Cổ sang tàn phá và thiêu rụi tất cả gây ra bịnh dịch hạch và nạn đói. Cuối cùng quân Mông Cổ cũng không dám ở lại phải rút binh về. Cuối thế kỷ 19, triều đình Habsburg cho xây lại Hoàng Thành mới khi đào móng còn phát hiện dấu vết của kinh thành Buda cũ vào thế kỷ 13. Tuy triều đình Habsburg cho xây hoàng cung Buda nhưng họ không ở đây mà đóng đô ở Vienna (Áo quốc), các ông hoàng chỉ dừng lại đây nghỉ ngơi mỗi khi kinh lý và thị sát Buda. Hoàng cung xây xong không bao lâu thì bị phá hủy bởi máy bay Anh, Mỹ trong Đệ Nhị Thế Chiến vì lúc đó Hung đứng về phía Đức. Sau chiến tranh khoảng những năm 1950 Hoàng Cung Buda được xây lại một lần nữa với dáng dấp như ngày nay mà chúng ta nhìn thấy.
Cầu Dây Xích bắc ngang sông Danube phía sau là Hoàng Cung

Từ bên phía thành phố thương mại Pest nhìn qua bên kia sông Danube gần Cầu Dây Xích, Thành của Dân Đánh Cá với những tháp nhọn phiá sau là ngọn giáo đường cổ Matthias và cạnh đó ngạo nghễ trên đỉnh đồi nhìn xuống dòng sông là Hoàng Cung nguy nga hoành tráng soi bóng trên mặt nước là bức tranh vô cùng linh động và ngoạn mục. Các kiến trúc trên là một trong những hình ảnh đẹp nhất của thủ đô Budapest khiến thành phố này trở thành “Paris của Đông Âu”, “Viên ngọc của dòng sông Danube” hàng năm thu hút hàng triệu du khách viếng thăm, là thành phố thu hút đông đảo du khách nhất Đông Âu hiện nay.

TRỊNH HẢO TÂM